Kiêu Ngựa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thực thể địa lí tranh chấp
Bãi và đá Kiêu Ngựa
Ardasier Reef, Spratly Islands.png
Ảnh vệ tinh chụp đá Kiêu Ngựa (NASA)
Vị trí của bãi Kiêu Ngựa
Vị trí của bãi Kiêu Ngựa
Kiêu Ngựa
Địa lý
Vị trí Biển Đông
Tọa độ 7°42′B 114°10′Đ / 7,7°B 114,167°Đ / 7.700; 114.167 (bãi và đá Kiêu Ngựa)Tọa độ: 7°42′B 114°10′Đ / 7,7°B 114,167°Đ / 7.700; 114.167 (bãi và đá Kiêu Ngựa)
Quốc gia quản lý  Malaysia
Tranh chấp giữa
Quốc gia  Đài Loan

Quốc gia

 Malaysia

Quốc gia

 Philippines

Quốc gia

 Trung Quốc
Quốc gia
 Việt Nam

Kiêu Ngựa [Ghi chú 1] là tên gọi chung cho một hệ thống san hô ngầm ("bãi") và một rạn san hô vòng ("đá") thuộc hệ thống san hô ngầm đó. Cả hai thực thể đều thuộc cụm An Bang (cụm Thám Hiểm) của quần đảo Trường Sa. Bãi Kiêu Ngựa nằm cách bãi Thám Hiểm 10 hải lí (18,5 km) về phía tây nam[1] còn đá Kiêu Ngựa nằm ở cực tây nam của bãi cùng tên.

Kiêu Ngựa là đối tượng tranh chấp giữa Việt Nam, Đài Loan, Malaysia, PhilippinesTrung Quốc. Malaysia kiểm soát đá Kiêu Ngựa từ năm 1986 đến nay.

  • Tên gọi:
  • Đặc điểm:
    • Bãi Kiêu Ngựa: được hợp thành từ 30 bãi san hô khác nhau, nằm theo trục đông bắc-tây nam với chiều dài là 38 hải lí (70,4 km) và chiều rộng tối đa là 10 hải lí (18,5 km). Tổng diện tích của bãi lên đến 850 km2.[1]
    • Đá Kiêu Ngựa: là một trong số 30 bãi san hô thuộc bãi cùng tên và là thực thể duy nhất nổi lên khi thuỷ triều xuống. Đá này là một rạn san hô vòng có dạng một tam giác cân với diện tích đạt 8 km2.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1983, Malaysia chính thức tuyên bố quyết định chiếm bãi ngầm James, đá Hoa Lau, bãi Kiêu Ngựa, đá Kỳ Vân và xem chúng là một phần của "vùng kinh tế biển" theo cách gọi của nước này.[2] Tháng 11[3] (hay tháng 12[2]) năm 1986, hai mươi binh sĩ Malaysia đổ bộ chiếm đá Kiêu Ngựa.[4]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Có nơi ghi là "Kiệu Ngựa" nhưng bài này tuân theo tên gọi trong (1) Bản đồ Hành chính Việt Nam (tỉ lệ xích 1:2200000). Nhà xuất bản Bản đồ (2008) và (2) “Bản đồ hành chính. Phần bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hoà, huyện Trường Sa.”. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (Việt Nam). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2012. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Hancox & Prescott 1995, tr. 19
  2. ^ a ă Nguyễn Thái Linh (17 tháng 11 năm 2011). “Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (Kỳ cuối)”. Tạp chí Tia Sáng. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2011. 
  3. ^ Dzurek 1996, tr. 20-21
  4. ^ Asri, Che Hamdan & Kamaruzaman 2009, tr. 112-113

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Asri, Salleh; Che Hamdan, Che Mohd Razali; Kamaruzaman, Jusoff (2009), “Malaysia's Policy towards Its 1963-2008 Territorial Disputes”, Journal of Law and Conflict Resolution, 15 
  • Dzurek, Daniel J. (1996), The Spratly Islands Dispute: Who's on First?, Maritime Briefings 2, University of Durham, International Boundaries Research Unit, ISBN 978-1897643235 
  • Hancox, David; Prescott, Victor (1995), A Geographical Description of the Spratly Islands and an Account of Hydrographic Surveys amongst Those Islands, Maritime Briefings 1, International Boundaries Research Unit, University of Durham, ISBN 978-1897643181