Khiêu vũ với bầy sói

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Khiêu vũ với bầy sói (tiếng Anh: Dances with Wolves) là bộ phim cao bồi được phát hành năm 1990 dựa theo tiểu thuyết cùng tên kể câu chuyện về một viên trung úy quân đội Mĩ thời nội chiến đi tới biên giới Mĩ để tìm một đồn quân sự và những quan hệ của anh với một nhóm người thuộc bộ lạc Lakota.

Do đạo diễn kiêm diễn viên Kevin Costner phát triển trong suốt năm năm với kinh phí chỉ 18 triệu USD, bộ phim có giá trị sản xuất cao và đoạt 7 giải Oscar trong đó có giải Phim hay nhấtgiải Quả cầu vàng Phim chính kịch hay nhất. Phần nhiều lời thoại bằng ngôn ngữ Lakota có phụ đề tiếng Anh. Phim được quay tại Nam DakotaWyoming.

Năm 2007, Dances with Wolves được Thư Viên Quốc Hội chọn bảo tồn ở Viện Lưu Trữ Phim Quốc Gia của vì "có ý nghĩa về văn hóa, lịch sử hay thẩm mĩ."

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc đầu được Michael Blake viết như là một spec script (kịch bản được viết mà không được đặt trước hay mua, với hy vọng rằng nó sẽ được bán), kịch bản không bán được vào giữa những năm 1980. Đầu năm 1986 (khi còn tương đối vô danh), chính Kevin Costner là người động viên Blake biến kịch bản thành tiểu thuyết, để nó có cơ may được chuyển thể thành phim hơn. Bản viết tay cuốn tiểu thuyết Dances with Wolves bị nhiều nhà xuất bản từ chối nhưng cuối cùng cũng được xuất bản thành sách bìa mềm vào năm 1988. Là tiểu thuyết, bản quyền được Costner mua và nhắm tới chiếc ghế đạo diễn. Quá trình sản xuất thực tế kéo dài bốn tháng, từ 18/07 – 23/11/1989. Bộ phim được quay hầu hết tại Nam Dakota, chủ yếu gần Pierre và Rapid City, với một vài cảnh được quay tại Wyoming. Các địa điểm quay cụ thể gồm có Công viên quốc gia Badlands, Black Hills, Vùng hoang dã Sage Creek, khu vực Sông Belle Fourche. Các cảnh săn trâu được quay tại Trại Trâu Triple U bên ngoài Pierre, Nam Dakota, các cảnh Pháo đài Sedgwick cũng vậy, bối cảnh được xây dựng tại cơ ngơi này.

Quá trình sản xuất bị trì hoãn nhiều lần do thời tiết thất thường tại Nam Dakota, do khó khăn trong việc "đạo diễn" những con sói khó bảo, và sự phức tạp của những cảnh chiến đấu của những thổ dân da đỏ. Khó nhất là trường đoạn săn trâu đặc sắc của bộ phim: cuộc săn đuổi phức tạp này được quay suốt ba tuần sử dụng 100 thổ dân da đỏ và một đàn trâu vài trăm con chạy tán loạn. Trong một cảnh, Costner (người tự thực hiện hầu hết tất cả những cảnh trên lưng ngựa của mình) bị một người cưỡi ngựa khác chắn ngang và bị văng khỏi lưng ngựa, suýt gãy lưng. Tai nạn này được lưu lại trong The Creation of an Epic, bộ phim tài liệu sau hậu trường có trong DVD ấn bản đặc biệt Dances With Wolves.

Theo bộ phim tài liệu này, không có con trâu nào được tạo ra bằng máy tính (CGI khi ấy còn mới sơ khai) và chỉ một vài con là trâu điện tử được chế tạo bằng máy. Thật ra, Costner và ê kíp đã thuê trại trâu lớn nhất nước, với hai trong số những con trâu được thuần hóa này được mượn từ Neil Young; đây là đàn trâu được sử dụng cho trường đoạn săn trâu.

Kinh phí vượt dự toán là điều không thể tránh khỏi, do Costner phá vỡ vài "quy luật" ngầm của Hollywood dành cho những người mới lần đầu làm đạo diễn: càng tránh quay ở ngoài trời và tránh làm việc với trẻ con và động vật càng tốt. Kết quả là cuối quá trình sản xuất, Costner buộc phải lấy tiền túi 3 triệu USD bổ sung cho kinh phí ban đầu 15 triệu USD của bộ phim. So với sự thất bại đình đám của Heaven’s Gate năm 1980 của Michael Cimino, được xem là bộ phim cao bồi được quản lí tồi nhất trong lịch sử điện ảnh, thì dự án của Costner bị gán cho cái tên "Kevin’s Gate" một cách châm biếm bởi các phê bình Hollywood và những chuyên gia hoài nghi về một bộ phim cao bồi có phụ đề một phần và dài ba tiếng của một nhà làm phim mới vào nghề.

Ngôn ngữ được nói trong phim là một phiên bản khá chính xác, dù đã được đơn giản hóa, của ngôn ngữ Loakota thực sự. Doris Leader Charge (1931 – 2001), thầy giáo dạy ngôn ngữ Lakota Sioux, là người huấn luyện diễn thoại bằng tiếng Lakota trên phim trường và còn đóng vai Pretty Shield, vợ của Tù trưởng Ten Bears, do Floyd Red Crow Westerman đóng.

Nhà hoạt động kiêm diễn viên người thổ dân Russell Means bình luận về phim như sau: "Nhớ Lawrence of Arabia không" Đó là Lawrence của vùng đồng bằng. Điều kỳ quặc ở việc làm bộ phim đó là, họ cho một phụ nữ dạy ngôn ngữ Lakota cho các nam diễn viên. Nhưng Lakota có một ngôn ngữ giống đực và một ngôn ngữ giống cái. Một số thổ dân da đỏ và Kevin Costner nói theo kiểu giống cái. Khi tôi đi xem bộ phim cùng với một nhóm người Lakota, chúng tôi cười ngặt nghẽo."

Dù đóng vai con gái nuôi của nhân vật Kicking Bird do Graham Greene đóng, nhưng Mary McDonnell, khi ấy 37 tuổi, thực ra lớn hơn Grenne hai tháng tuổi, và nhỏ hơn Tantoo Cardinale (nữ diễn viên đóng vai mẹ nuôi của cô) gần hai tuổi. Ngoài ra, McDonnell cực kỳ căng thẳng khi đóng cảnh sex với Kevin Costner, nên đã yêu cầu làm cho cảnh dịu xuống thành một phiên bản kín đáo hơn so với trong kịch bản.

Sự đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù bị hoài nghi, Dances with Wolves hóa ra được ưa chuộng ngay lập tức trong phòng vé, cuối cùng thu được 184 triệu USD tiền vé ở Mĩ, và 424 triệu USD tiền vé trên khắp thế giới. Bộ phim thường được ca ngợi vì sự khắc họa đầy cảm thông, được lí tưởng hóa về thổ dân da đỏ Mỹ, dù đôi khi bị chỉ trích vì có những nhân vật lính toàn hung ác thuộc phe Liên minh. Trong những năm gần đây, các nhà phê bình thỉnh thoảng đặt dấu hỏi về di sản của bộ phim so với Goodfellas của Martin Scorcese, bộ phim mà nó đã đánh bại để đoạt Oscar Phim hay nhất. Vì sức tác động đại chúng và lâu dài của bộ phim, Sioux nation nhận Costner làm thành viên danh dự.

Năm 2007, Thư viện quốc hội Mĩ chọn Dances with Wolves để bảo quản trong Viện Lưu Trữ Phim Quốc Gia của Mĩ.

Tập phim tiếp theo[sửa | sửa mã nguồn]

The Holy Road, một cuốn tiểu thuyết phần tiếp theo được đón nhận nhiệt liệt của Michael Blake, tác giả của cả cuốn tiểu thuyết phần đầu Dances With Wolves và kịch bản điện ảnh, được xuất bản vào năm 2001. Nó nói về những sự kiện diễn ra sau Dances With Wolves mười một năm. John Dunbar vẫn là chồng của Stands With A Fist và hai người có ba đứa con. Stands With A Fist và một trong những đứa con bị bắt cóc bởi một đội gác rừng người da trắng và Dances With Wolves phải làm nhiệm vụ giải cứu. Kể từ năm 2007, Blake viết một kịch bản chuyển thể thành phim, mặc dù Kevin chưa tham gia dự án. Tuy nhiên, cuối cùng, Costner tuyên bố anh sẽ không tham gia vào xuất phẩm này. Có tin đồn là Viggo Mortensen đã tham gia dự án, đóng vai Dunbar.

Tham khảo lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cánh đồng St. David, bang Tennessee không tồn tại và vào năm 1863 cũng vậy. Vì trận đánh mở màn là một phần thứ yếu của bộ phim, nên nó được xem là đáng chê trách nếu đặt tên cho một trận đánh lịch sử có thật, điều này có thể khiến người xem có kiến thức phản đối các sự kiện hư cấu.

Pháo đài Sedgwick, tiểu bang Colorado được dựng lên làm Trại Rankin và được đặt tên lại theo Tướng John Sedgwick (1813-1864). Tướng Sedgwick bị thiệt mạng vào ngày 09/05/1864 tại trụ sở tòa án Trận Spotsylvania, bang Virginia. Pháo đài Sedgwick được dùng làm một đồn quân đội từ tháng 07/1864 tới tháng 05/1871. John Sedgwick đã dựng một pháo đài ở Kansas vào năm 1860.

Pháo đài Hays ở Kansas được lấy tên theo Tướng Alexander Hays (1819-1864). Tướng Hays bị thiệt mạng vào ngày 05/05/1864 trong trận Wilderness, tiểu bang Virginia. Pháo đài Hays được dùng làm một đồn quân đội từ 11/10/1865 tới 08/11/1889.

Nhân vật hư cấu Trung úy John Dunbar của năm 1863 xuất hiện đúng quân hàm trong phim, đeo một thanh vàng trên cầu vai quân phục của anh, cho thấy quân hàm của anh là Trung úy. Từ 1836-1872, hàm Trung úy được biểu thị bằng một thanh vàng; sau 1872, quân hàm này được biểu thị bằng một thanh bạc. Tương tự, Đại úy Cargill được mô tả đúng phẩm hàm là đeo một cặp thanh vàng, biểu thị cấp Đại úy vào thời đó.

Nhạc trong phim[sửa | sửa mã nguồn]

John Barry soạn nhạc nền đoạt Oscar này, nó trở thành một tác phẩm nhạc nền trong phim rất phổ biến. Nó được phát hành lần đầu vào năm 1990 và phát hành lại vào năm 1995 với những track bonus và vào năm 2004 với bản nhạc nền "trọn vẹn."

Peter Buffett soạn nhạc và biên đạo cảnh "múa lửa". Giáo hoàng John Paul II từng cho biết bản nhạc nền trong phim là một trong những tác phẩm âm nhạc mà ông yêu thích nhất.