Kim Nhật Thành
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Kim Il-sung 김일성 金日成 |
|
| Chủ tịch Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Chủ tịch vĩnh cửu của đất nước từ 1994) |
|
|---|---|
| Nhiệm kỳ | |
| 28 tháng 12, 1972 – | |
| Tiền nhiệm | Choi Yong-kun (Chủ tịch Hội đồng lập pháp Nhân dân Tối cao) |
| Kế nhiệm | đương chức |
| Tổng thư ký Đảng lao động Triều Tiên | |
| Nhiệm kỳ | |
| 30 tháng 6, 1949 – 8 tháng 7, 1994 | |
| Tiền nhiệm | Không |
| Kế nhiệm | Kim Jong-il |
| Thủ tướng Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên | |
| Nhiệm kỳ | |
| 9 tháng 9, 1948 – 28 tháng 12, 1972 | |
| Tiền nhiệm | Không |
| Kế nhiệm | Kim Il |
| Đảng | Đảng lao động Triều Tiên |
| Sinh | 15 tháng 4, 1912 Bình Nhưỡng, Triều Tiên thời Nhật chiếm đóng |
| Mất | 8 tháng 7, 1994 (82 tuổi) Bình Nhưỡng, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên |
| Vợ hay chồng | Kim Jong-suk (m. 1949) Kim Song-ae |
| Con cái | Kim Jong-il, Kim Man-il, Kim Kyong-jin, Kim Pyong-il, Kim Yong-il |
| Kim Nhật Thành | |
|---|---|
| Hangeul: |
김일성
|
| Hanja: |
金日成
|
| Hán-Việt: | Kim Nhật Thành |
| McCune-R.: | Gim Il-seong |
| Romaja quốc ngữ: | Kim Il-sŏng |
Kim Nhật Thành (15 tháng 4 năm 1912 - 8 tháng 7 năm 1994) là nhà lãnh đạo Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên từ khi quốc gia này được thành lập vào đầu năm 1948 đến khi ông mất, và được con trai là Kim Jong-il thay thế. Ông giữ chức Thủ tướng từ năm 1948 đến năm 1972, và Chủ tịch nước từ năm 1972 đến khi mất. Ngoài ra, ông còn là Tổng bí thư của Đảng lao động Triều Tiên. Với tư cách là nhà lãnh đạo của Bắc Triều Tiên, ông đã chuyển từ hệ tư tưởng Mác Lênin sang tư tưởng Juche do ông tự phát triển và tạo nên sự sùng bái cá nhân. Bắc Triều Tiên chính thức gọi ông là "Lãnh tụ vĩ đại" và hiến pháp xem ông là "Chủ tịch vĩnh cửu". Ngày sinh và ngày mất của ông là quốc lễ ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Mục lục |
[sửa] Những năm tháng tuổi trẻ
Kim là con của Kim Hyŏng-jik và Kang Pan-sŏk, với tên khai sinh là Kim Sŏng-ju, và là anh cả của hai em trai, Ch’ŏl-chu and Yŏng-ju. Ông sinh ra ở Nam-ri, huyện Kophyŏng, hạt Taedong, tỉnh Nam Bình Nhưỡng (nay là khu vực Mangyŏngdae Bình Nhưỡng), khi đó còn dưới sự chiếm đóng của Nhật Bản. Tổ tiên của gia đình Kim là ở Chŏnju, tỉnh Bắc Chŏlla, và những gì ít ỏi được biết về gia tộc này đó là trong khoảng thời gian chiến tranh Triều-Nhật năm 1592-1598, một tổ tiên trực hệ đã di cư về phía Bắc. Điều này có thể hiểu được nếu ta biết được rằng chính sách định cư ở miền Bắc của chính quyền Triều Tiên khi đó đã dẫn tới một một tái định cư ồ ạt của các gia đình nông dân ở vùng Phyŏngan và Hamgyŏng trong thế kỷ thứ 15 và 16. Dù gì đi nữa, với đa số người họ Kim gốc Chŏnju, ngày nay sống ở Bắc Triều Tiên, và những gì còn sót lại của phả hệ họ Kim gốc Chŏnju có những ghi nhận không thóng nhất. Hơn nữa, có tin đồn rằng khi Bắc Triều Tiên chiếm đóng Seoul trong chiến tranh Triều Tiên, quân đội Bắc Triều Tiên đã thu thập tất cả các phả hệ họ Kim gốc Chŏnju và mang chúng ra phía Bắc.
