Bản vị vàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Kim bản vị)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà phương tiện tính toán kinh tế tiêu chuẩn được ấn định bằng hàm lượng vàng.

Dưới chế độ bản vị vàng, tổ chức phát hành tiền mặt (ở dạng giấy bạc hay tiền xu) cam kết sẵn sàng nhận lại tiền mặt và trả vàng nếu được yêu cầu. Các chính phủ sử dụng thước đo giá trị cố định này nếu chấp nhận thanh toán cả tiền mặt của chính phủ nước khác bằng vàng sẽ có liên hệ tiền tệ ấn định (lượng tiền mặt lưu hành, tỷ giá quy đổi, v.v..)

Những người ủng hộ chế độ bản vị vàng cho rằng hệ thống này đề kháng được sự bành trướng tín dụng và nợ nần. Không như chế độ tiền luật định (không có vàng bảo đảm), đồng tiền được bảo đảm bằng vàng sẽ không cho phép chính phủ tùy tiện in tiền giấy. Cản trở này ngăn hiện tượng lạm phát do đánh tụt giá tiền tệ. Nó được tin rằng giúp loại bỏ được sự bất ổn hệ thống tiền tệ, đảm bảo sự tín nhiệm của tổ chức phát hành tiền tệ và khuyến khích hoạt động cho vay. Ở những nước không áp dụng bản vị vàng một cách triệt để như tuyên bố bảo đảm hàm lượng vàng nhưng phát hành tiền giấy nhiều hơn, trải qua các cuộc khủng hoảng tín dụng và trì trệ kinh tế. Ví dụ là sự hoang mang ở Hoa Kỳ năm 1819 sau khi Ngân hàng quốc gia thứ hai ra đời năm 1816.

Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới còn áp dụng bản vị vàng. Thay vào đó, tiền luật định được áp dụng, có nghĩa là Nhà nước áp đặt sử dụng đồng tiền do họ phát hành, yêu cầu nộp thuế, nhận trợ cấp, thanh toán của Chính phủ bằng đồng tiền đó. Ở một số định chế tài chính tư nhân, bản vị vàng vẫn được áp dụng.

Mục lục

[sửa] Tại sao lại là vàng?

Vàng được lựa chọn bởi sự tinh khiết, không bị biến đổi theo thời gian, dễ dàng phân biệt, thẩm định nhờ màu đặc trưng, độ dẻo, âm thanh khi va chạm, khối lượng riêng lớn; vàng là một vật phẩm mà các nhà buôn lựa chọn làm thước đo giá trị - nó đã được chọn từ xa xưa là một dạng tiền và vật cất trữ của cải.

Đã có rất nhiều vật phẩm được sử dụng làm tiền, bao gồm cả những thứ tưởng như không thể như vỏ ốc, lá cây thuốc lá. Những thuộc tính cần phải có để một dạng vật chất trở thành dạng cơ bản của tiền là

  • Dễ phân biệt
  • Bền vững
  • Ổn định vể lượng sẵn có
  • Giá trị nội tại không bị biến động.

Vàng đáp ứng tất cả các yêu cầu trên và có thể nói rằng nó là dạng vật chất duy nhất trên thế giới đáp ứng được. Lượng vàng mà con người có được không thay đổi đột biến trong nhiều thế kỷ; lượng vàng bổ sung nhờ khai mỏ là nhỏ và dự tính được. Phần lớn vàng được tàng cất trong kho, quỹ, két ở dạng “chức năng” của nó là vật lưu trữ giá trị. Nhu cầu vàng cho mục đích khác chỉ là trang sức, răng giả và đồ điện tử mà thôi. Việc sử dụng vàng làm đồ trang sức và các vật trang trí khác có thể coi là cùng chức năng lưu trữ giá trị bởi thuộc tính thẩm mĩ của nó. Hai ứng dụng còn lại chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với lượng vàng được tàng trữ dưới dạng thỏi, nén; bên cạnh đó, nhu cầu vàng trong lĩnh vực nha khoa đang giảm xuống nhờ việc sử dụng các vật liệu trông giống răng thật. Ngoài vàng ra, bất kỳ vật phẩm nào khác đều có thể biến đổi giá trị khi cung và cầu thay đổi.

