Killing in the Name

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Killing in the Name"
Đĩa đơn của Rage Against the Machine
từ album Rage Against the Machine
Phát hành Tháng 11, 1992
Định dạng Đĩa đơn CD, đĩa đơn 7", đĩa đơn 12", băng cassette, download nhạc số (tái bản 2009)
Thể loại Alternative metal, rap metal
Thời lượng 5:14 (phiên bản album)
4:06 (chỉnh sửa radio)
Hãng đĩa Epic Records
Sáng tác Rage Against the Machine
Sản xuất Garth "GGGarth" Richardson, Rage Against the Machine
Thứ tự đĩa đơn của Rage Against the Machine
"Killing in the Name"
(1992)
"Bullet In The Head"
(1993)
Nhạc mẫu
trợ giúpthông tin
Bìa thay thế
Large red block capitals on black background reads "killing in the name."
Bìa ở Australasia
Thứ tự bài hát của Rage Against the Machine
"Bombtrack"
(1)
"Killing in the Name"
(2)
"Take the Power Back"
(3)

"Killing in the Name" là ca khúc của ban nhạc rap metal Mỹ Rage Against the Machine, trong album lấy tên nhóm năm 1992. Phát hành như một đĩa đơn chính từ album này vào tháng 11, năm 1992, bài hát đã đạt vị trí 25 trên UK Singles Chart. Trong một số trường hợp, bài hát có thể mang tựa đề Killing in the Name Of, nhưng điều này không chính xác khi so sánh với danh sách ca khúc trong album đầu tay của Rage Against the Machine.

Viết về cuộc cách mạng chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong lực lượng bảo mật, "Killing in the Name" được nhìn nhận như một ca khúc mang nhãn hiệu của nhóm và được chú ý vì những đoạn guitar lặp lại và cách sử dụng ngôn ngữ một cách nặng nề và mạnh mẽ.

Năm 2009, ca khúc là một phần trong một chiến dịch trên Facebook để cản trở ca khúc của người chiến thắng The X Factor giành danh hiệu đĩa đơn quán quân dịp Giáng sinh tại Liên hiệp Anh.Chiến dịch đã gây nên nhiều ý kiến bình luận từ nhiều ban nhạc và nghệ sĩ khác, nó cũng gây được sự chú ý từ các ấn phẩm trong và ngoài nước. Ca khúc cũng trở thành đĩa đơn đầu tiên đạt thứ hạng quán quân dịp Giáng sinh chỉ từ doanh số download.

Ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát lặp lại sáu dòng lời nhằm làm nổi bật sự phân biệt chủng tộc trong lực lượng bảo mật với đoạn điệp khúc, "Some of those that work forces, are the same that burn crosses," (một vài điều đó có ảnh hưởng như đốt những cây thánh giá), ám chỉ về việc đốt cháy thánh giá của hội Ku Klux Klan. Phiên bản không bị kiểm duyệt của bài hát chứa đến 17 lần từ "Fuck ".[1] Bài hát được viết một cách dữ dội, lặp lại dòng "And now you do what they told ya. And now you're under control" ("Và bây giờ bạn làm những gì họ nói với bạn. Và bây giờ bạn đã bị kiểm soát") và lên đến cực điểm với tiếng hét của Zack de la Rocha "Fuck you, I won't do what you tell me! Motherfucker!".[2]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Epic Records phát hành album đầu tay mang tên nhóm Rage Against the Machine vào ngày 6 tháng 11, năm 1992. Album mang đĩa đơn "Killing in the Name", "Freedom" và "Take the Power Back".[3]

Danh sách track trên đĩa đơn:

  1. "Killing in the Name"
  2. "Darkness"
  3. "Clear the Lane"

"Darkness" và "Clear the Lane" là những phiên bản đã được chỉnh sửa lại từ những bản demo.