Lịch sử chính xác của gia đình của Kim còn mơ hồ. Gia đình họ không quá nghèo nhưng cũng không dư dả, luôn trong tình trạng cận đói nghèo. Kim được sinh ra trong một gia đình theo đạo Cơ đốc Tin lành có liên kết chặt chẽ với nhà thờ: ông ngoại của ông là một mục sư Tin lành, cha ông đã học ở trường dòng, và cả cha mẹ ông đều là những người hoạt động tích cực trong cộng đồng tín ngưỡng. Theo thông tin chính quy, gia đình Kim tham gia vào phong trào kháng Nhật, và, vào năm 1920, họ phải di cư sang Mãn Châu, nơi ông học thành thạo tiếng Trung. Những nguồn tin khách quan hơn cho rằng gia đình ông di cư đến Mãn Châu như bao người Triều Tiên chạy trốn nạn đói khi đó. Dù vậy, gia đình của Kim rõ ràng không đóng vai trò nào lớn lao trong những nhóm hoạt động, dù cho động cơ của họ là truyền giáo, tuyên truyền lòng yêu nước, hay cả hai, đều không rõ ràng[1].
Cha Kim mất vào năm 1926, khi Kim được mười bốn tuổi. Kim đi học ở Trường Trung học Yulin ở Cát Lâm, nơi ông từ bỏ truyền thống phong kiến của những người Triều Tiên thế hệ trước và có cảm tình với hệ tư tưởng Cộng sản; việc giáo dục chính quy của ông kết thúc khi ông bị bắt và bị tống giam vì những hoạt động lật đổ. Vào tuổi mười bảy, Kim trở thành thành viên trẻ tuổi nhất của tổ chức theo chủ nghĩa Mác hoạt động ngầm với chưa đầy hai mươi thành viên, do Hŏ So, người thuộc Hội thanh niên Cộng sản Nam Mãn Châu, lãnh đạo. Cảnh sát khám phá ra nhóm này ba tuần sau khi được thành lập vào năm 1929, và Kim bị tống giam vài tháng[2] [3].
Ông gia nhập nhóm du kích chống Nhật ở bắc Trung Hoa, và vào năm 1935 ông trở thành thành viên của Quân đội hỗn hợp kháng Nhật vùng Đông Bắc, một nhóm du kích do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Trong năm đó Kim được chỉ định làm chính trị viên cho chi đội thứ ba của sư đoàn thứ hai, với khoảng 160 quân[1]. Chính ở đây Kim đã gặp người sau này trở thành người đỡ đầu ông trở thành người cộng sản, Wei Zhengmin, sĩ quan trực tiếp của Kim, người lúc đó đang là trưởng Chính ủy của Quân đội hỗn hợp kháng Nhật vùng Đông Bắc. Wei báo cáo trực tiếp lên Kang Sheng, một đảng viên cấp cao gần gũi với Mao Trạch Đông ở Diên An, cho đến khi Wei chết vào ngày 8 tháng 3, 1941[4].
Cũng vào năm 1935 Kim lấy tên là Kim Nhật Thành, với ý nghĩa "trở thành mặt trời"[5]. Vào cuối cuộc chiến tranh, cái tên này trở thành huyền thoại ở Triều Tiên, và vài nhà sử học cho rằng thực ra không phải do bản thân Kim Sŏng-ju làm cho cái tên này nổi tiếng. Tuyên truyền viên Xô viết Grigory Mekler, người yêu cầu chuẩn bị cho Kim lãnh đạo Bắc Triều Tiên, đã nói rằng Kim lấy tên này khi ở Liên Xô vào đầu những năm 1940 từ một người chỉ huy cũ đã chết[6]. Mặt khác, một số người Triều Tiên chỉ đơn giản là không tin rằng một người trẻ tuổi như Kim lại có thể trở thành một huyền thoại[7]. Sử gia Andrei Lankov đã cho rằng tin đồn Kim Nhật Thành được tráo đổi với một Kim "gốc" nào đó là không đúng. Một số nhân chứng biết Kim trước và sau thời gian ông ở Liên Xô, bao gồm cả cấp trên Zhou Baozhong của ông, người đã phủ nhận việc tồn tại một Kim "thứ hai" trong nhật ký của ông[8].