Quá trình đi đến chọn vàng làm tiền, trong các xã hội, khác nhau theo thời gian và địa điểm. Tuy vậy các nhà sử học tin rằng, giá trị cao của vàng nhờ đẹp, tinh khiết, không bị ăn mòn, luôn ổn định, và dễ nhận ra đã đưa nó trở thành vật bảo toàn giá trị và thước đo giá trị của các dạng hàng hóa, vật chất khác. Ở thành Babylon cổ đại, giạ lúa mì (36 lít) đã được sử dụng làm đơn vị tính toán với khối lượng vàng tương ứng được sử dụng làm vật mang giá trị. Những hệ thống tiền tệ cổ xưa dựa trên lương thực sử dụng vàng để biểu hiện giá trị. Nghiệp vụ ngân hàng (banking) bắt đầu xuất hiện khi vàng ký gửi tại ngân hàng có thể được chuyển từ một tài khoản sang tài khoản khác trực tiếp hoặc cho vay lấy lãi suất.

Khối lượng riêng lớn của vàng (19,3 g/cm³) có nghĩa là những thủ đoạn pha vàng với các kim loại khác để có thêm khối lượng đều bị dễ dàng phát hiện (câu chuyện “Eureka” nổi tiếng của nhà bác học Ác-si-mét). Có một số kim loại nặng hơn vàng. Trong số các kim loại tương đối phổ biến thì chỉ có osmium (22,6 g/cm³), iridium (22,4 g/cm³), bạch kim (21,45 g/cm³), volfram (19,35 g/cm³) là nặng hơn vàng. Thế nhưng chúng đều đắt hơn vàng còn volfram thì giá gần bằng vàng. Hợp kim của vàng và volfram thì khó chế tạo và không hiệu quả.

Khi được sử dụng thay mặt vàng trong hệ thống tiền tệ, chức năng của tiền giấy là nhằm giảm nguy hiểm có thể xảy ra khi vận chuyển vàng, giảm khả năng làm xấu những đồng xu vàng và tránh việc rút dần phương tiện thanh toán ra khỏi lưu thông như đầu cơ hay hao mòn. Sự xuất hiện tiền giấy ban đầu chỉ thuần túy bởi sự thiếu tin cậy khi vận chuyển vàng, đặc biệt là những rủi ro trên những hành trình dài; bên cạnh đó còn bởi các nước muốn sự giao thương phải đặt dưới sự kiểm soát của họ. Tiền tệ được đảm bảo bằng kim loại quý đôi khi được gọi là tiền biểu hiện. Và giấy bạc được phát hành theo cách này gọi là chứng chỉ tiền tệ, một cách gọi để phân biệt nó với các dạng khác của tiền giấy.

Trên thực tế, trong phần lớn lịch sử xã hội loài người, bạc mới là phương tiện lưu thông chủ yếu và là kim loại quan đóng vai trò tiền tệ. Vàng được sử dụng là vật mang giá trị cao nhất, và là phương tiện thanh toán chỉ khi cần phải gọn nhẹ như việc thanh toán cho quân đội. Trong một số thời điểm, vàng thay thế bạc trong vai trò đơn vị cơ sở cho thương mại quốc tế, đó là thời kỳ hoàng kim của đạo Hồi (năm 662 đến 1258), thời kỳ đỉnh cao của các thành quốc buôn bán Italia trong thời Phục hưng, và đáng kể nhất là trong thế kỷ 19. Vàng duy trì vai trò là kim loại của kế toán lưu trữ tiền tệ cho đến khi hệ thống tiền tệ Bretton Woods sụp đổ năm 1971. Cho đến nay, nó vẫn là đối tượng dự trữ quan trọng ở các ngân hàng trung ương và chính phủ, là phương tiện duy trì khả năng thanh khoản và thực hiện chức năng bảo toàn giá trị.

Tổng lượng vàng mà con người đã khai thác cho đến nay thật ít một cách kinh ngạc – khoảng 125 ngàn tấn. Nếu toàn bộ số vàng đó được xếp ở một chỗ thì chỉ một nhà thi đấu bóng rổ đủ chứa toàn bộ (cao 9 m, rộng 18 m, dài 36 m).

