Hãn quốc Kim Trướng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Kim Trướng hãn quốc)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Алтан Орд (Altan Ord)
Алтын Урда (Altın Urda)
Золотая Орда (Zolotaya Orda)
Зүчийн улс (Ulus Jochi)

 

 

Thập niên 1240–1502

Quốc kỳ của Kim Trướng hãn quốc

Quốc kỳ

Vị trí của Kim Trướng hãn quốc
Kim Trướng hãn quốc (màu xanh), khoảng năm 1300.
Thủ đô Sarai Batu
Ngôn ngữ Tiếng Mông Cổ & tiếng Turk
Tôn giáo Đạo Shaman, và sau này Hồi giáo
Chính thể Bán quân chủ bầu cử, sau này quân chủ cha truyền con nối
Hãn
 - 1226-1280 Hãn Oát Nhi Đáp (Bạch Trướng hãn quốc)
 - 1242-1255 Hãn Bạt Đô (Thanh Trướng hãn quốc)
 - 1379-1395 Tokhtamysh
 - 1435-1459 Küchük Muhammad (Hãn quốc Sarai)
 - 1481-1499 Murtada
Lập pháp Kurultai
Thời đại lịch sử Cuối thời Trung Cổ
 - Được thành lập sau khi Mông Cổ xâm lược Rus Thập niên 1240
 - Thanh Trướng hãn quốcBạch Trướng hãn quốc thống nhất 1379
 - Tan rã thành Hãn quốc Lớn 1466
 - Tàn tích cuối cùng bị khuất phục bởi Hãn quốc Krym 1502
Diện tích
 - 1310 6.000.000 km²; (2.316.613 mi²)
Tiền nhiệm
Kế tục
Blank.png Đế quốc Mông Cổ
CumaniaCoA.png Liên minh Cuman-Kipchak
Blank.png Volga Bulgaria
Hãn quốc Krym Gerae-tamga.svg
Hãn quốc Qasim Blank.png
Hãn quốc Kazan Blank.png
Hãn quốc Kazakh Kazakh Khanate.svg
Hãn quốc Uzbek Blank.png
Hãn quốc Astrakhan Blank.png
Hãn quốc Sibir Blank.png
Hãn quốc Khiva Blank.png
Nhà Timur Blank.png

Kim Trướng hãn quốc hay Ulus Jochi (tiếng Mông Cổ: Алтан Орд, Altan Ord; tiếng Tatar: Алтын Урда, Altın Urda; tiếng Nga: 'Золотая Орда, Zolotaya Orda') là một tên gọi của người Đông Slav dành cho một hãn quốc Hồi giáo[1] Mông Cổ[2][3][4]—sau này đã Turk hóa[5] - được thành lập ở vùng phía tây Đế quốc Mông Cổ sau khi Mông Cổ xâm lược Rus trong thập niên 1240: ngày nay là Nga, Ukraina, Moldova, Kazakhstan, và Kavkaz. Cũng được gọi là ulus Jochi [5] hay hãn quốc Kipchak (không nên nhầm với hãn quốc Kipchak trước khi nó bị người Mông Cổ chinh phục), lãnh thổ của Kim Trướng hãn quốc thời đỉnh điểm gồm hầu hết Đông Âu từ dãy núi Ural tới hữu ngạn sông Dnepr, kéo dài về phía đông sâu vào tận Siberi. Ở phía nam, đất đai của Kim Trướng hãn quốc kéo dài tới biển Đen, dãy núi Kavkaz, và các lãnh thổ của một triều đại Mông Cổ khác được gọi là hãn quốc Y Nhi.[5]

Các nguồn gốc của tên gọi "Kim Trướng hãn quốc" còn chưa chắc chắn. Một số học giả tin rằng nó nói tới lều trại của Bạt Đô và sau này là những vị vua cai trị của hãn quốc này. Trong tiếng Mông Cổ Altan Orda chỉ lều trại hay cung điện màu vàng (tiếng Mông Cổ: Алтан Ордон, Altan Ordon = Cung điện Vàng). Altan (vàng) cũng là màu để biểu thị hoàng gia. Những nguồn khác nói rằng hãn Bạt Đô có một chiếc lều bạt bằng vàng, và vì thế Kim Trướng hãn quốc được đặt tên như vậy. Tuy truyền thuyết này vẫn tồn tại dai dẳng nhưng không một ai khẳng định chắc chắn về nó. Trong những nguồn đương thời nhất, Kim Trướng hãn quốc là để chỉ hãn quốc Qipchaq, do người Turk Qipchaq chiếm hầu hết dân cư du mục trong vùng (Ulus Jochid).[4]

