Kiến Thụy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Kiến Thụy Bên cạnh cảnh non nước hữu tình ấy, huyện Kiến Thụy đã và đang khoác lên mình áo mới của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó là những nhà máy, xí nghiệp từ từ mọc lên, những ngôi nhà cao tầng khang trang; đặc biệt là cơ sở hạ tầng được nâng cấp sạch đẹp.

Với những nét đẹp, giá trị về văn hóa, lịch sử, huyện Kiến Thụy có tiềm năng phát triển về du lịch. Đặc biệt là sau khi hoàn thiệ Kinh Thành nhà Mac - Một công trình lịch sử cấp quốc gia, có quy mô, được đầu tư sẽ hứa hẹn mang lại cho huyện sự phát triển mới và được nhiều người biết tới hơn nữa. Hải Phòng.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến Thụy là một huyện nằm ven đô về phía Đông Nam thành phố Hải Phòng có diện tích tự nhiên 102,56 km², với dân số trên 12,5 vạn người. Phía Bắc và phía Đông giáp quận Dương KinhĐồ Sơn, phía Nam giáp huyện Tiên Lãng, phía Tây giáp quận Kiến An và huyện An Lão.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến Thụy xưa là vùng đất của Bộ Thang Tuyền, một trong 15 bộ của nước Văn Lang thời Hùng Vương. Đây cũng là vùng đất có nhiều nhân vật đi vào lịch sử như Trương Nữu, đại tướng quân thời Phùng Hưng có công chống lại ách đô hộ của nhà Đường; Tướng Vũ Hải thời nhà Trần có công chống Nguyên Mông...

Năm 1469, vua Lê Thánh Tông cắt đất huyện An Lão, lập huyện Nghi Dương gồm đất của huyện Kiến Thụy, thị xã Đồ Sơn và Kiến An. Năm 1837, vua Minh Mạng lập phủ Kiến Thụy gồm 3 huyện Nghi Dương, An Lão và An Dương. Thời Pháp thuộc, huyện Nghi Dương đổi thành phủ Kiến Thụy, thuộc tỉnh Kiến An. Sau Cách mạng tháng Tám (1945), bỏ cấp phủ, đổi làm huyện Kiến Thụy. Năm 1962, tỉnh Kiến An nhập vào thành phố Hải Phòng, huyện Kiến Thụy thuộc thành phố Hải Phòng, ban đầu gồm 19 xã: Bàng La, Đại Hà, Đại Hợp, Đoàn Xá, Đông Phương, Hòa Nghĩa, Hữu Bằng, Kiến Quốc, Minh Tân, Ngọc Hải, Ngũ Đoan, Ngũ Phúc, Tân Phong, Tân Trào, Thanh Sơn, Thiên Hương, Thụy Hương, Tú Sơn, Vạn Sơn. Năm 1963, tách khu vực Đồ Sơn và 2 xã: Vạn Sơn, Ngọc Hải để thành lập thị xã Đồ Sơn. Năm 1966, chuyển xã Bàng La về thị xã Đồ Sơn quản lý. Năm 1969, huyện tiếp nhận thêm 3 xã: Anh Dũng, Đa Phúc, Hưng Đạo từ huyện An Hải. Năm 1980, sáp nhập huyện Kiến Thụy và thị xã Đồ Sơn thành huyện Đồ Sơn. Năm 1987, thành lập thị trấn Núi Đối. Năm 1988, tách riêng thị xã Đồ Sơn, đổi tên huyện Đồ Sơn thành huyện Kiến Thụy, thành lập 2 xã Hải Thành và Tân Thành thuộc vùng kinh tế mới. Năm 2004, thành lập xã Du Lễ. Năm 2007, tách 6 xã: Anh Dũng, Hưng Đạo, Đa Phúc, Hòa Nghĩa, Hải Thành, Tân Thành thành lập quận Dương Kinh và xã Hợp Đức thành lập quận Đồ Sơn.

Kiến Thụy cũng là đất địa linh nhân kiệt, nơi phát tích vương triều nhà Mạc với Dương Kinh sầm uất một thời vào thế kỷ 16. Một số di tích về thành cổ và cung điện của Dương Kinh cũng mới được phát hiện tại đây(bài viết trên Thông Tấn Xã Việt Nam).

Huyện Kiến Thụy vẫn còn giữ được những đình chùa cổ kính với những phong cách kiến trúc độc đáo. Tiêu biểu là đền Mõ (xã Ngũ Phúc), thờ Quỳnh Trân công chúa thời Trần, người có công khai khẩn đất hoang, lập nên làng xã. Chùa Hoà Liễu (xã Thuận Thiên) thờ đức Thánh mẫu (mẹ) của vua Mạc Đăng Dung hầu như còn nguyên vẹn. Ngoài ra, nơi đây còn có miếu Cốc thờ Chử Đồng Tử, chùa Khánh Long thờ Tướng công Phạm Hải thời Hùng Vương thứ 18, đình Ninh Hải thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.

