Khabarovsk (vùng)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Vùng Khabarovsk
Хабаровский край (tiếng Nga)
—  Krai  —

Cờ

Phù hiệu
Bài hát: None
Tọa độ: 54°48′B 136°50′Đ / 54,8°B 136,833°Đ / 54.800; 136.833Tọa độ: 54°48′B 136°50′Đ / 54,8°B 136,833°Đ / 54.800; 136.833
Địa vị chính trị
Quốc gia Liên bang Nga
Vùng liên bang Viễn Đông[1]
Vùng kinh tế Viễn Đông[2]
Thành lập 20 tháng 10, 1938
Trung tâm hành chính Khabarovsk
Chính quyền (tại thời điểm tháng 8 năm 2010)
 - 
 - Cơ quan lập pháp [3]
Thống kê
Diện tích (theo điều tra năm 2002)[4]
 - Tổng cộng 788.600 km2 (304.480,2 sq mi)
Thứ tự toàn Nga 4
Dân số (điều tra 2010)[5]
 - Tổng cộng 1.343.869
 - Hạng 34
 - Mật độ[6] 1,7 /km2 (4,4 /sq mi)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
 - Đô thị 81,8%
 - Nông thôn 18,2%
Múi giờ
ISO 3166-2 RU-KHA
Biển số xe 27
Ngôn ngữ chính thức tiếng Nga[7]
http://www.khabkrai.ru/

Vùng Khabarovsk (tiếng Nga: Хаба́ровский край, chuyển tự. Khabarovsky kray, IPA [xɐˈbarəfskʲɪj kraj]) là một chủ thể liên bang của Nga (một krai), nằm ở Viễn Đông Nga. Vùng Khabarovsk bao gồm đồng bằng hạ lưu sông Amur, cũng như các khu vực đồi núi rộng lớn dọc theo đường bờ biển của biển Okhotsk, một bộ phận của Thái Bình Dương. Trung tâm hành chính của vùng là thành phố Khabarovsk. Theo điều tra năm 2010, vùng có 1.343.869 cư dân.[5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thế kỷ 5-900[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các thư tịch Trung Hoa và Triều Tiên, phần phía nam của vùng Khabarovsk vốn do một trong năm bộ phận của người Thất Vi (室韋) là Bát Thất Vi (钵室韋) cùng người Hắc Thủy Mạt Hạt sinh sống tương ứng ở phía tây và phía đông của Bureinsky và Tiểu Hưng An lĩnh.

Thế kỷ 17-1850[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1643, thuyền của Vassili Poyarkov đã xuôi dòng Amur, quay trở lại Yakutsk theo biển Okhotsksông Aldan, và trong các năm 1649–1650 Yerofey Khabarov đã chiếm vùng đất ven bờ sông Amur. Tuy nhiên, trong cuộc chiến với nhà Thanh, những người Cozak đã bỏ pháo đài của họ, và theo điều ước Nerchinsk (1689), Nga từ bỏ lưu vực sông Amur.

Mặc dù Nga mất quyền thông hành trên sông Amur, nhà Thanh chưa từng thiết lập quyền kiểm soát trực tiếp đối với hạ du của sông Amur. Nikolay Muravyov đã khiến mối quan hệ với Trung Quốc căng thẳng khi tuyên bố rằng vùng hạ du sông Amur thuộc về người Nga.

Đến năm 1852, một đoàn quân Nga dưới quyền chỉ huy của Muravyov đã thám hiểm Amur, và đến năm 1857, đã có một loạt các điểm định cư của người Cozak và nông dân Nga dọc theo toàn bộ chiều dài con sông. Khu vực phía nam vùng Khabarovsk chính thức trở thành lãnh thổ Nga vào năm 1858 theo điều ước Aigun, sông Amur được công nhận là biên giới giữa đế quốc Nga và nhà Thanh, và Nga được quyền thông hành tự do ra Thái Bình Dương.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Khabarovsk có ranh giới với tỉnh Magadan ở phía bắc, với Cộng hòa Sakhatỉnh Amur ở phía tây, với tỉnh tự trị Do Thái, tỉnh Hắc Long Giang của Trung Quốc, và vùng Primorsky ở phía nam, phía đông vùng Khabarovsk là biển Okhotsk. Diện tích của vùng Khabarovsk xếp thứ 4 trong số các chủ thể liên bang của Nga. Taigalãnh nguyên nằm ở phía bắc, rừng lầy ở vùng lõm miền trung, và rừng rụng lá ở phía nam là thảm thực vật tự nhiên của vùng. Vùng Khabarovsk kéo dài 1.800 km từ bắc xuống nam, kéo dài 125–750 km từ đông sang tây. Berill thuộc dãy núi Suntar-Khayata là điểm cao nhất vùng với cao độ 2933 mét.