Các nguồn gốc Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Sự phá huỷ Suzdal của quân đội Mông Cổ. Từ biên niên sử Nga thời Trung Cổ

Khi mất, Thành Cát Tư Hãn đã chia Đế quốc Mông Cổ cho bốn người con trai. Truật Xích (Jochi) là con trai trưởng, nhưng đã mất sáu tháng trước Thành Cát Tư Hãn (nguồn gốc của ông cũng bị nghi ngờ). Vùng đất cực tây do người Mông Cổ chiếm đóng, gồm phía nam NgaKazakhstan, được trao cho những người con lớn nhất của ông này: Hãn Bạt Đô (Batu), người cuối cùng thành hãn của Thanh Trướng hãn quốc; và hãn Oát Nhi Đáp (Orda), người trở thành hãn của Bạch Trướng hãn quốc.[6][7] Năm 1235, Bạt Đô cùng đại tướng Tốc Bất Đài (Subedei) bắt đầu tiến về phía tây, đầu tiên chinh phục người Bashkirsau đó tiến về Volga Bulgaria năm 1236. Từ đây, năm 1237 ông chinh phục một số vùng thảo nguyên phía nam Ukraina, buộc người Cuman địa phương phải rút về phía tây. Chiến dịch quân sự chống lại người Cuman đã được Truật Xích, con trai của Thành Cát Tư Hãn, khởi động năm 1223 khi quân đội của ông tìm cách tiến vào bán đảo Krym. Mãi tới năm 1239 hầu hết người Cuman mới bị đuổi khỏi bán đảo và Krym trở thành một trong những ulus của Đế quốc Mông Cổ.[8] Các tàn tích của người Cuman Krym còn lại ở dãy núi Krym trong khi hầu hết bán đảo trở thành nơi sinh sống của những người Tatar đi chinh phục. Tiến về phía bắc, Bạt Đô bắt đầu xâm lược Rus và trong ba năm đã chinh phục các công quốc Nhà nước Kiev, trong khi những người cháu của ông Mông Kha (Möngke), Khoát Đoan (Kadan) và Quý Do (Guyuk) tiến về phía nam vào Alania.

Dùng những người Cuman di cư làm casus belli (nguyên nhân gây chiến), đội quân của Bạt Đô, với những người anh em và cháu chắt, gồm cả Tích Ban (Shiban), Oát Nhi Đáp, Khoát Đoankhả hãn tương lai Mông Kha, tiếp tục đi về phía tây, cướp phá Ba LanHungary và đỉnh cao là trận Legnicatrận Muhi. Tuy nhiên, năm 1241 đại hãn Oa Khoát Đài (Ögedei) chết tại Mông Cổ. Bạt Đô quay trở lại từ nơi đang vây hãm Viên để tham gia vào cuộc tranh chấp quyền kế vị. Quân đội Mông cổ không bao giờ còn có thể đi xa như vậy về phía tây. Năm 1242, sau khi rút qua Hungary (phá huỷ Pest trong quá trình đó), và chinh phục Bulgaria,[9] Bạt Đô thiết lập kinh đô tại Sarai, kiềm chế vùng hạ lưu sông Volga, tại địa điểm kinh đô Atil của người Khazar. Ngay trước sự kiện này, Bạt Đô và em trai của Oát Nhi Đáp là Tích Ban rời đội quân của Bạt Đô và được phong cho ulus rộng lớn của riêng ông ở phía bắc dãy núi Ural dọc theo sông Obisông Irtysh.

Sau khi Mông Kha chết năm 1259, cuộc chiến tranh giành quyền kế vị diễn ra giữa Hốt Tất LiệtA Lý Bất Ca (Ariq Böke) đánh dấu sự chấm dứt của một đế quốc Mông Cổ thống nhất. Cuộc chiến giữa Kim Trướng hãn quốc dưới sự chỉ huy của hãn Biệt Nhi Ca (Berke) và hãn quốc Y Nhi của hãn Húc Liệt Ngột (Hulagu), cuộc chiến tranh Biệt Nhi Ca-Húc Liệt Ngột, nhanh chóng bùng phát năm 1262. Kim Trướng hãn quốc trở thành một quốc gia hoàn toàn độc lập sau đó. Dù hãn Uzbeg (sultan Mohammed Öz-Beg hay Nguyệt Tức Biệt) đã Hồi giáo hoá hãn quốc này năm 1315 và sử dụng tiếng Mông Cổ làm ngôn ngữ ngoại giao duy nhất, ký tự Mông Cổ đã được các hãn sử dụng cho tới cuối thế kỷ 14. Chúng ta biết rằng Janibeg đã viết một bức thư bằng tiếng Mông Cổ gửi sang Ai Cập và Tokhta, và Tokhtamysh đã đúc những đồng xu với ký tự Mông Cổ.[10] Sau vụ lật đổ vị bá chủ danh nghĩa là Hoàng đế nhà Nguyên Nguyên Huệ Tông Thỏa Hoàn Thiếp Mục Nhĩ (Toghan Temur),[11] Kim Trướng Hãn Quốc mất đi quan hệ với Mông CổTrung Quốc.[12]

Thời hoàng kim[sửa | sửa mã nguồn]

Một phần của loạt bài về
Lịch sử Mông Cổ
Quốc huy Mông Cổ
Thời kỳ tiền Mông Cổ
Hung Nô 209 TCN–155
Tiên Ti 93–234
Nhu Nhiên 330–555
Đột Quyết 552–744
Hồi Cốt 742–848
Kiên Côn 539–1219
Khiết Đan 916–1125
Thời kỳ trung đại
Mông Ngột Quốc 1120–1206
Đế quốc Mông Cổ 1206–1271
Nguyên 1271–1368
Bắc Nguyên 1368–1636
Thanh trị 1636/1691–1911
Thời hiện đại
Cách mạng Dân tộc 1911
Hãn quốc Bác Khắc Đa 1911–1924
Chiếm đóng 1919–1921
Cách mạng Nhân dân 1921
Cộng hòa Nhân dân 1924–1992
Cách mạng Dân chủ 1990
Mông Cổ hiện đại 1990–nay
Portal icon

Người dân Kim Trướng hãn quốc phần lớn là sự pha trộn giữa người Turkngười Mông Cổ, những người sớm theo đạo Hồi.[13] Đa số dân hãn quốc là người Turk: Người Kypchak, Volga Tatar, Khwarezm, và những sắc tộc khác. Người dân hãn quốc này dần dần bị Turk hoá và mất đi bản sắc Mông Cổ, trong khi những hậu duệ của Bạt Đô có nguồn gốc từ các chiến binh Mông Cổ tạo thành tầng lớp quý tộc.[14] Họ thường được người Nga và người châu Âu gọi là người Tatar. Người Nga giữ tên chung này cho cả nhóm tới thế kỷ 20. Tuy nhiên, hầu hết các thành viên của nhóm này tự phân biệt mình theo tên sắc tộc hay bộ lạc, một số người cũng tự coi mình là tín đồ Hồi giáo. Đa số dân cư, cả dân nông nghiệp và du mục, đều sử dụng tiếng Kypchak, một ngôn ngữ đã phát triển thành các ngôn ngữ khu vực của nhóm Kypchak sau khi hãn quốc tan rã.

Các hậu duệ của Bạt Đô cai trị Kim Trướng hãn quốc từ Sarai Batu và sau này là Sarai Berke, đều kiểm soát một vùng từ sông Volgadãy núi Karpat tới cửa sông Danube. Các hậu duệ của Orda cai trị vùng từ sông Ural tới hồ Balkhash. Những cuộc điều tra dân số đã ghi nhận người Trung Quốc sống trong các khu dân cư tại các vùng của người Tatar ở Novgorod, TverMoskva.

Một bài thơ trên vỏ cây, được biết như là giấy cói Kim Trướng hãn quốc, là một trong những dấu vết còn lại tưởng nhớ về nền văn hoá hãn quốc này. Thơ được viết bằng tiếng Mông Cổ ở đầu thế kỷ 14. Nó nói về một chiến binh và người mẹ anh ta nhớ nhau trong bối cảnh những cuộc chiến tranh triền miên.

Cơ cấu tổ chức nội bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Vị vua cai trị tối cao của hãn quốc là hãn, được lựa chọn trong kurultai từ số các hậu duệ của hãn Bạt Đô. Tể tướng, cũng thuộc sắc tộc Mông Cổ, được gọi là "hoàng thân của các hoàng thân", hay beklare-bek. Các vị quan được gọi là vizier. Các vị lãnh chúa địa phương, hay các basqaq, chịu trách nhiệm thu thuế và xử lý các vụ bất tuân của dân chúng. Cơ cấu hành chính dân sự và quân sự không tách rời.

Hãn quốc này đã phát triển như một nền văn hoá định cư chứ không phải du mục, và Sarai phát triển lên trở thành một đô thành lớn và thịnh vượng. Đầu thế kỷ 14, thủ đô được dời lên thượng nguồn tới Sarai Berqe, nó trở thành một trong những thành phố lớn nhất thế giới thời Trung cổ, với 600.000 dân.[15]

Dù có những nỗ lực của người Nga nhằm cải đạo ở Sarai, người Mông Cổ vẫn tuân theo các đức tin vật linh hay shaman giáo truyền thống của họ cho tới khi Uzbeg Khan (1312-41) chấp nhận đạo Hồi làm quốc giáo. Nhiều vị quân chủ của Rus Kiev - như Mikhail của ChernigovMikhail của Tver nằm trong số họ - được thông báo là đã bị ám sát ở Sarai, nhưng các hãn nói chung là khoan dung và thậm chí còn cho phép Nhà thờ Chính thống Nga không phải nộp thuế.

Chư hầu và đồng minh[sửa | sửa mã nguồn]

Hãn quốc thu các khoản thuế từ các tộc người chư hầu - người Nga, người Armenia, người Gruzia, người Circassia, người Alan, người Hy Lạp Krym, người Goth Krym, và các sắc tộc khác (người Bulgar Balkanngười Serb). Các lãnh thổ của các thần dân theo Thiên chúa giáo được coi là các vùng đất ngoại biên không đáng chú ý lắm khi họ vẫn chịu nộp thuế. Các quốc gia chư hầu này không bao giờ bị sáp nhập vào hãn quốc, và những vị công tước Nga ban đầu có được quyền ưu tiên thu thuế cả của người Tatar. Để duy trì sự kiểm soát với Nga, các lãnh chúa Tatar thường tiến hành các cuộc cướp bóc trừng phạt vào hầu hết các công quốc Nga (các cuộc lớn nhất là vào năm 1252, 1293, 1382).

Có một quan điểm, được Lev Gumilev quảng bá nhiều nhất, rằng hãn quốc và các thực thể Nga đã tham gia vào một liên minh phòng thủ chống lại các hiệp sĩ Teuton cuồng tín và người Litva dị giáo. Những người đề xuất chỉ ra rằng triều đình Mông Cổ là nơi các công tước Nga thường lui tới, đáng chú ý nhất là Feodor Đen của Yaroslavl, người khoe khoang ulus của riêng mình gần Sarai, và Aleksandr Nevsky của Novgorod, người anh em chí cốt của người kế vị Bạt Đô là hãn Sartaq. Một lực lượng Mông Cổ đã giúp đỡ cho người Novgorod tại trận chiến băng và người Novgorod phải trả thuế cho hãn quốc.

Sarai đã có mối quan hệ thương mại phát đạt với các trung tâm thương mại của Genoa trên bờ biển Đen - Soldaia, Caffa, và Azak. Mamluk Ai Cập là đối tác thương mại lâu dài của các hãn và đồng minh tại Địa Trung Hải. Berke, hãn của Kipchak đã lập ra một liên minh với Mamluk Sultan Baibars chống lại hãn quốc Y Nhi năm 1261.[16]

Phát triển chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cái chết của Bạt Đô năm 1255, sự thịnh vượng của đế chế của ông kéo dài đúng một thế kỷ, cho tới vụ ám sát Jani Beg năm 1357, dù những mưu đồ của Nogai quả thực có tạo ra một cuộc nội chiến cục bộ hồi cuối thập niên 1290. Đỉnh cao sức mạnh quân sự của hãn quốc là trong thời kỳ cai trị của Uzbeg (1312-41), quân đội của ông vượt quá 300.000 chiến binh.

Chính sách với Nga của họ là luôn thay đổi các liên minh nhằm khiến Nga luôn yếu ớt và bị chia rẽ. Trong thế kỷ 14, sự nổi lên của Litva ở đông bắc châu Âu đã đặt ra một thách thức với sự kiểm soát của người Tatar với Nga. Vì thế Uzbeg Khan bắt đầu hỗ trợ Moskva trở thành nhà nước hàng đầu của Nga. Ivan I Kalita được trao danh hiệu đại công tước và có quyền thu thuế từ các vị công tước Nga khác.

Phân rã và sụp đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Tử thần Đen những năm 1340 là một yếu tố chủ chốt góp phần vào sự suy tàn của Kim Trướng hãn quốc. Sau thời kỳ cầm quyền thảm hoạ của Jani Beg và vụ ám sát ông sau đó, hãn quốc này rơi vào một cuộc nội chiến kéo dài, với sự xuất hiện mỗi hãn một năm trong vài thập kỷ sau đó. (Bạch Trướng hãn quốc của Orda tiếp tục phát triển và không gặp rắc rối gì lớn cho tới cuối những năm 1370). Tới những năm 1380, Khwarezm, Astrakhan, và Muscovy đã tìm cách thoát khỏi quyền lực của hãn quốc, trong khi vùng đất tới sông Dnepr của nó đã bị Litva sáp nhập sau thắng lợi quyết định của họ trong trận chiến sông SynyukBa Lan năm 1368. (Các công quốc phía đông dần bị sáp nhập với ít sự kháng cự).

Mamai, một vị tướng người Tatar không chính thức nắm ngôi báu, đã tìm cách tái lập quyền lực của Tatar với Nga. Quân đội của ông đã bị Dmitry Donskoi đánh bại tại trận Kulikovo trong thắng lợi thứ hai liên tiếp của ông trước người Tatar. Mamai nhanh chóng mất quyền lực.

Năm 1378, Tokhtamysh, một hậu duệ của hãn Orda và người cai trị Bạch Trướng hãn quốc, đã xâm lược và sáp nhập lãnh thổ của Thanh Trướng hãn quốc, tái lập trong một thời gian ngắn Kim Trướng hãn quốc như là quyền lực thống trị trong vùng. Sau thất bại của Mamai, Tokhtamysh đã tìm cách tái lập sự thống trị của Kim Trướng hãn quốc với Nga bằng cách tấn công các vùng đất Nga năm 1382. Ông bao vây Moskva ngày 23 tháng 8, nhưng những người dân Moskva đã đánh bại ông, lần đầu tiên sử dụng súng trong lịch sử Nga.[17] Ngày 26 tháng 8, hai người con của người ủng hộ Tokhtamysh là Dmitry của Suzdal, các công tước của Suzdal và Nizhny Novgorod Vasily và Semyon, có mặt trong các lực lượng của Tokhtamysh, đã thuyết phục những người Moskva mở cổng thành, hứa hẹn rằng các lực lượng sẽ không tàn phá thành phố.[18] Điều này giúp quân đội của Tokhtamysh tiến vào và phá huỷ Moskva, giết hại 24.000 người.[19]

Các lãnh địa của Kim Trướng hãn quốc năm 1389 trước cuộc chiến tranh Tokhtamysh-Timur, với các biên giới quốc tế mới màu xám sáng. Công quốc Moskva được thể hiện như một vùng độc lập, màu vàng sáng.

Tamerlane đã thực hiện một cú đánh chết người với hãn quốc, người đã thủ tiêu quân đội của Tokhtamysh, phá huỷ kinh đô, cướp phá các trung tâm thương mại Krym, và trục xuất hầu hết thợ thủ công có tài tới thủ đô của mình tại Samarkand.

Trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 15, quyền lực được Edigu, một tư tế có nguồn gốc ở Vytautas tại Litva trong Trận chiến sông Vorskla thao túng và thành lập hãn quốc Nogai làm khu vực của riêng mình. Trong thập niên 1440, hãn quốc một lần nữa bị chia rẽ bởi nội chiến. Lần này, nó tan rã thành hai hãn quốc: hãn quốc Qasim, hãn quốc Kazan, hãn quốc Astrakhan, hãn quốc Kazakh, hãn quốc Uzbek, và hãn quốc Krym tất cả đều ly khai khỏi tàn tích cuối cùng của Kim Trướng hãn quốc - Đại hãn quốc.

Không một hãn quốc mới nào mạnh hơn đại công quốc Moskva, cuối cùng đã thoát khỏi sự kiểm soát của người Tatar năm 1480. Mỗi hãn quốc cuối cùng đều bị nó sáp nhập, bắt đầu với Kazan và Astrakhan hồi thập niên 1550. Tới cuối thế kỷ hãn quốc Siberi đã là một phần của Nga. Các hậu duệ của các hãn cầm quyền đều phục vụ Nga.