Gần 20 năm sau sự kiện ông Kim NgọcVĩnh Phú khoán chui, năm 1977, xã Đoàn Xá, Huyện Kiến Thụy là nơi đầu tiên trong cả nước thực hiện thành công mô hình khoán ruộng cho nông dân. Đây chính là khởi đầu cho cơ chế khoán nông nghiệp trong cả nước. Là bước quyết định chấm dứt thời kỳ đói kém của đất nước (Bài viết về hiện tượng Đoàn Xá).

Cảnh sắc[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng sông Đa Độ đến khu trung tâm huyện thì mở rộng ra như một hồ nước lớn, cùng với núi Đối soi bóng xuống dòng sông, tạo cho nơi đây một vùng đất "non nước hữu tình, cảnh như tranh vẽ".

Bên cạnh cảnh non nước hữu tình ấy, huyện Kiến Thụy đã và đang khoác lên mình áo mới của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó là những nhà máy, xí nghiệp từ từ mọc lên, những ngôi nhà cao tầng khang trang; đặc biệt là cơ sở hạ tầng được nâng cấp sạch đẹp.

Với những nét đẹp, giá trị về văn hóa, lịch sử, huyện Kiến Thụy có tiềm năng phát triển về du lịch. Đặc biệt là sau khi hoàn thiệ Kinh Thành nhà Mac - Một công trình lịch sử cấp quốc gia, có quy mô, được đầu tư sẽ hứa hẹn mang lại cho huyện sự phát triển mới và được nhiều người biết tới hơn nữa.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến Thụy có 17 xã và 1 thị trấn (thay đổi theo Nghị định số 145/2007/NĐ-CP ngày 12/9/2007).

  • Thị trấn Núi Đối
  • Xã Đông Phương
  • Xã Đại Đồng
  • Xã Hữu Bằng
  • Xã Thuận Thiên
  • Xã Du Lễ
  • Xã Ngũ Phúc
  • Kiến Quốc
  • Xã Thụy Hương
  • Xã Thanh Sơn
  • Xã Đại Hà
  • Xã Ngũ Đoan
  • Xã Tân Trào
  • Xã Đoàn Xá
  • Xã Đại Hợp
  • Xã Tú Sơn
  • Xã Tân Phong
  • Xã Minh Tân

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội vật cầu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Địa điểm: Làng Kim Sơn, xã Tân Trào.
  • Thời gian: Tổ chức vào ngày 6 tháng giêng của năm "Phong đăng hoa cốc", 3 năm mới tổ chức một lần.
  • Nội dung: Tương truyền, vật cầu vốn là môn thể thao do tướng Phạm Ngũ Lão (đời Trần) đặt ra để rèn luyện quân sỹ. Lễ hội này được chuẩn bị rất chu đáo ngay từ thang 11 nam truoc

Nguồn gốc của lễ hội vật cầu Kim Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chiến thăng quân nguyên trở về tướng quân Pham Ngũ Lão cùng quân sĩ đã dùng củ chuối hốt làm quả cầu và ch­ơi trò vật cầu để rèn luyện quân sĩ. và từ đó dân làng lấy trò chơi trên để đưa vào trò chơi đầu năm để đón xuân mới, lâu ngày trở thành lễ hội vật cầu của dân làng. Lễ hôi vât cầu thường tổ chức vào những năm được mùa (phong đăng hoả cốc)

Công tác chuẩn bị cho lễ họi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay t­ù đầu tháng 11 âm lịch của năm truóc, các cụ già lang cùng với các chúc sắc trong làng họp bàn chuẩn bị cho công tác tổ chức cho lễ hội. Trong làng có 24 dòng họ và được chia làm 3 giáp, mỗi giáp bằng 8 dòng họ. Mỗi một giáp phải chọn cho giáp mình 6 người trong đó có 1 ông làm tổng cờ chỉ huy quân của mình và 5 đô vật. Đô vât phải là nhũng thanh niên khỏe mạnh và chưa lập gia đình. Mỗi môt giáp phải d­ụng 1 cỏng chào biểu tuọng cho giáp của minh (giáp áo đỏ, giáp áo vàng, giáp áo xanh)

Tìm củ chuôi làm quả cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Quả cầu đuọc làm bằng củ chuôi hôt nặng 20 kg củ chuôi hôt phải già và lâu năm, và phải do ông truỏng làng đi tìm và đào mang về. Quả cầu đuọc bọc giấy hòng điều trang trí kiểu (long ly quy phuong). Sau khi trang trí xong thi duọc đặt vào kiêu để ở án thờ trong đình làng.

Chuẩn bị lễ hôi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay t­ù sáng ngày 30 tết 3 giáp và nhân dân trong làng đã nô núc chuẩn bị làm cỏng chào. Công chào đuọc làm bằng tre quấn rơm, mỗi công chào có môt tên riêng đại diên cho t­ùng giáp (Anh hùng Trần Lục, Vật ngã giai xuân, Kiến nhu đại tân). Tối 30 tết cả làng ra đình làng để tế thành hoàng làng.

Lễ hôi vật cầu Kim sơn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phần lễ: chiều ngày 5 tết âm lịch nhân dân và ban tổ ch­úc lễ hôi, tổ chúc tế thành hoàng và tế quả cầu. Buổi tối tổ chúc các hoạt động văn nghệ, sáng ngày 6 tết tù 7 giờ các già làng đã tổ chúc làm lễ duóc cầu tù trong đình ra ngoài sân đình và ban riêu lộc cho các giai vật cầu. Sau khi làm lễ ban riêu xong thì đoàn duóc cầu ra sân vật. Đoàn duoc cầu gồm: kiệu duóc ảnh Bác Hồ đoàn cờ hội, bát âm, bát biểu, bát âm, quả cầu biểu tuọng, quả cầu vật đoàn tế nam, tế nũ, tổ múa cờ, múa rồng, tổ trong tài, sau đó mới là đoàn giai vật cầu
  • Phần hội: đúng 9 giờ quả cầu biểu tuọng duọc mở ra, và lễ hội đ­ược bắt đầu. vât cầu có 3 keo mỗi keo là 15 phút. sau mỗi keo vật có nghỉ giải lao, trong giờ giải lao là có múa cờ, múa rồng xen kẽ. Thể lệ vật cầu nh­u sau: Đội nào mang đuọc quả cầu tù hố cầu cái về hố cầu quân ở giáp mình thì đội đó là thắng

Hộ chèo bơi - Đi kheo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Địa điểm: Thôn Quần Mục, xã Đại Hợp.
  • Thời gian: Lễ hội được diễn ra vào mùa xuân hàng năm.
  • Nội dung: Theo các già làng địa phương cho biết trước Cách mạng tháng Tám, cứ vào tháng giêng âm lịch, chọn ngày con nước dừng (nước không lên, không xuống) dân làng lại hội tụ ở đình làng đề tổ chức rước xách, cầu nguyện, rồi mở hội chèo bơi. Mục đích là "khai xuân" vào năm mới, phục vụ cho nghề đi biển.

Mỗi xóm cử một thuyền trưởng cầm lái và 12 trai làng khoẻ mạnh, hiền hoà, có kinh nghiệm, có kỹ thuật chèo thuyền. Thủ tục này được làm nghiêm túc, công minh, do các ông cao tuổi lựa chọn. Từ chiều hôm trước, các xóm tổ chức phóng thẻ để chọn người. Đúng 8 giờ sáng chủ nhật, Hội dóng 3 hồi trống, gần 40 trai làng của 3 thuyền, với trang phục quần dài, mặc áo nâu, đầu quấn khăn nhiễu điều, lưng thắt bao tượng xanh, khẩn trương xuống thuyền chờ lệnh xuất phát. Trên bờ người đứng vòng trong, vòng ngoài hò reo như sấm dậy. Chủ hội gọi loa giới thiệu các thuyền theo vị trí từng số để người xem tiện theo dõi. Đây cũng là dịp để các tay chèo chuẩn bị ổn định tâm lý để cuộc đua bắt đầu. Theo quy định. Từ chỗ thuyền xuất phát tới đích, cự hly khoảng 1000 mét. Vị trí có cắm cọc tre (vè) giới hạn. Mỗi thuyền phải đi 3 vòng và về 3 vòng. Thuyền nào dủ 6 vòng nhổ vè trước là thắng cuộc.

Sau khi tổ chức chèo bơi, với mục đích là khai việc đầu năm, Ban tổ chức lại cho diễn tích trò đi kheo. Kheo là một dụng cụ người dân nơi đây dùng để đi te, bắt tôm cá biển. Có những cái kheo cao tới 5 mét, nếu kẻ cả người lẫn kheo thì nhiều khi cao tới gần 7 mét. Khi diễn ra trò đi kheo, người tham dự được cầm gậy để pha trò rất vui nhộn. Đi kheo là một trò làm rất khó. Đòi hỏi người diễn trò phải giữ thăng bằng tốt và có sự bình tĩnh cần thiết.

Hội chèo bơi - đi kheo ở Quần mục, Đại Hợp, Kiến Thụy diễn ra rất đều đặntừ suốt trước cách mạng tháng tám (1945) đến nay. Nó trở thành một nét văn hoá đặc sắc của người dân nơi đây.

Lễ hộ rước lợn Ông Bồ, Chạy Đá, Hát Đúm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Địa điểm: Kỳ Sơn Tân Trào huyện Kiến Thuỵ
  • Thời gian: Ngày 10 tháng giêng âm lịch

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp quận huyện trực thuộc thành phố Hải Phòng, Việt Nam
Quận (7): Dương Kinh | Đồ Sơn | Hải An | Hồng Bàng | Kiến An | Lê Chân | Ngô Quyền
Huyện (8): An Dương | An Lão | Bạch Long Vĩ | Cát Hải | Kiến Thụy | Thủy Nguyên | Tiên Lãng | Vĩnh Bảo


huyện Hải Phòng