Khỉ mũ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Khỉ thầy tu
Capuchin Costa Rica.jpg
Khỉ thầy tu đầu trắng (Cebus capucinus)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Primates
Họ (familia) Cebidae
Phân họ (subfamilia) Cebinae
Bonaparte, 1831
Phân loài
Khỉ thầy tu đầu trắng (Cebus albifrons)
Khỉ thầy tu chần (Sapajus apella)

Khỉ thầy tu (pron:. / k º p j ʊ tʃ ɪ n / hoặc / k º p j ʊ ʃ ɪ n /) là một loài khỉ Tân Thế ​​giới thuộc phân họ Cebinae. Trước năm 2011, phân họ này chỉ có duy nhất chi Cebus. Tuy nhiên, trong năm 2011 nó đã được đề xuất để phân chia khỉ thầy tu thành chi Cebus và Sapajus. Phạm vi phân bố của chúng bao gồm Trung Mỹ và khu vực phía Nam của Nam Mỹ và Bắc Argentina.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên của chúng xuất phát từ một nhóm các tu sĩ Giáo Hội Công giáo, thuộc nhánh của dòng Phanxicô, những người mặc áo choàng nâu có mũ trùm kín đầu. Khi các nhà thám hiểm tới châu Mỹ vào thế kỷ 15, họ đã nhìn thấy chúng giống như những tu sĩ Công giáo, vì thế đã đặt tên cho chúng là khỉ thầy tu. Tên khoa học của chi Cebus xuất phát từ kêbos trong tiếng Hy Lạp [1] có nghĩa là một con khỉ đuôi dài.

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

Việc phân loài của chi này vẫn còn gây nhiều tranh cãi, và việc phân loại mới được đề xuất.[2][3][4][5] Năm 2011, Jessica Lynch Alfaro và các cộng sự đã đề xuất loài khỉ thầy tu lớn (trước đây là loài Cebus apella) được đặt trong một chi riêng biệt, Sapajus, còn khỉ thầy tu mảnh dẻ (trước đây là nhóm Cebus capucinus) giữ nguyên trong chi Cebus.[6][7] Và cách phân loại này được sử dụng phổ biến.[8]

Theo các nghiên cứu di truyền do Lynch Alfaro nghiên cứu vào năm 2011, khỉ thầy tu mảnh dẻ có nguồn gốc tách ra khoảng 6,2 triệu năm trước đây. Lynch Alfaro nghi ngờ rằng việc này chính là bởi sông Amazon, mà tách khỏi những con khỉ trong rừng Amazon để phát triển thành loài khỉ thầy tu mảnh dẻ phát triển ở phía Bắc của rừng, từ những loài khỉ trong rừng Đại Tây Dương ở phía nam của dòng sông để phát triển thành những con khỉ thầy tu lớn. Khỉ thầy tu mảnh dẻ có chân dài hơn so với loài khỉ thầy tu lớn, ngoài ra là hộp sọ tròn, trong khi con khỉ thầy tu lớn lại có hàm thích nghi tốt hơn cho việc ăn các loại hạt cứng. Đặc điểm nổi bật là chỏm lông ở đầu và bộ râu của những con đực.[6][7]

* Loài mới được phát hiện lại.[10]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Fragaszy et al. (2004). The complete capuchin: the biology of the genus Cebus. Cambridge University Press. tr. 5. ISBN 978-0-521-66116-4. OCLC 55875701. 
  2. ^ Amaral, P. J. S, Finotelo, L. F. M., De Oliveira, E. H. C, Pissinatti, A., Nagamachi, C. Y., & Pieczarka, J. C. (2008).Phylogenetic studies of the genus Cebus (Cebidae-Primates) using chromosome painting and G-banding. BMC Evol Biol. 2008; 8: 169.
  3. ^ Rylands, A. B., Kierulff, M. C. M., & Mittermeier, R. A. (2005). Notes on the taxonomy and distributions of the tufted capuchin monkeys (Cebus, Cebidae) of South America. Lundiana 6 (supp.): 97-110
  4. ^ Silva Jr., J. de S. (2001). Especiação nos macacos-prego e caiararas, gênero Cebus Erxleben, 1777 (Primates, Cebidae). PhD thesis, Rio de Janeiro, Universidade Federal do Rio de Janeiro.
  5. ^ IUCN 2008. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. Accessed 23 November 2008
  6. ^ a ă Lynch Alfaro, J.W. et al (2011). “Explosive Pleistocene range expansion leads to widespread Amazonian sympatry between robust and gracile capuchin monkeys”. Journal of Biogeography. doi:10.1111/j.1365-2699.2011.02609.x. 
  7. ^ a ă â Lynch Alfaro, J.W.; Silva, j. & Rylands, A.B. (2012). “How Different Are Robust and Gracile Capuchin Monkeys? An Argument for the Use of Sapajus and Cebus. American Journal of Primatology: 1–14. doi:10.1002/ajp.222007. 
  8. ^ Garber, P.A., Gomes, D.F. & Bicca-Marquez, J.C. (2011). “Experimental Field Study of Problem-Solving Using Tools in Free-Ranging Capuchins (Sapajus nigritus, formerly Cebus nigritus)”. American Journal of Primatology 73: 1–15. PMID 21538454. 
  9. ^ Groves, Colin (16 tháng 11 2005). Trong Wilson D. E. và Reeder D. M. (chủ biên). Mammal Species of the World . Nhà xuất bản Đại học Johns Hopkins. tr. 136–138. ISBN 0-801-88221-4. 
  10. ^ de Oliveira, M. M. & Langguth, A. (2006). “Rediscovery of Marcgrave’s capuchin monkey and designation of a neotype for Simia flavia Schreber, 1774 (Primates, Cebidae)” (PDF). Boletim do Museu Nacional: Nova Série: Zoologia (523): 1–16.  See also: Mendes Pontes, A. R., Malta, A. & Asfora, P. H. (2006). “A new species of capuchin monkey, genus Cebus Erxleben (Cebidae, Primates): found at the very brink of extinction in the Pernambuco Endemism Centre” (PDF). Zootaxa (1200): 1–12. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]