Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phân bố các kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại trên thế giới (2005)

Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại (tiếng Anh: Masterpieces of the Oral and Intangible Heritage of Humanity) - hay cũng thường gọi là Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới - là danh sách được UNESCO đưa ra để công nhận giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể trên thế giới. Danh sách này được bắt đầu năm 2001 với 19 di sản, năm 2003 danh sách có thêm 28 di sản. Danh sách tiếp theo được lập vào ngày 25 tháng 11 năm 2005.

Mỗi di sản văn hóa phi vật thể muốn có tên trong danh sách phải được một hoặc nhiều quốc gia đề cử cho UNESCO trước khi được một ủy ban của tổ chức này xem xét khả năng đưa vào danh sách.

Tại hội nghị lần thứ 3 họp tại Istanbul tháng 11/2008, để nâng cao nhận thức về tính cấp thiết của vấn đề bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, Ủy ban liên chính phủ về bảo tồn Di sản phi vật thể đã đưa ra hai danh sách:

  • Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
  • Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp

Các kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại đã được công bố trước đây nay được chuyển vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách này biểu hiện sự đa dạng của các di sản văn hóa phi vật thể và giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của các di sản đó. UNESCO đã công bố 90 di sản trong năm 2008 (trước đây đã được công bố là kiệt tác), 76 di sản trong năm 2009 và 47 di sản trong năm 2010[1].

Tính đến cuối năm 2010, có 213 di sản được UNESCO công nhân là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại[1]. Thống kê cụ thể như sau:

Vùng Số lượng di sản phi vật thể đại diện của nhân loại Số nước/vùng lãnh thổ có di sản Số lượng di sản đa quốc gia Ghi chú
Châu Phi 17 15 3
Các nước Arập 11 12 2 Trong đó có 01 di sản chung với khu vực châu Âu và Bắc Mỹ, 01 di sản với khu vực châu Âu và Bắc Mỹ và khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Châu Á-Thái Bình Dương 102 20[E] 4 Trong đó có 01 di sản chung với khu vực châu Âu và Bắc Mỹ, 01 di sản chung với các nước Arập và khu vực châu Âu và Bắc Mỹ.
Châu Âu và Bắc Mỹ 57 21[F] 5 Trong đó có 01 di sản chung với các nước Arập, 01 di sản với các nước Arập và châu Á-Thái Bình Dương, 01 di sản với khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Châu Mỹ Latinh và Caribbe 30 16 3
Tổng số 213 84 13

Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng từ năm 2008, UNESCO bổ sung thêm Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, gồm các di sản phi vật thể mà cộng đồng có liên quan và các quốc gia thành viên UNESCO cần có các biện pháp khẩn cấp để bảo tồn. Danh sách này góp phần huy động sự hợp tác quốc tế và sự hỗ trợ cho các bên liên quan để thực hiện các biện pháp bảo vệ thích hợp. Trong năm 2009, UNESCO công bố 12 di sản và trong năm 2010 là 10 di sản thuộc nhóm này.

Quốc gia/vùng lãnh thổ Tên di sản Năm được công nhận
Trung Quốc Meshrep 2010
Trung Quốc Kỹ thuật đóng thuyền không thấm nước của Trung Quốc 2010
Trung Quốc Wooden movable-type printing of China 2010
Croatia Hát Ojkanje 2010
Việt Nam Ca trù 2009
Pháp Cantu ở paghjella: trường ca và nghi thức tế lễ truyền miệng trên đảo Cors 2009
Mông Cổ Mongol Biyelgee, vũ điệu dân gian cổ truyền Mông Cổ 2009
Mông Cổ Mongol Tuuli, thiên sử thi Mông Cổ 2009
Trung Quốc Lễ hội năm mới của dân tộc Khương 2009
Belarus Rite of the Kalyady Tsars (Christmas Tsars) 2009
Mali The Sanké mon: collective fishing rite of the Sanké 2009
Latvia Không gian văn hóa Suiti 2009
Trung Quốc Meshrep 2009
Trung Quốc Traditional design and practices for building Chinese wooden arch bridges 2009
Trung Quốc Kĩ thuật dệt vải cổ truyền của dân tộc Lê (đảo Hải Nam): xe sợi, nhuộm, dệt và thêu 2009
Mông Cổ Nhạc cổ truyền của Tsuur 2009
Kenya Traditions and practices associated to the Kayas in the sacred forests of the Mijikenda 2009

Ngoài ra, trong năm 2009, UNESCO cũng công nhận ba di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp nhất theo điều 18 của Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (tiếng Anh: Register of best Intangible Heritage safeguarding activities - Article 18).

Quốc gia/vùng lãnh thổ Tên di sản Năm được công nhận
Tây Ban Nha Centre for traditional culture – school museum of Pusol pedagogic project 2009
Indonesia Education and training in Indonesian Batik intangible cultural heritage for elementary, junior, senior, vocational school and polytechnic students, in collaboration with the Batik Museum in Pekalongan 2009
Bolivia (Plurinational State of) – Chile – Peru Safeguarding intangible cultural heritage of Aymara communities in Bolivia, Chile and Peru 2009

Di sản phi vật thể tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam hiện đã có 8 di sản phi vật thể được UNESCO công nhận là kiệt tác của nhân loại theo thứ tự từ mới nhất đến cũ nhất là:

  • Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 5/12/2013 tại phiên họp Uỷ ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hoà Azerbaijan.
  • Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 6/12/2012.
  • Hát xoan là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được công nhận ngày 24/11/2011.
  • Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 16/11/2010.
  • Ca trù là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được công nhận ngày 01/10/2009.
  • Dân ca Quan họ, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 30/9/2009.
  • Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm 2005, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
  • Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Các đề cử mới cho di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam:

  • Dân ca Ví Dặm Xứ Nghệ (Nghệ An và Hà Tĩnh) (đề cử trong kì hợp năm 2014)
  • Nghề làm tranh Đông Hồ (Bắc Ninh)
  • Múa Rối Nước (Hải Dương)
  • Sử thi Tây Nguyên (tỉnh Đak Lak chủ trì)
  • Tục chơi bài chòi của người Việt tại Nam Trung Bộ (sẽ đề cử trong kì hợp năm 2016)
  • Nghề làm gốm của người Chăm (Bình Thuận)
  • Kiến thức và Thực hành Thổ Canh Hốc Đá của các dân tộc thiểu số tại Vùng cao nguyên đá Hà Giang
  • Nghi lễ Then của Người Tày (đang hoàn thiện)
  • Nghi lễ Chầu Văn của người Việt (sửa đổi thành hồ sơ " Tín ngưỡng thờ mẫu Tam phủ của người Việt" do tỉnh Nam Định chủ trì, đề cử trong kì họp năm 2015)
  • Nghi lễ Cấp Sắc của người Dao
  • Nghệ thuật Xoè của Người Thái
  • Nghệ thuật Dù Kê của người Khơ Me
  • Các nghi thức và trò chơi Kéo co ở Việt Nam, Hàn Quốc, Philipin và Campuchia (hồ sơ đa quốc gia đầu tiên, đề cử trong kì họp năm 2015)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă UNESCO. Intangible Heritage Lists. Truy cập 22/01/2011.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • UNESCO - Trang web chính thức của UNESCO