Khuất Duy Tiến (trung tướng)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Khuất Duy Tiến [1][2](sinh năm 1931), bí danh Duy Tâm, là một tướng lĩnh trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Trung tướng, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1 (1994-1997), nguyên Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu (1989-1994), nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3 (1982-1989)[3][4]

Thân thế và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ông sinh ngày 27 tháng 2 năm 1931 tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây.
  • Ông tham gia cách mạng từ năm 1946, hoạt động tại địa phương làm công tác thanh niên huyện Thạch Thất.
  • Đầu năm 1950, ông bị địch bắt, sau đó ông vượt ngục tiếp tục hoạt động ở địa phương.
  • Tháng 9 năm 1950, ông nhập ngũ, là chiến sỹ Đại đội 737, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320.
  • Từ năm 1952 đến năm 1954, ông là Tiểu đội phó, Tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 27, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320.
  • Từ tháng 1 năm 1954 đến năm 1955, ông là Trung đội trưởng, rồi Đại đội trưởng Đại đội 129, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 Sư đoàn 320.
  • Năm 1956, ông được cử đi học tại Trường Sỹ quan Lục quân.
  • Năm 1958, ông làm công tác huấn luyện tại Sư đoàn 320.
  • Từ tháng 11 năm 1959 đến tháng 5 năm 1962, ông là giáo viên chiến thuật Trường Quân chính Quân khu 3.
  • Từ tháng 6 năm 1962 đến năm 1964, ông học tại Trường Trung cao Quân sự khoá 1.
  • Từ năm 1965 đến tháng 9 năm 1967, ông là Trợ lý huấn luyện Phòng Quân huấn Quân khu 3.
  • Từ tháng 10 năm 1967 đến tháng 10 năm 1969, ông là Tham mưu trưởng Trung đoàn 64, Sư đoàn 320.
  • Từ tháng 11 năm 1969 đến tháng 1 năm 1971, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 64, Sư đoàn 320.
  • Từ tháng 2 năm 1971 đến tháng 11 năm 1973, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, Sư đoàn 304, tham gia chỉ huy Trung đoàn chiến đấu tại Đường 9 Nam Lào, đơn vị tham gia bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ trưởng Lữ đoàn dù 3 nguỵ Sài Gòn.
  • Tháng 12 năm 1973 đến năm 1975, ông là Trưởng phòng Tác chiến, Mặt trận B3 Tây Nguyên, sau là Trưởng phòng Tác chiến Quân đoàn 3, tham gia chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, chiến dịch Hồ Chí Minh.
  • Từ tháng 12 năm 1976 đến tháng 11 năm 1979, ông là Sư đoàn phó rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320, tham gia làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Căm pu chia.
  • Tháng 12 năm 1979, ông là Tham mưu trưởng Quân đoàn 3.
  • Từ năm 1980 đến năm 1982, ông là Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 3.
  • Từ tháng 12 năm 1982 đến năm 1989, ông là Tư lệnh Quân đoàn 3.
  • Tháng 6 năm 1989, ông là Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu.
  • Từ tháng 6 năm 1994 đến tháng 10 năm 1997, ông là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục Quân 1
  • Từ tháng 10 năm 1997 đến năm 2001, ông được Nhà nước cho nghỉ chờ hưu, năm 2001 ông có quyết định nghỉ hưu.
  • Thiếu tướng (4.1984), Trung tướng (2.1990)

Khen thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba),
  • Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Ba,
  • Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất,
  • 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất,
  • Huân chương Chiến công hạng Nhì,
  • 2 Huân chương Chiến công hạng Ba,
  • Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba),
  • Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Gia đình[5][sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam