Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, với tổng diện tích 5.030 ha, được xem như một bồn trũng nội địa thuộc vùng trũng rộng lớn Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An. Với hình thái địa mạo đa dạng và là vùng sinh thái tiêu biểu cho kiểu đầm lầy ngập nước. Sự duy trì thảm thực vật ven sông, đồng cỏ tự nhiên ngập nước theo mùa, đầm lầy và gia tăng diện tích tràm trồng đã làm phong phú quần thể động thực vật. Kết quả khảo sát sơ bộ cho thấy hiện diện 156 loài thực vật hoang dã thuộc 60 họ; 149 loài động vật có xương sống thuộc 46 họ, trong đó có 13 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam; các loài thủy sản trên sông rạch, lung, trấp khá phong phú. Do hạn chế thời gian nghiên cứu nên chỉ ghi nhận được có 11 loài động vật đáy. Với tính đa dạng sinh học như thế, việc bảo tồn sự đa dạng sinh học và các hệ sinh thái vùng đất ngập nước tiêu biểu cho vùng Đồng Tháp Mười góp phần vào việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, văn hóa cho một vùng đất ngập nước lưu vực sông Mekong.

Láng Sen là vùng sinh thái tiêu biểu cho kiểu đầm lầy ngập nước với nhiều quần thể động thực vật phong phú mang tính đặc trưng. Qua nhiều năm khai thác cho mục đích sản xuất nông nghiệp đã làm giảm tính phong phú của sự đa dạng sinh học dẫn đến giảm số lượng các động thực vật tiêu biểu. Từ năm 1998, nhiều nghiên cứu về giá trị tài nguyên thiên nhiên trong vùng trong vùng đất ngập nước Láng Sen đã được thực hiện do nhiều tổ chức trong và ngoài nước để có thể đánh giá tổng quan về tài nguyên tự nhiên làm luận cứ khoa học cho việc thành lập khu bảo tồn thiên nhiên. Đầu năm 2004, khu vực nầy đã được quyết định chính thức trở thành Khu Bảo Tồn Đất Ngập Nước Láng Sen, được chọn làm một trong hai điểm trình diễn sử dụng khôn ngoan và bảo tồn đa dạng sinh học đất ngập nước lưu vực sông Mekong do IUCN, GEF, UNDP tài trợ MWBP.

Một góc Khu Bảo Tồn Đất Ngập Nước Láng Sen

Quá trình hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tính phong phú của các loài động thực vật và sự đa dạng sinh học trong vùng Láng Sen đã được ghi nhận từ năm 1984 - 1985 thông qua Chương trình điều tra cơ bản vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (CT 60.02). Một số nhà khoa học đã có những gợi ý chọn Láng Sen để thành lập một khu bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đặc trưng của Đồng Tháp Mười. Nhận thức được vấn đề nầy, vào năm 1994, UBND Tỉnh Long An đã ra quyết định thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Láng Sen nhưng mang tên Khu bảo tồn di tích lịch sử Láng Sen. Với nhiều ý kiến đề xuất từ các nhà khoa học và cơ quan quản lý, UBND Tỉnh Long An đã quyết định đổi tên là Khu bảo tồn thiên nhiên Rừng Đồng Tháp Mười Láng Sen, nhưng sau đó đổi tên là Khu bảo tồn di tích lịch sử cách mạng Láng Sen và trình Bộ Lâm nghiệp Việt Nam phê chuẩn dự án và được Bộ Lâm Nghiệp đổi tên thành: Rừng phòng hộ biên giới Việt Nam – Campuchia và Bảo tồn di tích lịch sử Láng Sen với diện tích 2.847 ha, lấy điểm trung tâm của vùng lỏi tại rạch Cái He. Điểm đáng chú ý là trong khu vực vành đai tự nhiên của Láng Sen có sự hiện diện của Lâm trường Tân Hưng và đã được UBND tỉnh Long An quyết định thành Khu sinh thái rừng tràm Đồng Tháp Mười, vào năm 2000, với diện tích 2.245 ha, khu vực nầy chưa phải là vùng lõi của Láng Sen.

Trong quá trình nầy, mặc dù khu đất ngập nước Láng Sen vẫn chưa được thành lập như một khu bảo tồn thiên nhiên nhưng đã nhiều nhà khoa học đã đến nghiên cứu và công bố kết quả sơ bộ về tính đa dạng sinh học đất ngập nước của vùng Láng Sen.

Nhận thấy việc bảo vệ tài nguyên tự nhiên, đa dạng sinh học vùng đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười là việc cần thiết, vào đầu tháng 1 năm 2004, UBND tỉnh Long An đã ra quyết định số: 199/QĐ-UB ngày 19/1/2004 thành lập Khu bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen, với diện tích là 5.030 ha. Trong đó, bao gồm cả diện tích của Khu bảo tồn sinh thái rừng tràm Đồng Tháp Mười, Lâm trường Vĩnh Lợi và một phần diện tích của xã Vĩnh Lợi và Vĩnh Đại. Lấy địa điểm Cái He làm trung tâm của vùng lõi.

Vị trí và các yếu tố tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng cỏ ngập nước theo mùa ở Láng Sen

Vị trí – diện tích[sửa | sửa mã nguồn]

Láng Sen nằm trong phạm vi tọa độ địa lý: 10o45’ - 11o50’ vĩ độ bắc và 105o45’ - 105o50’ kinh độ đông.

Diện tích tự nhiên của Láng Sen là 5.030 ha, phần lớn nằm trên địa bàn xã Vĩnh Lợi và một phần thuộc xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng tỉnh Long An. Trong đó có một giới hạn tự nhiên khá đặc biệt là một "cù lao" diện tích khoảng 1.500 ha là một vùng đầm lầy có nhiều sinh cảnh thích hợp cho động thực vật ưa nước và nơi dễ khôi phục các hệ sinh thái đồng cỏ, bải ăn của nhiều loài chim nước, được bao bọc bởi sông Vàm Cỏ Tây.

Một số đặc điểm tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình khu vực Láng Sen được xem như một bồn trũng có cao độ từ 0.42 – 1.8 m (so với mực nước chuẩn tại mũi Nai – Hà Tiên). Với địa hình như thế, khu vực nầy được xem như một vùng đầm lầy ngập nước chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn của sông Cửu Long, và chịu ngập lũ hàng năm.

Địa chất khu vực phần lớn thuộc trầm tích Holocen và những gò Pleistocen (hoặc Pleistocen muộn) nổi lên ở một số nơi trong vùng. Ngoài ra, vài vạt trũng thấp là lòng sông cổ với lớp đất mặt tích tụ nhiều chất hữu cơ.

Các nhóm đất hiện diện trong vùng là kết quả từ những tiến trình và yếu tố hình thành đất, trong đó tính đa dạng của vật liệu trầm tích đóng vai trò quan trọng. Các nhóm đất chính: Đất xám (Aeric Paleaquults, Aquic Arenic Paleustults, Typic Plinthaquults), đất phèn hoạt động (Typic Sulfaquepts, Umbric Sulfaquepts, Hydraquentic Sulfaquepts), đất phù sa có tầng sinh phèn trung bình (Aquic sulfic Tropaquepts), đất phù sa có tầng phèn trung bình (Sulfic Tropaquepts), đất phù sa phát triển (Typic Tropaquepts).

Chế độ thủy văn tại đây chịu ảnh hưởng trực tiếp của sông Cửu Long và thay đổi do ảnh hưởng biến đổi về chế độ dòng chảy trong toàn vùng Tân HưngVĩnh Hưng. Mạng lưới sông rạch tự nhiên trong khu vực Láng Sen và vùng lân cận khá dày, tuy nhiên lưu lượng lưu thông không lớn do lưu vực nhỏ. Láng Sen được tiếp nước chủ yếu do các kinh tạo nguồn lớn từ sông Cửu Long, như: kinh Hồng Ngự – Long An, kinh 79, kinh 28 và sông Lò Gạch. Nguồn nước trực tiếp tới khu vực Láng Sen đi qua 2 tuyến dẫn nước chính là kinh 79 và rạch Bông Súng. Mặc dù nằm trong nội địa, nhưng ảnh hưởng của thuỷ triều biển Đông theo chế độ bán nhật triều, và lớn nhất vào mùa kiệt (mùa khô). Tuy nhiên biên độ dao động mực nước lớn nhất cũng trong khoảng < 0.5 m. Biên độ này giảm dần tới khi đỉnh lũ xuất hiện.

Ngập lũ: vùng ngập sâu trung bình ở vùng từ 2.5 đến 3,5 mét trong các năm lũ lớn (tương đương lũ 1996, 2000). Thời gian ngập từ 3 đến 4 tháng. Do mạng lưới kinh mương được phát triển và mỏ rộng nên thời gian ngập hiện nay là ngắn hơn khoảng 1 tháng so với trước đây. Vùng ngập sâu và lâu nhất vẫn là những nơi lung bàu trũng như Láng Sen, rạch Cá He, rạch Cái Nổ.

Chất lượng nguồn nước thay đổi theo mùa và có sự khác biệt trong từng khu vực. Tuyến kinh 79 đi qua vùng đất phèn nặng nên nước bị chua phèn và độ đục thấp, độ pH thường thấp dưới 4,5. Chất lượng nước chỉ được cải thiện vào mùa mùa lũ, đồng thời độ đục cũng tăng lên ít nhiều. Tuyến sông Bông Súng có chất lượng nước tốt hơn, lượng phù sa tương đối ổn định và cao hơn.

Bồi lắng phù sa trong nội đồng chỉ xảy ra khi lượng phù sa theo dòng nước lũ đưa về. Một lượng lớn phù sa phủ trên đồng ruộng đã được ghi nhận vào cuối trận lũ năm 2000. Với lớp trầm tích phù sa khá dầy đã gây ra hiện tượng những cánh đồng năng bị chết hàng loạt.

Cảnh quan tự nhiên và các kiểu nơi sống của loài động thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh quan tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Rừng tràm trên vùng đất ngập nước Láng Sen

Mặc dù diện tích khu vực tương dối nhỏ nhưng chịu chi phối bởi tính đa dạng của trầm tích - thổ nhưỡng và hệ thống sông rạch nên Láng Sen mang đầy đủ đặc tính chung của cảnh quan Đồng Tháp Mười: cảnh quan thảm thực vật thân gỗ chịu ngập ven sông, bải lầy ven sông, các lung, láng, lòng sông cổ... Các dạng địa mạo nầy thể hiện tính đa dạng về sinh vật, đa dạng về sinh cảnh.

Các kiểu nơi sống của loài động thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Thủy vực nước chảy[sửa | sửa mã nguồn]

Thủy vực nước chảy gồm hệ thống sông rạch tự nhiên và các kênh đào. Thành phần thực vật ở các kênh đào thưa thớt và ít loài, ở các sông rạch tự nhiên thành phần thực vật phong phú hơn, gồm các loài: súng (Nymphaea spp.), rau tràng (Nymphoides nouchali), nhĩ cán vàng (Utricularia aurea), ráng gạt nai (Ceratopteris thalictroides), mồm mở (Ischaemum spp.),...

Đây là nơi sống của nhóm cá ưa nước chảy. Nhóm này gồm các loài cá chủ yếu sống tại các dòng chảy chính, kênh hoặc sông lớn và thường di cư ngược dòng về thượng lưu hoặc di cư đến vùng ngập lụt theo mùa để sinh sản hoặc sinh trưởng. Chúng thường được gọi chung là nhóm cá trắng gồm các loài phần lớn thuộc họ Cá chép (Cyprinidae) như cá linh (Henycorhynchus siamensis), cá ngựa (Hampala spp.), cá mè vinh (Barbodes gonionotus), cá he (Barbodes spp.), … và các loài trong họ Cá tra (Pangasiidae), họ Cá nheo (Siluridae), họ Cá thát lát (Notopteridae) … Đây là nhóm cá di cư ra vào trong khu vực theo sự lên xuống của nước lũ hàng năm ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Đai rừng tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Đai rừng tự nhiên hỗn loài ven sông, rạch, ngập nước thay đổi từ 3 tháng đến gần quanh năm (tùy theo độ cao của từng địa điểm). Do quá trình khai phá, ở Láng Sen ước tích chỉ còn lại 15 - 20% so với diện tích trước năm 1975. Độ rộng bình quân của đai rừng này hiện nay chỉ còn khoảng 10 – 15 m, cá biệt có những nơi rộng đến 100 m. Thành phần thực vật có cấu trúc phức tạp, phong phú về loài và dạng sống, trong đó các loài thường gặp bao gồm:

Đồng cỏ ngập nước theo mùa[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng cỏ ngập nước theo mùa, thời gian ngập nước khoảng 5 - 6 tháng/năm và dễ bị cháy vào mùa khô. Đồng cỏ ngập nước theo mùa thường phân bố ngay sau đai rừng ven sông. Trước đây, ở khu lỏi của Láng Sen, kiểu nơi sống này có diện tích lớn nhất nhưng hiện nay chỉ còn sót lại những đám nhỏ có diện tích thường dưới 0,5 ha phân bố rải rác trong các lô rừng tràm, ruộng lúa, những lô có diện tích lớn hơn (2-3 ha) là những đồng cỏ mới được phục hồi lại sau khi không trồng lúa nữa (do năng suất thấp). Tại khu vực bảo tồn sinh thái, những cánh đồng cỏ với diện tích lên đến hơn 200 ha vẫn còn duy trì, với sự hiện diện của nhiều loài chim nước; trong đó có những loài chim lớn như Diệc Xám (Ardea cinerea), Già Đẩy (Leptoptilos dubius), và Sếu (Grus antigone),…. Tổ thành thực vật ở các đồng cỏ hiện nay thường bao gồm nhiều loài thân thảo sống chung với nhau như Mồm (Ischaemum sp), Năng ngọt (Eleocharis dulcis), Lúa hoang (Oryza rufipogon), cỏ Ống (Panicum repens), U du (Cyperus sp), Rau mác (Monochoria sp).

Lung, trấp[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những vùng đất thấp trũng có thời gian ngập nước quanh năm hoặc gần như quanh năm nên ít cháy vào mùa khô. Thực vật của các lung, trấp bao gồm các loài thủy sinh như Sen (Nelumbo nucifera), Súng (Nymphaea sp), Nhỉ cán vàng (Utricularia aurea) hoặc chịu ngập nước như Lúa hoang (Oryza rifipogon), Lác hến (Scirpus grossus), Mồm (Ischaemum sp), Cỏ đắng tán (Fuirena umbellata). Ngoài ra, do có đê giữ nước nên có sự hiện diện của những loài thực vật ngay sau đê, những bãi cỏ phát triển trên nền của những mùn bã hữu cơ được tích luỹ dần theo thời gian. Độ rộng phân bố trung bình của chúng khoảng 20 m sau đê, những loài thực vật được ghi nhận: Cỏ năng (Eleocharis dulcis) (3m), Rau dừa (Lasia spinosa) (1m), Lục bình (Eichhornia crassipes) (7m), U du (Cyperus sp) (1,5m), Cỏ bắc (Leersia hexandra) (0,5m), ngoài ra còn có: Ráng đại (Acrostichum anneura), Chò co, Lúa hoang (Oryza rufipogon), Lúa ma (Oryza minuta).

Vào các tháng mùa khô, các lung, trấp là nơi trú ẩn của các loài bò sát như rắn Ri cá, rắn Bông súng, Rùa, Cua đinh và các loài cá thuộc nhóm cá nước tĩnh như Lươn, các loài thuộc họ cá Lóc, họ cá Trê, họ cá Rô đồng. Sự kết hợp giữa đồng cỏ ngập nước theo mùa và các lung, trấp tại đây đã tụ hợp khá nhiều loài chim nước tiêu biểu của vùng Đồng Tháp Mười như Già đẫy (Leptoptilos dubius), Diệc lửa (Ardea purpurea), Diệc xám (Ardea cinerea), Cò ma (Bubulcus ibis), Cò trắng Trung Quốc (Cò Lông trĩ chân xanh) (Egretta eulophotes), Trích (Porphyrio porphyrio), Còng cọc (Phalacrocorax carbo), Giang sen (Mycterria leucocephala), Chim suốt, Chim học trò, Vịt trời (Anas clypeata và Anas poecilorhyncha), Le le (Dendrocygna javanica), Dòng dọc (Ploceus spp), Điên điển, Bói cá lớn (Megaceryle lugubris), Bói cá nhỏ (Ceryle rudis).

Rừng tràm[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là kiểu nơi sống nhân tạo được phát triển mạnh sau từ năm 1983 đến nay. Rừng tràm thường được trồng trên các đất trồng lúa kém hiệu quả kinh tế. Về mặt đa dạng sinh học, được phân loại như sau:

  • Rừng tràm từ 1 - 3 tuổi: rừng chưa khép tán, ở mặt đất có sự hiện diện của nhiều loài cây thân thảo. Ngoài ra rừng non còn tạo nên lớp tán rậm rạp, tiếp xúc với mặt đất, tạo điều kiện tốt cho các loài động vật sinh sống như Cốc Đế (Phalacrocorax carbo), Chàng Nghịch (Rallus aquaticus), Bìm Bịp (Centropus sinensisC. bengalensis), Chim Sâu (Alcippe poioicephala), Trao Trảo (Pycnonotus spp), Chim Khách (Crypsirina temia), Quốc (Amaurornis phoenicurus), Vạc (Nycticorax nycticorax), Cò Bợ (Ardeola bacchus), Cò Ma (Bubulcus ibis),…
  • Rừng tràm từ 4 tuổi trở lên: rừng đã khép tán, mật độ thường trên 6.000 cây/ha. Dưới tán rừng gần như không có các loài thực vật thân thảo sinh sống. Ngoài ra, do dưới tán rừng trống trải rừng nên rừng ở độ tuổi này thường không thích hợp cho các loài động vật sinh sống. Các loài chim thường gặp như Cốc Đế (Phalacrocorax carbo), Phướn (Phaenicophaeus tristis), Cò bựa (Nycticorax nycticorax), Tu hú (Eudynamys scolopacea), Chim sâu (Alcippe poioicephala), Trao trảo (Pycnonotus spp), Chim khách (Crypsirina temia).

Ruộng lúa[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là kiểu nơi sống nhân tạo có diện tích lớn nhất trong vùng điều tra. Ruộng lúa (phần lớn là 2 vụ) thường được hình thành từ những nơi trước đây là những đồng cỏ ngập nước theo mùa, ít bị phèn.

Thực vật hoang dại thường gặp ở ruộng lúa vào các tháng lũ (các tháng không canh tác) bao gồm Ngò nước (Limnophila heterophylla), Nhĩ cán vàng (Utricularia aurea), Súng (Nymphaea sp)...

Các loài chim thường gặp ở ruộng lúa bao gồm Mỏ Nhác (Limosa limosa), Se Sẻ (Passer montanus), Dòng Dọc (Ploceus spp), Chim Sâu (Alcippe indicus), Cà Cuốc (Pseudibis gigantea), Cò Ma (Bubulcus ibis),…

Các kiểu nơi sống từ (b) đến (f) là môi trường sống chính của nhóm cá ưa nước tĩnh. Đây là các loài cá có khả năng sống trong điều kiện môi trường khắc nghiệt như nước cạn, oxy hòa tan thấp, chua phèn, ít di cư và thường được gọi là chung là nhóm cá đen. Nhóm này gồm các loài cá thuộc họ cá Lóc (Channidae), các loài thuộc họ cá Trê (Clariidae), họ cá Rô đồng (Anabantidae), họ cá Sặc (Belontiidae)... Đây là nhóm cá chính đặc trưng của khu vực, chúng có nguồn gốc tại chỗ và có khả năng tồn tại quanh năm trong khu vực.

Đê nhân tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Các đê nhân tạo có kích thước đáng chú ý trong vùng điều tra gồm đê rạch Cá Sách và đê kênh Cá Nổ. Kiểu nơi sống này không bị ngập nước. Thực vật hoang dại thường gặp bao gồm: Cỏ ống (Panicum repens), Bìm vàng (Merremia hederaceae), Cỏ lông tây (Brachiaria mutica).

Tính đa dạng sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đa dạng sinh học trong khu vực Láng Sen được ghi nhận với sự hiện diện của nhiều loài động thực vật đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười.

Thảm thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Thực vật trong khu vực Láng Sen khá phong phú với 156 loài thực vật hoang dã trong đó có 152 loài đã xác định được tên khoa học thuộc 60 họ được tìm thấy, trong đó khuyết thực vật (Pteridophyta) có 7 loài, song tử diệp (Dicotyledonae) có 88 loài và đơn tử diệp (Monocotyledonae) có 57 loài.

Các họ có số loài nhiều nhất làPoaceae (24 loài), Cyperaceae (19 loài), Rubiaceae (6 loài) và Papilionoideae (6 loài). Trong đó có 4 loài chưa xác định được tên. Số loài và số chi nằm trong các họ của 152 loài thực vật hoang dã ở Láng Sen tóm tắt ở Bảng 3.

Đầm lầy ngập nước ở Láng Sen

Căn cứ vào dạng sinh trưởng, 152 loài thực vật hoang dã ở Láng Sen được chia ra:

  • Cây thân gỗ: 26 loài
  • Cây bụi: 15 loài
  • Cây thân thảo: 101 loài
  • Dây leo hoặc dây bò: 8 loài
  • Ký sinh: 2 loài

Phiêu sinh vật[sửa | sửa mã nguồn]

Theo kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần phiêu sinh trong vùng không nhiều với Cyanophyta: 2 loài, Chlorophyta: 14 loài, Bacillariophyta: 8 loài. Có thể việc giới hạn về thời gian và số mẫu nghiên cứu nên chưa thể hiện được số liệu chính xác thành phần phiêu sinh vật đang hiện diện trong vùng.

Thủy sản[sửa | sửa mã nguồn]

Do trong đợt khảo sát mực nước trên đồng khá cao nên chưa thể tiến hành thu mẫu, kết quả thu được do điều tra các hộ tại địa phương. Các loài điều tra được gồm có: cá trạch, thát lát, cá rô, cá linh, cá mè, lóc, lia thia đồng, cá chốt, cá lìm kìm, cá trê, lươn, ếch, rắn (3 loài), rùa, tôm.

Ngoài ra, một số loài thực vật thủy sinh khác đã phát hiện như: Marsilea quadrifolia, Ceratopteris siliquosa, Salvinia cucullata, Lemna tenera, Eriocaulon sp., Limnophylla heterophylla, Najas sp., Blyxa sp., Valisneria gigantia, Rotala wallichii, Myriophyllum tetandrum, Hydrilla verticilata.

Động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Để có thể ghi nhận được nhiều thông tin về động vật, nhóm nghiên cứu đã dùng phương pháp phỏng vấn dân địa phương kết hợp với khảo sát thực tế (đối với lớp Chim, phỏng vấn thông qua hình ảnh), có 128 loài động vật có xương sống (không kể lớp Cá) được ghi nhận có mặt ở Láng Sen; trong đó:

  • lớp Lưỡng thê: 4 loài
  • lớp Bò sát: 17 loài
  • lớp Chim: 101 loài
  • lớp Thú: 6 loài

Theo Buckton, Cu, Tu and Quynh (1999) thì qua 2 đợt khảo sát thực địa trong năm 1999, các tác giả đã phát hiện được 61 loài chim ở Láng Sen. Trong 61 loài này, có 21 loài không nằm trong danh sách 101 loài chim được trình bày ở bảng trên. Như vậy, tổng số các loài chim phát hiện được qua các đợt điều tra, bằng cách kết hợp các phương pháp khác nhau, đã lên đến 122 loài và tổng số các loài động vật có xương sống (không kể cá) lên đến 149 loài, trong đó có 13 loài có trong Sách Đỏ Việt Nam.

Bảo tồn và sử dụng khôn ngoan vùng đất đất ngập nước[sửa | sửa mã nguồn]

Cư Dân Địa Phương ở Láng Sen.jpg

Qua nhiều năm khai thác cho mục đích phát triển nông nghiệp, đất trong khu vực đã biến đổi rất lớn. Kể từ năm 1978, diện tích tràm và đồng cỏ bị thu hẹp dần và được thay thế bằng những cánh đồng lúa.

Vào năm 1997, sau khi có sự thông báo của chính quyền địa phương về việc thành lập khu bảo tồn tự nhiên Láng Sen cùng với giá lúa thương mãi thấp, giá trị kinh tế của tràm khá cao thì diện tích tràm tại khu vực nầy đã tăng đáng kể nhất là trên những vùng đất phèn trồng lúa cho năng suất thấp. Phần lớn diện tích trồng được tập trung tại những vùng đất phèn, trũng thấp của khu vực Láng Sen.. Đai rừng tự nhiên ven sông, dù đã bị tàn phá ít nhiều, là một kiểu nơi sống trở thành hiếm có hiện nay của vùng Đồng Tháp Mười. Thủy vực nước chảy tự nhiên (sông, rạch) là một kiểu sinh cảnh không có nhiều ở các khu bảo vệ đất ngập nước nội địa của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Hiện nay, toàn bộ khu vực đã được khoanh vùng bảo vệ, một số loài sinh vật đã được phục hồi. Tuy nhiên, vẫn còn việc xâm nhập của người dân địa phương vào trong vùng nầy để đánh bắt thủy sản, nhất là tại khu vực Cái He – nơi sinh sản của các loài cá, và việc bẩy và săn bắt các loài động vật hoang dã: chim, rái cá… đã góp phần làm giảm tính sự phóng phú các loài sinh vật tại đây. Diện tích trảng cỏ tự nhiên bị thu hẹp là một trở ngại trong việc làm bải ăn cho các loài chim nước. Cánh đồng lúa ma rộng lớn trước đây đã bị thu hẹp do chế độ quản lý nước chưa được tốt.

Kết luận[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dầu chỉ với những số liệu khảo sát ban đầu nhưng cho thấy Láng Sen là một vùng đất ngập nước với hệ thống sông rạch tự nhiên và sự đa dạng về địa mạo so với các vùng ngập nước khác của Đồng Tháp Mười. Đây là một trong những yếu tố tự nhiên góp phần cho sự đa dạng về nơi sống, về loài và về cảnh quan tự nhiên. Nếu được quản lý và bảo vệ tốt thì Láng Sen sẽ góp phần đáng kể vào việc bảo tồn sự đa dạng sinh học của vùng nội địa hạ lưu sông Mekong.

Do đó, sự tồn tại của Khu Bảo Tồn Đất Ngập Nước láng Sen sẽ góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên của vùng Đồng Tháp Mười, bảo vệ nguồn gen của các động thực vật quý hiếm, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, hoạt động du lịch sinh thái…

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lê Phát Quới và CTV,Hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học ở Khu Bảo Tồn Đất Ngập Nước Láng Sen, Kỷ yếu Hội thảo Xây dựng Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. 14/10/2006.
  • Lê Phát Quới và CTV, Báo cáo Bản đồ đất ngập nước KBT Đất Ngập Nước Láng Sen. Chương trình Đa dạng Sinh Học Đất ngập nước Mekong (MWBP). Tháng 12 năm 2006.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]