Kiêu Ngựa
| Thực thể địa lí tranh chấp Bãi và đá Kiêu Ngựa |
|
|---|---|
Ảnh vệ tinh chụp đá Kiêu Ngựa (NASA) |
|
| Địa lý | |
| Vị trí | Biển Đông |
| Tọa độ | 7°42′B 114°10′Đ / 7,7°B 114,167°ĐTọa độ: 7°42′B 114°10′Đ / 7,7°B 114,167°Đ |
| Quốc gia quản lý | |
| Tranh chấp giữa | |
| Quốc gia | |
|
Quốc gia |
|
|
Quốc gia |
|
|
Quốc gia |
|
| Quốc gia |
|
Kiêu Ngựa [Ghi chú 1] là tên gọi chung cho một hệ thống san hô ngầm ("bãi") và một rạn san hô vòng ("đá") thuộc hệ thống san hô ngầm đó. Cả hai thực thể đều thuộc cụm An Bang (cụm Thám Hiểm) của quần đảo Trường Sa. Bãi Kiêu Ngựa nằm cách bãi Thám Hiểm 10 hải lí (18,5 km) về phía tây nam[1] còn đá Kiêu Ngựa nằm ở cực tây nam của bãi cùng tên.
Kiêu Ngựa là đối tượng tranh chấp giữa Việt Nam, Đài Loan, Malaysia, Philippines và Trung Quốc. Malaysia kiểm soát đá Kiêu Ngựa từ năm 1986 đến nay.
- Tên gọi:
- Bãi Kiêu Ngựa: tiếng Anh: Ardasier Bank; tiếng Mã Lai: Permatang Ubi; Trung văn giản thể: 安渡滩; bính âm: Āndù tān, Hán-Việt: An Độ than
- Đá Kiêu Ngựa: tiếng Anh: Ardasier Reef; tiếng Mã Lai: Terumbu Ubi; Trung văn giản thể: 光星仔礁; bính âm: Guāngxīngzǐ jiāo, Hán-Việt: Quang Tinh Tử tiêu
- Tiếng Filipino (chưa rõ dành cho "bãi" hay "đá"): Antonio Luna
- Đặc điểm:
- Bãi Kiêu Ngựa: được hợp thành từ 30 bãi san hô khác nhau, nằm theo trục đông bắc-tây nam với chiều dài là 38 hải lí (70,4 km) và chiều rộng tối đa là 10 hải lí (18,5 km). Tổng diện tích của bãi lên đến 850 km2.[1]
- Đá Kiêu Ngựa: là một trong số 30 bãi san hô thuộc bãi cùng tên và là thực thể duy nhất nổi lên khi thuỷ triều xuống. Đá này là một rạn san hô vòng có dạng một tam giác cân với diện tích đạt 8 km2.[1]
Lịch sử [sửa]
Tháng 9 năm 1983, Malaysia chính thức tuyên bố quyết định chiếm bãi ngầm James, đá Hoa Lau, bãi Kiêu Ngựa, đá Kỳ Vân và xem chúng là một phần của "vùng kinh tế biển" theo cách gọi của nước này.[2] Tháng 11[3] (hay tháng 12[2]) năm 1986, hai mươi binh sĩ Malaysia đổ bộ chiếm đá Kiêu Ngựa.[4]
Ghi chú [sửa]
- ^ Có nơi ghi là "Kiệu Ngựa" nhưng bài này tuân theo tên gọi trong (1) Bản đồ Hành chính Việt Nam (tỉ lệ xích 1:2200000). Nhà xuất bản Bản đồ (2008) và (2) “Bản đồ hành chính. Phần bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hoà, huyện Trường Sa.”. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (Việt Nam). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2012.
Tham khảo [sửa]
Chú thích [sửa]
- ^ a b c Hancox & Prescott 1995, tr. 19
- ^ a b Nguyễn Thái Linh (17 tháng 11 năm 2011). “Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (Kỳ cuối)”. Tạp chí Tia Sáng. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2011.
- ^ Dzurek 1996, tr. 20-21
- ^ Asri, Che Hamdan & Kamaruzaman 2009, tr. 112-113
Thư mục [sửa]
- Asri, Salleh; Che Hamdan, Che Mohd Razali; Kamaruzaman, Jusoff (2009), “Malaysia's Policy towards Its 1963-2008 Territorial Disputes”, Journal of Law and Conflict Resolution, 15
- Dzurek, Daniel J. (1996), The Spratly Islands Dispute: Who's on First?, Maritime Briefings 2, University of Durham, International Boundaries Research Unit, ISBN 978-1897643235
- Hancox, David; Prescott, Victor (1995), A Geographical Description of the Spratly Islands and an Account of Hydrographic Surveys amongst Those Islands, Maritime Briefings 1, International Boundaries Research Unit, University of Durham, ISBN 978-1897643181