Vùng Khabarovsk có một mùa đông kéo dài và lạnh giá, nhiệt độ trung bình tháng một là từ -22°C ở khu vực phía nam đến -40 °C ở khu vực phía bắc, khu vực dọc bờ biển là từ -18°C đến -24°C. Nhiệt độ cao nhất ở cực nam cũng lên đến -50°C. Mùa hè nóng và ẩm với nhiệt độ trung bình tháng 7 là từ 20°C ở phía nam đến 15°C ở phía bắc.

Lượng mưa hàng năm dao động từ 400–600 mm ở phía bắc đến 600–800 mm ở vùng đồng bằng và các triền núi phía đông của các rặng núi.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ phân cấp hành chính vùng Khabarovsk
Số Tên OKATO Dân số
(nghìn người)
Diện tích
(nghìn km²)
Mật độ
người/km²
Trung tâm
hành chính
Khabarovsk 08 401 000 000 572,4 0,386 1482,90
Komsomolsk trên sông Amure 08 409 000 000 270,8 0,325 833,23
1 Amursky 08 203 000 000 72,6 16,70 4,34 Amursk
2 Ayano-Maysky 08 206 000 000 3,1 167,70 0,02 Ayan
3 Bikinsky 08 209 000 000 28,3 2,50 11,32 Bikin
4 Vaninsky 08 212 000 000 42,2 25,90 1,63 Vanino
5 Verkhnebureinsky 08 214 000 000 31,6 63,70 0,50 Chegdomyn
6 Vyazemsky 08 217 000 000 25,6 4,30 5,95 Vyazemsky, tỉnh Khabarovsk
7 Komsomolsky 08 220 000 000 31,7 25,20 1,26 Komsomolsk-na-Amure
8 Imeni Lazo 08 224 000 000 49,6 32,50 1,53 Pereyaslavka
9 Nanaysky 08 228 000 000 21,7 27,80 0,78 Troitskoye
10 Nikolaevsky 08 231 000 000 40,8 17,20 2,37 Nikolayevsk-na-Amure
11 Okhotsky 08 234 000 000 11,4 162,80 0,07 Okhotsk
12 Imeni Poliny Osipenko 08 237 000 000 6,5 34,97 0,19 Selo imeni Poliny Osipenko
13 Sovetsko-Gavansky 08 242 000 000 45,5 15,60 2,92 Sovetskaya Gavan
14 Solnechnyy 08 244 000 000 36,5 31,10 0,17 Solnechnyy
15 Tuguro-Chumikansky 08 246 501 000 2,7 96,10 0,03 Chumikan
16 Ulchsky 08 250 000 000 23,7 39,30 0,60 Bogorodskoye
17 Khabarovsky 08 255 000 000 92,7 24,00 3,86 Khabarovsk

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số: 1.343.869 (điều tra dân số năm 2010 kết quả sơ bộ);[5] 1.436.570 (diều tra dân số năm 2002);[8] 1.824.506 (điều tra dân số năm 1989).[9]

Theo điều tra năm 2010,[5] 91,8% dân số tại vùng Khabarovsk là người Nga, 2,1% là người Ukraina, 0,8% là người Nanai, 0,6% là người Tatar, 0,6% là người Triều Tiên và 0,4% là người Belarus. 55.038 người không khai báo về dân tộc. Người ta ước tính rằng thành phần dân tộc của nhóm người không khai báo tương tự như tỷ lệ chung.[10]

Ngoài người Nanai, các nhóm dân tộc bản địa khác của vùng là người Evenkngười Even ở phần phía bắc, và người Ulch ở hạ du sông Amur (huyện Ulchsky). Một số người Nivkh (Gilyak), một dân tộc bản địa chuyên về đánh cá và nói một ngôn ngữ biệt lập, cũng sống ở đồng bằng Amur. Các nhóm bản địa nhỏ hơn trên địa bàn là người Negidal (567), người Oroch (686), và người Udege (1,657) theo điều tra năm 2002.

