Kiểu 99 (súng máy hạng nhẹ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Súng máy hạng nhẹ Kiểu 99
Type99LMG.JPG
Súng máy hạng nhẹ Kiểu 99
Loại Súng máy hạng nhẹ
Nguồn gốc  Nhật Bản
Lược sử hoạt động
Trang bị 1939-1945
Quốc gia sử dụng War flag of the Imperial Japanese Army.svg Quân đội hoàng gia Nhật Bản
Sử dụng trong
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Nambu Kijiro
Năm thiết kế 1939
Giai đoạn sản xuất 1939-1945
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 11,4 kg
Chiều dài 1181 mm
Cỡ nòng  550 mm

Đạn 7,7×58mm Arisaka
Cơ cấu hoạt động Nạp đạn bằng khí nén
Tốc độ bắn 450-500 viên/phút
Sơ tốc 715 m/s
Cơ cấu nạp Hộp đạn 30 viên

Súng máy hạng nhẹ Kiểu 99 (九九式軽機関銃, Kyūkyū-shiki Kei-kikanjū) là loại súng máy hạng nhẹ được quân đội hoàng gia Nhật Bản sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ hai.

Lịch sử và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Súng máy hạng nhẹ Kiểu 99 được phát triển dựa trên súng máy hạng nhẹ Kiểu 11 được giới thiệu trong chiến đấu vào năm 1936. Nó nhanh chóng chứng minh được sự đa năng của mình và rất hữu hiệu trong việc bắn yểm trợ cho bộ binh. Cả hai loại súng máy Kiểu 11 và Kiểu 96 điều sử dụng loại đạn 6.5x50mm Arisaka vốn dùng cho súng trường Kiểu 38. Hệ thống vũ khí này rất có ích vì bất kỳ thành viên nào trong một đội điều có thể cung cấp đạn cho súng máy hạng nhẹ, tuy nhiên với việc quân đội hoàng gia Nhật Bản chuyển từ sử dụng súng trường Kiểu 38 sang súng trường Kiểu 99 sử dụng loại đạn 7.7 mm làm nảy sinh việc cần thiết phải thiết kế một loại súng máy hạng nhẹ tương tự Kiểu 96 có thể sử dụng loại đạn lớn này.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Súng máy hạng nhẹ Kiểu 99 có các thiết kế giống như Kiểu 96, các bộ phận của nó khá phổ biến nên sẽ dễ dàng sửa chữa hay thay thế. Tuy nhiên việc không phải tra dầu nhớt thường xuyên cũng như các bộ phận cơ bản của nó tốt hơn làm tăng độ tin cậy của loại vũ khí này so với các phiên bản trước. Các phiên bản đầu của nó có gắn chân chống chữ I và bộ phận chống chớp sáng (nó làm cho nòng súng dài ra). Băng đạn gắn phía trên chứa 30 viên, và nòng súng có quai giúp nó dễ dàng được tháo ra và gắn vô nhanh chóng chống lại việc bị quá nóng.

Kiểu 99 có một lưỡi lê gắn ở phía đầu súng và một bộ phận dùng để gắn một cái lá hay một chùm lông nhẹ để xác định hướng gió. Ống ngắm 2.5X có thể gắn vào phía bên phải của súng với góc chếch trong phạm vi 10 độ. Chúng thường được cấp cho các xạ thủ tốt nhất trong nhóm và được dùng trong các nhiệm vụ bắn tỉa. Lưỡi lê có thể gắn ở phần ống trích khí bên dưới súng.

Chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Kiểu 99 đã được đưa vào sử dụng từ năm 1939 nó được thấy tác chiến bên cạnh các loại súng máy Kiểu 11 và Kiểu 96 vì các loại súng này đã được sản xuất với số lượng rất lớn và cũng do rất nhiều đội quân trên chiến tuyến vẫn sử dụng súng trường Kiểu 38 và loại đạn 6.5 mm của chúng. Cả ba loại súng máy đều vẫn được sử dụng cho đến khi Nhật Bản đầu hàng.

Các biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Một số rất ít phiên bản của Kiểu 99 được sản xuất dành cho đơn vị lính dù. Nó có báng súng có thể tháo rời và thậm chí có thể gấp lại. Để sử dụng báng súng và nòng súng được gắn với nhau, cò súng và bệ chống ba chân được gắn vào sau đó, tất cả các bộ phận này đều có thể bỏ trong ba lô chiến đấu.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bishop, Chris (eds) (1998). The Encyclopedia of Weapons of World War II. Barnes & Nobel. ISBN 0760710228.
  • Mayer, S.L. (1984). The Rise and Fall of Imperial Japan. The Military Press. ISBN 0517423138.
  • Morse, D.R. (1996). Japanese Small Arms of WW2; Light Machine Guns Models 11, 96, 99 97 & 92. Firing Pin Enterprizes. ASIN: B000KFVGSU.
  • Popenker, Maxim (2008). Machine Gun: The Development of the Machine Gun from the Nineteenth Century to the Present Day. Crowood. ISBN 1847970303.
  • Rottman, Gordon L. (2005). Japanese Infantryman 1937-1945. Osprey Publishing. ISBN 1841768189.
  • US Department of War (1994 reprint). Handbook on Japanese Military Forces, TM-E 30-480 (1945). Louisiana State University Press. ISBN 0807120138.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]