Thiết kế bìa[sửa | sửa mã nguồn]

Bìa album có nguồn gốc từ bức ảnh đoạt giải World Press Photo của Malcolm Browne về Thích Quảng Đức, một hòa thượng Việt Nam đã tự thiêu tại Sài Gòn năm 1963 để phản đối sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm.[1]
Một bìa thay thế được sử dụng ở Australia mang dòng chữ "killing in the name" viết hoa, khổ lớn màu đỏ và một phần nhỏ của bức ảnh của Thích Quảng Đức xuất hiện ở góc dưới bên phải.[4]

Chiến dịch giành quán quân Giáng sinh 2009[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đầu tháng 12, năm 2009, Jon và Tracy Morter thành lập một nhóm trên trang mạng xã hội Facebook khuyến khích mọi người mua ca khúc vào tuần trước Giáng sinh để cản trở người chiến thắng chương trình truyền hình The X Factor giành vị trí quán quân vào dịp Giáng sinh trên UK Singles Chart năm năm liền.[5][6] Vào ngày 15 tháng 12, BBC thông báo nhóm đã có trên 750.000 thành viên.[7]

Sau khi người sáng lập The X Factor, Simon Cowell công khai cho rằng chiến dịch này là "ngu ngốc" ("stupid") và "bất chấp lẽ thường" ("cynical"),[8] nhóm đã chiếm được nhiều sự chú ý và xuất hiện trên nhiều kênh tin tức, đài phát thanh và website ở Liên hiệp Anh. Chiến dịch còn nhận được sự ủng hộ từ Paul McCartney, người đã xuất hiện trên X Factor với những ứng cử viên chung cuộc.[9][10] Cặp thí sinh John & Edward của X Factor cũng ủng hộ cho chiến dịch.[11] Đáng chú ý là cả The X FactorRage Against the Machine đều ký với các hãng thu âm đều là những công ty con của Sony BMG.[7][12][13]

Vào ngày 20 tháng 12, 2009, BBC Radio 1 thông báo ca khúc đã thành công khi xếp vị trí quán quân, bán được trên 500.000 bản và trở thành đĩa đơn đầu tiên chỉ dựa vào doanh số download để giành vị trí số một trong lịch sử.[14] Tuần sau đó bản cover "The Climb" của Joe McElderry cuối cùng cũng trở thành đĩa đơn quán quân ở Anh #1 năm 2009. Killing In The Name xuống vị trí thứ hai và rơi xuống 38 bậc đến vị trí 40 vào tuần kế tiếp,[15][16] và tiếp tục rơi khỏi top 75 vào tuần kế tiếp, đứng vị trí #100.[17] Một dự án khác cùng mục đích với ca khúc "Never Gonna Give You Up" của ca sĩ Rick Astley diễn ra vào năm 2008 nhưng không thành công.

Bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Lời của "Killing in the Name" xuất hiện trong văn hóa đại chúng. Một bức ảnh màu xanh nhạt của George W. Bush với dòng chữ "Killing in the Name of" viết phía trên.
Bảng xếp hạng Năm Vị trí
cao nhất
UK Singles Chart 1992
25
Irish Singles Chart[18][19] 2009
2
UK Singles Chart[14] 2009
1
European Hot 100 Singles[20] 2009
4
Bảng xếp hạng (2000–2009) Vị trí
cao nhất
UK Top 100 Songs of the Decade
(100 bài hát của thập kỷ)
36[21]

Năm 1993, ca khúc cũng đạt vị trí #7 tại Australia, #8 tại New Zealand và #13 tại Hà Lan.[22]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “The History Of: Rage Against The Machine”. Ultimate Guitar. 27 tháng 7 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  2. ^ Laura L. Finley (9 tháng 3 năm 2002). “The Lyrics of Rage Against the Machine: A Study in Radical Criminology,”. Journal of Criminal Justice and Popular Culture (Western Michigan University: JCJPC). ISSN 1070-8286. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2002. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009. 
  3. ^ Sonya Shelton (16 tháng 11 năm 2009). “Rage Against the Machine Biography: Contemporary Musicians”. eNotes. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009.  (PDF)
  4. ^ “Countdown: Hottest 100 - Off All Time”. Triple J. 1 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009. 
  5. ^ “Rage Against The Machine to take on 'The X Factor' for Christmas Number One”. New Musical Express. 4 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009. 
  6. ^ Johnny Famethrowa (4 tháng 12 năm 2009). “Rage Against The "X-Factor"”. Yahoo! Music. Yahoo!. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009. 
  7. ^ a ă “Rock anthem outselling X Factor winner Joe McElderry”. BBC. 15 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009. 
  8. ^ Liz Thomas (11 tháng 12 năm 2009). “Future of X Factor in chaos as Simon Cowell demands more money to return show to ITV”. The Daily Mail. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009. “[Simon Cowell] The X Factor creator and judge said the Facebook campaign, which he saw as a personal vendetta against him, was 'cynical' and 'dismissive' of the show's viewers.” 
  9. ^ Steve Hargrave (18 tháng 12 năm 2009). “Macca Backs Rage Against X Factor No 1”. Sky News. British Sky Broadcasting. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. “He's just some kid with a career ahead. I've got nothing against that, but it would be kind of funny if Rage Against The Machine got it because it would prove a point.” 
  10. ^ “Rage Against the Machine for Christmas No 1: The celebrities wade in”. The Guardian. 18 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. “Paul McCartney, Cheryl Cole and Simon Cowell get dragged into the most heated race for Christmas No 1 in years” 
  11. ^ Jonny Greatrex (19 tháng 12 năm 2009). “X Factor's Jedward support Rage Against The Machine in battle with Joe McElderry to Christmas Number One”. The Sunday Mercury online. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2009. 
  12. ^ Brian Boyd (18 tháng 12 năm 2009). “Sony the ultimate winner in rage against the X Factor machine on music”. The Irish Times. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2009. “The great irony [...] is that both the gormless Joe McElderry and everyone’s favourite alt.metal anarcho-rockers are signed to the same label” 
  13. ^ Sam Jones (15 tháng 12 năm 2009). “Rage against Cowell fuels battle for Christmas No 1”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2009. “Whoever wins, though, the bosses of Sony Music will doubtless be full of festive cheer as both McElderry and Rage Against the Machine are signed to labels owned by the recording behemoth.” 
  14. ^ a ă “Rage Against the Machine beat X Factor winner in charts”. BBC. 20 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2009. “The Los Angeles rock band's hit also set two records: it is the first single to reach the top of the Christmas charts on download sales alone and has achieved the biggest download sales total in a first week ever in the UK charts.” 
  15. ^ “UK Singles Top 75”. 3 tháng 1, 2010. 
  16. ^ “Bublé takes smooth path to top of charts”. 
  17. ^ UK Singles Chart - chart run
  18. ^ Daniel Kilkelly (18 tháng 12 năm 2009). “Joe McElderry beats Rage in Ireland”. Digital Spy. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2009. 
  19. ^ “Rage Against The Machine - Killing In The Name”. 
  20. ^ http://www.billboard.com/#/charts/european-hot-100
  21. ^ Nihal (30 tháng 12 năm 2009). “Christmas and New Year on Radio 1, Chart of the Decade.”. BBC Radio 1. BBC. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010. 
  22. ^ Steffen Hung. “Rage Against The Machine - Killing In The Name”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền vị:
"Hallelujah" của Alexandra Burke
Đĩa đơn quán quân Giáng sinh Liên hiệp Anh
2009
Kế vị
đương nhiệm
Tiền vị:
"Bad Romance" của Lady Gaga
Đĩa đơn quán quân UK Singles Chart
20 tháng 12, 2009 – 26 tháng 12, 2009
Kế vị
"The Climb" của Joe McElderry
Đĩa đơn quán quân UK Download Chart
20 tháng 12, 2009 – 2 tháng 1, 2010
Kế vị
"Bad Romance" của Lady Gaga