  • Số ca sinh (2009): 17.573 (12.5/1000)
  • Số ca tử (2009): 19.115 (13.6/1000)[11]
  • Số ca sinh tại đô thị (2009): 13.612 (12.1/1000)
  • Số ca sinh tại nông thôn (2009): 3.961 (14.5/1000)
  • Số ca tử tại đô thị (2009): 15.472 (13.7/1000)
  • Số ca tử tại nông thôn (2009): 3.643 (13.3/1000)[12]

Địa phương kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Президент Российской Федерации. Указ №849 от 13 мая 2000 г. «О полномочном представителе Президента Российской Федерации в федеральном округе». Вступил в силу 13 мая 2000 г. Опубликован: "Собрание законодательства РФ", №20, ст. 2112, 15 мая 2000 г. (President of the Russian Federation. Sắc lệnh #849 of 13-5-2000 Về đại diện toàn quyền của Tổng thống Liên bang Nga tại Vùng liên bang. Có hiệu lực từ  13-5-2000.).
  2. ^ Госстандарт Российской Федерации. №ОК 024-95 27 декабря 1995 г. «Общероссийский классификатор экономических регионов. 2. Экономические районы», в ред. Изменения №5/2001 ОКЭР. (Gosstandart của Liên bang Nga. #OK 024-95 27-12-1995 Phân loại toàn Nga về các vùng kinh tế. 2. Các vùng kinh tế, as amended by the Sửa đổi #5/2001 OKER. ).
  3. ^ Hiến chương, Điều 4.2
  4. ^ Федеральная служба государственной статистики (Cục thống kê nhà nước Liên bang) (21 tháng 5 năm 2004). Территория, число районов, населённых пунктов и сельских администраций по субъектам Российской Федерации (Diện tích, Số huyện, điểm dân cư và đơn vị hành chính nông thontheo Chủ thể Liên bang Nga)”. Всероссийская перепись населения 2002 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2002) (bằng tiếng Nga). Cục thống kê nhà nước Liên bang. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  5. ^ a ă â b Федеральная служба государственной статистики (Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga) (2011). Предварительные итоги Всероссийской переписи населения 2010 года (Kết quả sơ bộ Điều tra dân số toàn Nga năm 2010)”. Всероссийская перепись населения 2010 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2010) (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga. Truy cập 250-042011. 
  6. ^ Giá trị mật độ được tính bằng cách chia dân số theo điều tra năm 2010 cho diện tích chỉ ra trong mục "Diện tích". Lưu ý rằng giá trị này có thể không chính xác do diện tích ghi tại đây không nhất thiết phải được diều tra cùng một năm với điều tra dân số.
  7. ^ Ngôn ngữ chính thức trên toàn lãnh thổ Nga theo Điều 68.1 Hiến pháp Nga.
  8. ^ Федеральная служба государственной статистики (Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga) (21 tháng 5 năm 2004). Численность населения России, субъектов Российской Федерации в составе федеральных округов, районов, городских поселений, сельских населённых пунктов – районных центров и сельских населённых пунктов с населением 3 тысячи и более человек (Dân số Nga, các chủ thể Liên bang Nga trong thành phần các vùng liên bang, các huyện, các điểm dân cư đô thị, các điểm dân cư nông thôn—các trung tâm huyện và các điểm dân cư nông thôn với dân số từ 3 nghìn người trở lên)”. Всероссийская перепись населения 2002 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2002) (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010. 
  9. ^ Всесоюзная перепись населения 1989 г. Численность наличного населения союзных и автономных республик, автономных областей и округов, краёв, областей, районов, городских поселений и сёл-райцентров. (Điều tra dân số toàn liên bang năm 1989. Dân số hiện tại của liên bang và các cộng hòa tự trị, tỉnh và vùng tự trị, krai, tỉnh, huyện, các điểm dân cư đô thị, và các làng trung tâm huyện.)”. Всесоюзная перепись населения 1989 года (Điều tra dân số toàn liên bang năm 1989) (bằng tiếng Nga). Demoscope Weekly (website của Viện Nhân khẩu học Đại học Quốc gia—Trường Kinh tế. 1989. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010. 
  10. ^ http://www.perepis-2010.ru/news/detail.php?ID=6936
  11. ^ http://habstat.gks.ru/digital/region1/OperInfo/Estestvennoe_dvizhenie.htm
  12. ^ http://habstat.gks.ru/digital/region1/OsnPokaz/Demografiia_naselen.htm
  13. ^ Gyeongsangnam-do official website English
  14. ^ Sister cities of the Hyogo Prefecture

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Хабаровская краевая Дума. №150 30 ноября 1995 г. «Устав Хабаровского края», в ред. Закона №202 от 30 июля 2008 г. (Khabarovsk Krai Duma. #150 30 November 1995 Charter of Khabarovsk Krai, as amended by the Law #202 of 30 July 2008. ).
  • Chaussonnet, Valerie (1995) Native Cultures of Alaska and Siberia. Arctic Studies Center. Washington, D.C. 112p. ISBN 1-56098-661-1

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]