Kim được chỉ định làm người chỉ huy sư đoàn 6 vào năm 1937, vào tuổi 24, điều khiển vài trăm quân trong một nhóm được biết đến với tên "sư đoàn của Kim Nhật Thành". Chính khi ông chỉ huy sư đoàn này, ông đã thực hiện một cuộc đột kích tại Poch’onbo, vào ngày 4 tháng 6. Mặc dù sư đoàn của Kim chỉ giành được một số thị trấn nhỏ ở biên giới Triều Tiên trong vài giờ, nó được xem là một thành công về quân sự vào thời điểm đó, khi đơn vị du kích đã trải qua rất nhiều khó khăn trong việc chiếm đóng bất kỳ vùng đất nào của địch. Thành công này đã khiến Kim nổi tiếng ở mức độ nào đó trong lực lượng du kích Trung Quốc, và sách sử của Bắc Triều Tiên sau này đưa nó thành một thắng lợi vĩ đại cho Triều Tiên. Kim được chỉ định làm chỉ huy vùng chiến thuật 2 của Quân đội thứ nhất, nhưng vào cuối năm 1940, ông là lãnh đạo Quân đội thứ nhất duy nhất còn sống. Bị quân đội Nhật truy kích, Kim và những người còn sống sót của quân đội của ông đã trốn thoát bằng cách vượt sông Amur chạy về Liên Xô[9]. Kim được gửi tới nơi đóng quân gần Khabarovsk, nơi du kích Cộng sản Triều Tiên được người Xô viết huấn luyện lại. Kim trở thành Đại úy trong Hồng quân Xô viết và phục vụ ở đó cho đến cuối Đệ nhị thế chiến.
Đảng Cộng sản Triều Tiên được thành lập vào năm 1925, nhưng sau đó nhanh chóng tan đàn xẻ nghé do mâu thuẫn nội bộ. Vào năm 1931, Kim gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Khi ông trở về Triều Tiên, vào tháng 9 năm 1945, với quân đội Xô viết, ông được Liên Xô đưa lên làm trưởng Ủy ban Nhân dân Lâm thời. Vào thời gian này, ông không phải là người đứng đầu Đảng Cộng sản, với trụ sở chính của Đảng này nằm ở Seoul nằm trong vùng chiếm đóng của Hoa Kỳ ở phía Nam. Trong những năm đầu làm một nhà lãnh đạo, ông có được một vị trí có ảnh hưởng chủ yếu nhờ vào sự ủng hộ của số dân Triều Tiên đã ủng hộ cuộc chiến của ông chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản.
Một trong những thành công có ảnh hưởng lâu dài nhất của ông là việc thành lập một đội quân chuyên nghiệp, Quân đội Nhân dân Triều Tiên (NKPA), với lực lượng nòng cốt là du kích và những người lính trước đây đã có được kinh nghiệm trận mạc trong những trận chiến đấu chống lại quân Nhật và sau này là quân đội Quốc gia Trung Hoa. Từ vị thế này, sử dụng các cố vấn và khí tài Liên Xô, Kim đã xây dựng một lực lượng quân đội lớn thành thạo chiến thuật biển người và chiến tranh du kích. Trước khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Joseph Stalin đã trang bị cho NKPA các xe tăng hạng nặng hiện đại, xe tải, trọng pháo, và những vũ khí hạng nhẹ (vào thời điểm này, Quân đội Nam Triều Tiên hầu như là con số không nếu so sánh về số lượng quân đội lẫn trang bị). Kim cũng thành lập lực lượng không quân, được trang bị sơ bộ với những máy bay chạy bằng cánh quạt cũ và máy bay tiêm kích của Liên Xô. Sau đó, những ứng cử viên phi công Bắc Triều Tiên được gửi đến Liên Xô và Trung Quốc để luyện tập trong chiếc máy bay phản lực MiG-15 tại các căn cứ bí mật.
[sửa] Chiến tranh Triều Tiên
Đến 1948, rõ ràng do sự phân cực về chính trị và hệ tư tưởng giữa 2 chính quyền mới ở Triều Tiên, việc thống nhất ngay lập tức là điều không thể. Sau khi miền Nam do Hoa Kỳ chiếm đóng chính thức tuyên bố độc lập với tên Cộng hòa Triều Tiên, nhân dân ở phía bắc Triều Tiên đã chọn Kim Nhật Thành làm thủ tướng của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, hình thành nên một quốc gia mới được gọi với tên gọi phổ biến là "Bắc Triều Tiên". Đảng Cộng sản hợp nhất với Đảng Nhân dân mới để hình thành nên Đảng Lao động Bắc Triều Tiên (trong đó Kim là phó chủ tịch). Vào năm 1949, Đảng Lao động Bắc Triều Tiên sát nhập với bản sao của nó ở phía Nam để trở thành Đảng Lao động Triều Tiên (WPK) với Kim là chủ tịch đảng.
Phía nam Triều Tiên do Mỹ chiếm đóng đoạt lại quyền lực từ những "Ủy ban Nhân dân" được điều hành theo từng địa phương và đã thiết lập lại nhiều chủ đất và cảnh sát cũ, những người đã nắm quyền khi Triều Tiên còn dưới sự đô hộ của Nhật Bản. Những động thái này gặp phải sự chống đối nặng nề và sự phản kháng công khai ở một số phần của Nam Triều Tiên như các đảo ở phía Nam[10]. Sau một số vụ đụng độ ở biên giới (được cho là xuất phát từ lệnh của Mỹ), dường như cuộc nội chiến là không thể tránh khỏi. Quân đội Bắc Triều Tiên tràn qua biên giới vào ngày 25 tháng 6 năm 1950 với dự định thống nhất đất nước dưới một chính phủ cộng sản. Những nhân chứng cho rằng việc đề xướng tái thống nhất đất nước của phía Bắc đã nhận được nhiều sự ủng hộ ở phía Nam[11]. Các tài liệu lưu trữ cho thấy[12][13][14] quyết định tấn công phía Nam là một quyết định của chính Kim chứ không phải ý đồ từ Liên Xô. Những bằng chứng cho thấy những điệp viên Liên Xô, thông qua những nguồn tình báo ở chính phủ Mỹ và SIS của Anh, đã thu được những thông tin về hạn chế của kho bom nguyên tử của Mỹ cũng như sự cắt giảm chương trình phòng thủ, khiến cho Stalin kết luận rằng chính quyền Truman sẽ không can thiệp vào Triều Tiên[15].
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chỉ ưng thuận một cách miễn cưỡng ý tưởng tái thống nhất Triều Tiên sau khi Kim nói rằng Stalin đã chấp nhận hành động này[12][13][14], và không cung cấp hỗ trợ quân sự trực tiếp (chỉ qua các kênh hậu cần) cho đến khi quân đội nhân danh Liên Hiệp Quốc, đa số là thành phần quân Mỹ, gần tiến đến sông Áp Lục vào cuối năm 1950. Lực lượng Bắc Triều Tiên đã chiếm được Seoul và phần lớn miền Nam, nhưng bị đánh bật lại ngay sau đó bởi sự xâm lược do Mỹ dẫn đầu. Đến tháng 10, lực lượng Mỹ đã tái chiếm Seoul và vào ngày 19 tháng 10 chiếm được Bình Nhưỡng, buộc Kim và chính quyền của ông phải chạy sang Trung Quốc.
Vào ngày 25 tháng 10 năm 1950, sau khi gửi nhiều cảnh báo can thiệp nếu lực lượng Liên Hiệp Quốc không dừng cuộc tiến quân, hàng ngàn quân Trung Quốc vượt sông Áp Lục và tham chiến như đồng minh của NKPA. Quân đội Liên Hiệp Quốc bị buộc phải rút ra và quân đội Trung Quốc tái chiếm được Bình Nhưỡng vào tháng 12 và Seoul vào tháng 1 năm 1951. Vào tháng 3 lực lượng Liên Hiệp Quốc và Mỹ bắt đầu một cuộc tấn công mới, chiếm lại Seoul. Sau hàng loạt các cuộc tấn công và phản công của cả hai phía, tiếp theo là giai đoạn đánh du kích với chiến tranh đường hầm chiến thuật quy mô lớn, mặt trận đã ổn định cùng với những gì cuối cùng trở thành "Đường đình chiến" vĩnh viễn vào ngày 27 tháng 7, 1953. Bắc Triều Tiên bị tàn phá nặng nề bởi bom Mỹ, chỉ còn vài căn nhà còn đứng vững. Hơn 3,5 triệu người Triều Tiên bị giết trong cuộc xâm lược của Mỹ, và một danh sách dài các tội ác chiến tranh của Bắc Triều Tiên đã được ghi nhận bao gồm cả việc sử dụng vũ khí sinh học như lan truyền bệnh dịch tả, và những cuộc tàn sát cư dân địa phương[16][17].
[sửa] Lãnh đạo Bắc Triều Tiên
Sau khi trở lại làm người đứng đầu Bắc Triều Tiên, Kim bắt tay vào tái kiến thiến đất nước đã bị tàn phá nặng nề do chiến tranh. Ông thực hiện kế hoạch kinh tế quốc gia năm năm để tạo nên một nền kinh tế mệnh lệnh, với tất cả ngành công nghiệp đều là công hữu và tất cả nền công nghiệp được tập thể hóa. Đất nước hình thành dựa trên nguyên lý chủ nghĩa quân bình triệt tiêu sự khác biệt về giai cấp và nền kinh tế dựa trên nhu cầu của công nhân và nông dân. Kinh tế tập trung vào công nghiệp nặng và sản xuất vũ khí. Cả Bắc và Nam Triều Tiên đều duy trì một lực lượng vũ trang khổng lồ để bảo vệ đường ngừng bắn năm 1953, mặc dù không có quân đội nước ngoài đóng quân lâu dài ở Bắc Triều Tiên.
Trong suốt thập niên 1950, Kim được nhìn nhận là một nhà lãnh đạo Cộng sản chính thống. Ông bác bỏ phi Stalin hóa của Liên Xô và bắt đầu tạo khoảng cách với những nhà tài trợ cho ông, bao gồm việc không bao giờ nhắc lại một thời làm Hồng Quân trong tiểu sử chính thống. Nhiều người xem Kim là một nhà lãnh đạo chống chủ nghĩa xét lại có ảnh hưởng trong phong trào cộng sản. Vào năm 1956, những phần tử chống Kim được khích lệ bởi sự phi Stalin hóa ở Liên Xô xuất hiện cùng với Đảng để chỉ trích Kim và yêu cầu đổi mới[18]. Sau một thời gian do dự, Kim tiến hành một sự thanh lọc, xử tử những người được xem là có ý đồ tạo phản và buộc những người còn lại lưu đày tha hương[18]. Khi Trung-Xô chia rẽ xảy ra vào thập niên 1960, Kim ban đầu đứng về phía người Trung Quốc nhưng không bao giờ làm tổn thương mối quan hệ với Liên Xô. Khi Cách mạng văn hóa nổ ra ở Trung Quốc sau năm 1966, Kim quay về phía Liên Xô. Cùng lúc đó, ông tạo ra một sự sùng bái cá nhân rộng rãi, và toàn bộ người dân Bắc Triều Tiên bắt đầu gọi ông là "Lãnh tụ vĩ đại" (widaehan suryŏng 위대한 수령). Kim phát triển một chính sách và hệ tư tưởng Juche (tự lực tự cường) chứ không trở thành một quốc gia vệ tinh của Liên Xô.
Giữa thập niên 1960, Kim ấn tượng với những nỗ lực của Hồ Chí Minh trong việc thống nhất Việt Nam thông qua chiến tranh du kích và cho rằng một kiểu tương tự như vậy có thể áp dụng ở Triều Tiên. Những nỗ lực xâm nhập và lật đổ do đó được leo thang chống lại lực lượng chiếm đóng Mỹ và sự lãnh đạo mà họ ủng hộ. Những cố gắng đó lên đến cực điểm trong nỗ lực nhằm tấn công Nhà xanh và ám sát Tổng thống Park Chung-hee. Quân đội Bắc Triều Tiên có thái độ ngày càng mãnh liệt đối với quân đội Hoa Kỳ ở khắp Nam Triều Tiên, lôi kéo quân đội Mỹ vào những cuộc đấu súng dọc theo Vùng phi quân sự. Vụ bắt giữ thủy thủ của tàu do thám USS Pueblo là một phần của chiến dịch này.