Mùa hè năm 1470 (những nguồn khác đưa ra con số 1469), hãn Ahmed tổ chức một cuộc tấn công vào Moldavia, Vương quốc Ba Lan, và Litva. Tới ngày 20 tháng 8, các lực lượng Moldavia dưới sự chỉ huy của Stephen Vĩ đại đánh bại quân Tatar trong Trận Lipnic. Vương quốc Ba Lan và Đại công quốc Litva (sở hữu hầu hết Ukraina ở thời điểm đó) bị số quân còn lại của hãn quốc tấn công năm 1487-1491. Họ đi tới tận Lublin ở trung tâm Ba Lan trước khi bị đánh bại một trận quyết định tại Zaslavl.[20]

Hãn quốc Krym trở thành một nhà nước chư hầu của Đế quốc Ottoman năm 1475 và khuất phục những gì còn lại của Đại hãn quốc năm 1502. Người Tatar Krym tiến hành cướp phá tại miền nam nước Nga, Ukraina và thậm chí cả Ba Lan trong thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17, nhưng họ không thể đánh bại Nga hay chiếm Moskva. Dưới sự bảo hộ của Ottoman, hãn quốc Krym tiếp tục sự tồn tại bấp bênh tới khi Ekaterina Đại đế sáp nhập nó vào ngày 8 tháng 4 năm 1783. Nó là nhà nước kế tục tồn tại lâu nhất của Kim Trướng hãn quốc.

Các tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Người Mông Cổ thích tổ chức theo hệ thập phân được thừa hưởng từ Thành Cát Tư Hãn. Có thông tin cho rằng có tổng cộng 10 tỉnh hay ulus bên trong Kim Trướng hãn quốc.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo và ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Lịch sử Đông Slav

  1. ^ Russia and the Golden Horde: The Mongol Impact on Medieval Russian History của Charles J. Halperin, trang 111
  2. ^ G. Vernadsky, M. Karpovich: The Mongols and Russia, Nhà in Đại học Yale, 1953
  3. ^ "Empire of the Golden Horde", Bách khoa toàn thư Columbia, ấn bản 6, 2001-05.
  4. ^ a ă T. May, "Khanate of the Golden Horde", North Georgia College and State University.
  5. ^ a ă â "Golden Horde", trong Encyclopaedia Britannica, 2007. Trích dẫn: "cũng gọi là hãn quốc Kipchak là một tên gọi trong tiếng Nga để chỉ Ulus Juchi, phần phía tây của đế quốc Mông Cổ, đã phồn thịnh từ giữa thế kỷ 13 tới cuối thế kỷ 14. Người dân của Kim Trướng hãn quốc là hỗn hợp của người Turk và người Mông Cổ, với dân tộc thứ hai nói chung tạo thành tầng lớp quý tộc."
  6. ^ Edward L. Keenan, Bài trên Encyclopedia Americana
  7. ^ B.D. Grekov và A.Y. Yakubovski, The Golden Horde and its Downfall
  8. ^ History of Crimean Khanate (tiếng Anh)
  9. ^ Denis Sinor, "The Mongols in the West", Journal of Asian History v.33, n.1 (1999).
  10. ^ Sh.Bira - Culture exchange between Mongol Khanates, tr. 136
  11. ^ Encyclopedia of Mongolia and Mongol Empire
  12. ^ Russia and the Golden Horde, của Charles J. Halperin, tr. 28
  13. ^ Russia and the Golden Horde: The Mongol Impact on Medieval Russian History, của Charles J. Halperin, tr. 111
  14. ^ Encyclopædia Britannica
  15. ^ Encyclopædia Britannica
  16. ^ Mantran, Robert (Fossier Robert, chủ biên) "A Turkish or Mongolian Islam" trong The Cambridge Illustrated History of the Middle Ages: 1250-1520, tr. 298
  17. ^ (tiếng Nga) Dmitri Donskoi Epoch
  18. ^ (tiếng Nga) History of Moscow settlements - Suchevo
  19. ^ Đại Bách khoa toàn thư Xô viết, ấn bản lần thứ 3, mục từ "Московское восстание 1382", có trực tuyến tại đây
  20. ^ "Russian Interaction with Foreign Lands"
  21. ^ A.P.Grigorev và O.B.Frolova, Geographicheskoy opisaniye Zolotoy Ordi v encyclopedia al-Kashkandi-Tyurkologicheskyh sbornik, 2001, tr. 262-302

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Đế quốc Mông Cổ