Kim Ki Duk

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kim Ki Duk
Kim Ki Duk
Hangul 김기덕
Hanja (Hán tự) 金基德
Hán-Việt Kim Cơ Đức
McCune-Reischauer Kim Ki-dŏk
Romaja quốc ngữ Gim Gi-deok

Kim Ki Duk (sinh vào năm 1960) là đạo diễn Hàn Quốc nổi tiếng không xuất thân từ một trường đào tạo điện ảnh chính quy, với phong cách độc đáo mang lại bản sắc riêng không chỉ trong điện ảnh Hàn Quốc, mà cả thế giới.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Ki Duk sinh ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại Bonghwa, phía bắc tỉnh Kyungsang, Hàn Quốc. Lớn lên tại một làng thuộc miền núi, ông là một cậu bé nghịch ngợm hay bẻ tay những đứa trẻ khác. Năm lên 9 tuổi, ông và gia đình cùng lên Seoul sống. Ông vào học tại một trường dạy về nghề nông, nhưng ông đã bỏ học nửa chừng ngay sau khi anh trai của mình bị đuổi học. Ông phải đi kiếm việc làm ở các xí nghiệp và năm 20 tuổi ông gia nhập hải quân. Ông rất thích hợp với cuộc sống tại quân ngũ, suốt 5 năm ông được làm nhân viên sĩ quan cấp thấp. Môi trường này đã giúp ông có nhiều vốn sống về tình chiến hữu mà sau này ông đã đưa vào phim của mình.

Sau khi xuất ngũ, ông trải qua 2 năm ở một nhà thờ với mục đích trở thành một linh mục trong khi ông tiếp tục công việc vẽ tranh như khi ông làm hồi bé. Năm 1990, khi đủ tiền mua vé máy bay, ông quyết định sang Paris. Để trang trải cho chi phí hàng ngày ông phải bán tranh và làm việc tại một xưởng vẽ. Khi ông đến Paris, ông xem "việc sản xuất bằng sức lao động của con người là điều đáng quý nhất trong cuộc sống và ông bỏ mặc những ý nghĩ về văn hóa và xem nó như một thứ xa xỉ" nhưng những gì ông thấy ở đây đã khiến cho ông một cái nhìn mới.

Sau khi trở về từ Pháp, ông tập trung rèn luyện việc viết kịch bản của mình trong suốt 6 tháng. 2 trong số những kịch bản của mình đã được chọn trong cuộc thi viết kịch bản. Không quen với việc sáng tác, không đề cập tới việc sử dụng từ ngữ, ông đã chăm chỉ sáng tác những kịch bản đề cập tới những vấn đề diễn ra gần gũi với cuộc sống mà ông đã từng trải qua. Việc sử dụng từ ngữ cũng là một đặc điểm nổi bật của Kim Ki Duk. Phim của ông không có nhiều các đoạn thoại. Nó gần như là một bộ phim câm mà tất cả các tình tiết đã tự nói lên nhiều điều.

Phim của Kim Ki Duk[sửa | sửa mã nguồn]

Phim của Kim Ki Duk xoáy sâu vào tâm lý con người, đôi khi vượt quá sự cảm nhận thông thường. Nó cho thấy một cách nhìn, một thế giới quan khác lạ của Kim Ki Duk. Ông làm phim đầu tay vào năm 1996, Crocodile, kể về một người đàn ông chuyên thu thập xác những người tự sát. Những bộ phim của Kim Ki Duk về đề tài phụ nữ luôn bị lên án mạnh mẽ. Năm 1999 bộ phim The Isle miêu tả về cuộc sống, tình cảm của những cô gái điếm đã đoạt giải Quạ vàng của Liên hoan phim viễn tưởng quốc tế của Bỉ, giải Netpac cho phim đáng chú ý nhất Liên hoan phim Venezia. Phim Address Unknown (2001) đoạt giải Đại Linh của điện ảnh Hàn Quốc cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất và nhận đề cử Sư tử vàng Liên hoan phim quốc tế Venice; phim Bad guy (2001) đoạt giải Đại Chung Nữ diễn mới xuất sắc nhất, giải Orient Express tại Liên hoan phim quốc tế Catalonia của Tây Ban Nha và nhận đề cử Gấu Vàng Liên hoan phim quốc tế Berlin; phim The Coast Guard (2002) đoạt giải FIPRESCI, giải Netpac tại Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary, giải Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất cho Jang Dong Gun tại Liên hoan phim Châu Á-Thái Bình Dương; phim Spring, Summer, Fall, Winter... and Spring (2003) đoạt giải C.I.C.A.E., Don Quixote và giải thưởng của Ban giám khảo trẻ tại Liên hoan phim quốc tế Locarno, giải thưởng Khán giả bình chọn của Liên hoan phim quốc tế San Sebastian, giải Đại Chung phim xuất sắc nhất 2004; phim Samaritan Girl (2004) đoạt giải Gấu Bạc Đạo diễn xuất sắc nhất Liên hoan phim quốc tế Berlin; phim 3-Iron (2004) đoạt giải Golden Spike tại Liên hoan phim quốc tế Valladolid, giải FIPRESCI, giải Sư tử vàng nhỏ, giải thưởng danh dự SIGNIS, giải Đạo diễn đặc biệt tại Liên hoan phim Venice.

Ngày 08/09/2012 phim Pietà do ông đạo diễn đoạt giải Golden Lion (Sư tử vàng) dành cho phim hay nhất tại Liên hoan phim Venice năm 2012.

Các bộ phim của Kim Ki Duk, ông luôn đặt ra những tình huống bất thường, những số phận bất thường: người nhặt xác người tự sát, những người lính biên phòng biển đối mặt với cô gái điên khi họ vô tình bắn chết người yêu cô trong lúc cả hai đang ân ái bên bờ biển, hai cô gái muốn có tiền đi du lịch đã chấp nhận làm gái điếm...

Không bị ràng buộc bởi những trường lớp đào tạo về điện ảnh nào cũng như trước khi trở thành một đạo diễn thật sự ông cũng chẳng phải làm công việc của một trợ lý đạo diễn. Đó là điều khiến ông trở thành một đạo diễn phóng túng, tự do. Những sự thật tàn nhẫn trong phim của ông luôn khiến cho khán giả cảm thấy sợ hãi còn các nhà phê bình phim thì xem chúng như 1 thứ gì đó rất kinh tởm. Nhưng nhìn lại thì những điều ông gửi gấm đều là điều hoàn toàn có trong thực tế. Ông đưa chúng ta vào cái thực tế ấy rồi hướng chúng ta không bằng những lời thoại hoa mỹ, giáo điều mà đơn giản chỉ là những tình tiết để người xem tự suy ngẫm.

Các phim đạo diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]