Một hiến pháp mới được ban hành vào tháng 12 năm 1972, trong đó Kim trở thành Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Đến lúc này, ông đã quyết định rằng con trai ông Kim Jong-il sẽ là người tiếp bước ông, và dần dần giao phó công việc chính quyền cho con trai. Gia đình Kim được quân đội ủng hộ, do những chiến công cách mạng của Kim Nhật Thành và sự ủng hộ của Bộ trưởng Quốc phòng kỳ cựu, O Chin-u. Tại Đại hội Đảng lần thứ 6 vào tháng 10 năm 1980, Kim công khai chỉ định con trai ông làm người kế nhiệm.
[sửa] Những năm sau đó
Tuy nhiên, từ thời gian này, Bắc Triều Tiên đã gặp phải những khó khăn ngày càng tăng về kinh tế sau nhiều thập kỷ phát triển thành công. Sự cải cách kinh tế của Đặng Tiểu Bình ở Trung Quốc vào năm 1979 về sau đồng nghĩa với việc thương mại với Bắc Triều Tiên xã hội chủ nghĩa đang làm giảm lợi ích của Trung Quốc. Sự sụp đổ của hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô trong thời kỳ 1989-1991 đã đẩy Bắc Triều Tiên hoàn toàn vào thế cô lập. Những sự kiện này cùng với sự bao vây cấm vận kinh tế của các nước do Mỹ cầm đầu càng làm tăng thêm khó khăn về kinh tế. Một Bắc Triều Tiên trước đây có tốc độ công nghiệp hóa nhanh hơn, tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh thấp hơn, chất lượng sống cao hơn Nam Triều Tiên trong nhiều thập kỷ, đến những năm 1990 đã gặp vô số khó khăn xuất phát từ sự thiếu thốn đối tác thương mại sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ cấm vận, các trận lụt khủng khiếp. Người dân Bắc Triều Tiên gọi thời kỳ này là "cuộc hành quân gian khổ".
Bắc Triều Tiên thường xuyên lặp lại rằng Triều Tiên sẽ được thống nhất trước sinh nhật lần thứ 70 của Kim vào năm 1982, và đã có những nỗi lo sợ từ phương Tây rằng Kim sẽ tiến hành một cuộc Chiến tranh Triều Tiên lần thứ hai. Tuy nhiên, sự chênh lệch về kinh tế và quân sự giữa miền Bắc và miền Nam (nơi vẫn hiện diện quân đội Mỹ) vào thời kỳ đó khiến cho việc này không thể xảy ra.
Khi đã có tuổi, Kim xuất hiện một khối u lớn sau cổ - một dạng sỏi, hoặc hok theo tiếng Triều Tiên, thường là kết quả của sự thiếu dinh dưỡng khi ấu thơ. Vị trí này nằm gần não và tủy sống nên không thể giải phẩu. Do hình ảnh không được đẹp này, các nhiếp ảnh gia Bắc Triều Tiên luôn luôn chụp ảnh ông từ một góc cố định hơi chếch sang trái, một việc ngày càng khó làm khi khối u trở nên lớn bằng quả bóng chày[19][20].
Vào ngày 19 tháng 5 1994, Kim đã ra lệnh sử dụng nhiên liệu từ các cơ sở nghiên cứu hạt nhân gây tranh cãi ở Yongbyon. Mặc dù thường xuyên bị các nước phương Tây lên án, Kim vẫn tiếp tục tiến hành nghiên cứu hạt nhân và các chương trình làm giàu uranium. Vào tháng 6 năm 1994, cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã có chuyến thăm Bình Nhưỡng để hội đàm với Kim. Trước sự ngạc nhiên của Hoa Kỳ và IAEA, Kim đồng ý dừng chương trình nghiên cứu hạt nhân và có vẻ bắt đầu một mối quan hệ mở mang hơn với phương Tây.
[sửa] Qua đời
Đến những năm 1990, Bắc Triều Tiên gần như bị cô lập với thế giới bên ngoài, ngoại trừ một ít liên hệ với Trung Quốc. Nền kinh tế gần như phá sản, tê liệt bởi sự chi tiêu quá mức vào vũ khí và thưởng phạt, với một nền nông nghiệp không đủ ăn cho dân số do thiếu đất trồng trọt, nhưng thông ấn Bắc Triều Tiên vẫn tiếp tục ca ngợi Kim. Kim chết đột ngột vì trụy tim ở Bình Nhưỡng vào ngày 8 tháng 7 năm 1993, để lại cơn khủng hoảng ngày càng cao của đất nước cho Kim Jong Il. Lễ tang ông ở Bình Nhưỡng có hàng trăm ngàn người tham dự, nhiều người trong số đó khóc và kêu gào tên ông trong suốt lễ tang. Thi thể của Kim Nhật Thành được đặt trong một lăng mộ ngoài trời tại Cung tưởng niệm Kimsusan. Thi thể được bảo quản của ông đặt trong một quan tài kính. Đầu ông đặt trên một cái gối và cơ thể được phủ bằng một lá cờ đỏ như một cái chăn, có thể là biểu tượng của chủ nghĩa cộng sản. Bộ phim về lễ tang ở Bình Nhưỡng được phát đi trên một số kênh, và hiện nay có thể tìm thấy ở các trang mạng khác nhau[21].
[sửa] Cuộc sống gia đình
Kim il Sung kết hôn 2 lần. Vợ đầu của ông, Kim Jong-suk, sinh cho ông 2 người con trai và 1 con gái. Kim Jong-il là con trai trưởng của ông, và người con còn lại (Kim il man, hay Shura Kim) chết vào năm 1947 do một tai nạn khi bơi. Kim Jong-suk chết năm 1949 trong khi đang sinh nở. Kim kết hôn với Kim Sŏng-ae năm 1962, và người ta tin rằng ông ta có 3 hoặc 4 người con với bà ta: Kim Yŏng-il, Kim Kyŏng-il và Kim P’yŏng-il. Kim P’yong-il là một người nổi bật trong nền chính trị Triều Tiên cho tới khi làm đại sứ ở Hungary.
Kim còn được cho là có những đứa con không chính thức, bao gồm Kim Hyon-nam (sinh năm 1972, trưởng Ban Tuyên truyền của Đảng Lao động từ năm 2002)[22] và Chang-hyŏn (sinh năm 1971, do chị của Kim Jong-Il là Kim Kyŏng-hŭi nuôi)[23].
Sau khi Kim chết, con trai ông Kim Jong-Il đã thay thế lịch Gregoria ở Bắc Triều Tiên bằng một bộ lịch trong đó năm mới bắt đầu bằng ngày sinh nhật Kim Il-sung[cần dẫn chứng].
[sửa] Tên tuổi và hình ảnh
Có khoảng 800 búc tượng về Kim Nhật Thành ở Bắc Triều Tiên[cần dẫn chứng]. Những nơi đáng chú ý nhất là: Đại học Kim Nhật Thành, Sân vận động Kim Nhật Thành, Quảng trường Kim Nhật Thành, Cầu Kim Nhật Thành và Tượng Bất diệt Kim Nhật Thành.
Hình ảnh của Kim Nhật THành chiếm ưu thế ở những nơi gắn liền với giao thông cộng, được treo ở mỗi nhà ga và sân bay ở Bắc Triều Tiên[cần chú thích]. Nó cũng được đặt ở biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.
[sửa] Tham khảo
- ^ a b Lankov, Andrei, From Stalin to Kim Il Sung: The Formation of North Korea 1945-1960, Rutgers University Press (2002), p. 53.
- ^ Lankov, Andrei, From Stalin to Kim Il Sung: The Formation of North Korea 1945-1960, Rutgers University Press (2002), p. 52.
- ^ Suh Dae-Sook, Kim Il Sung: The North Korean Leader, Columbia University Press (1998) p. 7.
- ^ Suh Dae-Sook, Kim Il Sung: The North Korean Leader, Columbia University Press (1998) pp. 8-10.
- ^ Bradley K. Martin (2004). Under the Loving Care of the Fatherly Leader: North Korea and the Kim Dynasty, Thomas Dunne Books. ISBN 0312323220.
- ^ Staff writer, “Soviets groomed Kim Il Sung for leadership”, Vladivostok News.
- ^ Tiêu bản:Cite interview
- ^ Lankov, Andrei, From Stalin to Kim Il Sung: The Formation of North Korea 1945-1960, Rutgers University Press (2002), p. 55.
- ^ Lankov, Andrei, From Stalin to Kim Il Sung: The Formation of North Korea 1945-1960, Rutgers University Press (2002), p. 53-54.
- ^ Cumings, Bruce, The Origins of the Korean war, , Princeton University Press (1981, 1990)
- ^ Cumings, Bruce, The Origins of the Korean war, , Princeton University Press (1981, 1990)
- ^ a b Weathersby, Kathryn, The Soviet Role in the Early Phase of the Korean War, The Journal of American-East Asian Relations 2, no. 4 (Winter 1993): 432
- ^ a b Goncharov, Sergei N., Lewis, John W. and Xue Litai, Uncertain Partners: Stalin, Mao, and the Korean War (1993)
- ^ a b Mansourov, Aleksandr Y., Stalin, Mao, Kim, and China's Decision to Enter the Korean War, September 16-October 15, 1950: New Evidence from the Russian Archives, Cold War International History Project Bulletin, Issues 6-7 (Winter 1995/1996): 94-107
- ^ Sudoplatov, Pavel Anatoli, Schecter, Jerrold L., and Schecter, Leona P., Special Tasks: The Memoirs of an Unwanted Witness - A Soviet Spymaster, Little Brown, Boston (1994)
- ^ IADL report (1952)
- ^ Korea Truth Commission (2001)
- ^ a b Lankov, Andrei N., Crisis in North Korea: The Failure of De-Stalinization, 1956. Honolulu:Hawaii University Press (2004)
- ^ Cumings, Bruce, North Korea: Another Country, The New Press, New York, 2003, p.xii.
- ^ Image of Kim Il-sung's "neck tumor"
- ^ Scenes of lamentation after Kim Il-sung's death
- ^ Terrence Henry, After Kim Jong Il, The Atlantic Monthly, May 2005
- ^ Leadership Succession Recent Developments
[sửa] Xem thêm
- Chiến tranh lạnh
- Độc tài của chế độ vô sản
- Bài hát ca ngợi Lãnh tụ Kim Nhật Thành
- Chủ nghĩa Stalin
- Juche
[sửa] Đọc thêm
- Blair, Clay, The Forgotten War: America in Korea, , Naval Institute Press (2003)
- Goncharov, Sergei N., Lewis, John W. and Xue Litai, Uncertain Partners: Stalin, Mao, and the Korean War (1993)
- Kim Il-sung (2003). With the Century, Korean Friendship Association.
- Lankov, Andrei N., Crisis in North Korea: The Failure of De-Stalinization, 1956. Honolulu:Hawaii University Press (2004)
- Mansourov, Aleksandr Y., Stalin, Mao, Kim, and China's Decision to Enter the Korean War, September 16-October 15, 1950: New Evidence from the Russian Archives, Cold War International History Project Bulletin, Issues 6-7 (Winter 1995/1996)
- Martin, Bradley (2004). Under The Loving Care Of The Fatherly Leader: North Korea And The Kim Dynasty, St. Martins. ISBN.
- Sudoplatov, Pavel Anatoli, Schecter, Jerrold L., and Schecter, Leona P., Special Tasks: The Memoirs of an Unwanted Witness - A Soviet Spymaster, Little Brown, Boston (1994)
- Suh, Dae-Sook, Kim Il Sung: The North Korean Leader. New York: Columbia University Press (1988)
- Weathersby, Kathryn, The Soviet Role in the Early Phase of the Korean War, The Journal of American-East Asian Relations 2, no. 4 (Winter 1993)
- Christian Kracht, Eva Munz, Lukas Nikol, "The Ministry Of Truth. Kim Jong Ils North Korea", Feral House, Oct 2007, 132 pages, 88 color photographs, ISBN 978-932595-27-7
[sửa] Liên kết ngoài
- Bắc Triều Tiên chưa khám phá, (Google Earth Bắc Triều Tiên) Xem nhiều nơi ở và tượng đài của Kim Nhật Thành, cũng như phần lớn các cơ sở hạ tầng chính trị, văn hóa, kinh tế và quân sự.
Tiêu bản:NKPres Tiêu bản:NKPMs
| Dữ liệu nhân vật | |
|---|---|
| Tên | Kim, Il-sung |
| Tên khác | Kim Ilsong, Gim Il-seong, 김일성, 金日成 |
| Tóm tắt | Chủ tịch Bắc Triều Tiên |
| Lúc sinh | 15 tháng 4, 1912 |
| Nơi sinh | Pyongyang, North Korea |
| Lúc mất | 8 tháng 7, 1994 |
| Nơi mất | Pyongyang, North Korea |