Giá vàng hiện nay khoảng US$640 một ounce tức là khoảng 20.000 đôla Mỹ một kg, giá trị toàn bộ dự trữ vàng của thế giới là chừng 2,5 nghìn tỷ đôla Mỹ. Con số này còn ít hơn lượng tiền mặt lưu thông tại Mỹ. Do đó, nếu người ta muốn quay lại bản vị vàng thì hoặc là vàng phải lên giá rất nhiều (vài chục đến vài trăm lần) hoặc chỉ đảm bảo một phần nhỏ giá trị tổng số tiền mặt lưu hành.

[sửa] Tiền xu cổ đại

Kim loại đầu tiên được sử dụng làm tiền là bạc hơn 4.000 năm trước, khi những miếng bạc được sử dụng trong buôn bán. Những đồng xu bằng vàng đầu tiên được dùng bắt đầu từ 600 năm trước Công nguyên (TCN). Tuy vậy, trước thời điểm đó khá lâu, vàng cũng như bạc đã được sử dụng làm vật lưu trữ của cải và cơ sở cho các giao kèo buôn bán ở Akkadia (một thành phố Tiểu Á) và sau đó là Ai Cập Cổ đại. Bạc vẫn là kim loại tiền phổ biến nhất trong các giao dịch thông thường cho đến thế kỷ 20. Ngày nay, nó vẫn được lưu thông ở dạng tiền xu có hai kim loại, như đồng 20 pê-xô của Mexico phát hành năm 2006.

Đế chế Ba Tư thu thuế bằng vàng, và khi đế chế này bị Alexander Đại Đế chinh phục, số vàng được đúc thành tiền của đế quốc do ông đứng đầu. Vàng được dùng để trả lương cho quân đội và thưởng cho lính đánh thuê, việc này càng củng cố sự quan trọng của vàng. Như được nói đến trong tác phẩm “Hoàng tử” (The Prince) của Niccolo Machiavelli hai ngàn năm sau đó thì, vàng đã trở nên đồng nghĩa với việc chi dùng cho các chiến dịch quân sự. Đế chế La Mã đúc hai loại tiền xu quan trọng, đó là đồng aureus, nặng 7 gram hợp kim vàng-bạc; và đồng solidus, nặng 4,4 gram trong đó có 4,2 gram vàng. Các xưởng đúc tiền La Mã tích cực một cách xuất sắc - người La Mã đúc và lưu hành hàng triệu đồng xu tiền trong thời gian nền Cộng hòa và thời gian Đế chế.

Sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã và các mỏ vàng ở Châu Âu đã cạn kiệt, Đế quốc Đông La Mã (còn gọi là Đế quốc Byzantine) đúc đồng tiền nimisma hay bezant để kế thừa đồng solidus. Đồng tiền xu mới này có khối lượng và độ tinh khiết như đồng xu cũ và vẫn được coi là đồng solidi. Thật đáng tiếc, Đế quốc Byzantine, vào khoảng năm 1030 giảm dần hàm lượng vàng trong tiền xu của nó cho đến khi tiền xu trong lưu thông chỉ còn 15% vàng. Điều này thể hiện sự mất mát giá trị khủng khiếp của đồng tiền này so với những đồng tiền xu thời La Mã vốn có hàm lượng vàng từ 95% đến 98%.

Từ cuối thế kỷ thứ 7, đồng dinar dần trở thành đồng tiền của thương mại quốc tế. Đồng dinar được phát hành bởi Để chế Ả rập, theo hình mẫu của đồng tiền solidus La Mã, có cùng kích thước, khối lượng, hàm lượng vàng. Dinar và solidus của Đế quốc Đông La Mã cùng tồn tại trong lưu thông trong 350 năm, sau đó, đồng solidus bắt đầu suy yếu.

Đồng dinar bằng vàng và đồng dirham bằng bạc đều có nguồn gốc từ người Ba Tư (Persian). Sau đó, những vị vua đạo Hồi cũng chọn đồng tiền này làm tiền của vương quốc, thậm chí Abd al-Malik (trị vì 685-705) cải cách đồng tiền đến mức mà người ta nghĩ rằng đồng dinar và dirham có xuất xứ từ đây. Ông bỏ những hình vẽ trên đồng xu, quy định chuẩn mực của đồng tiền phải nói về Thánh Allah và ấn định tỷ lệ vàng-bạc. Thế lực và thương mại lớn mạnh của đạo Hồi đưa đồng dinar trở thành đồng tiền thống trị từ bờ biển phía tây Châu Phi cho đến bắc Ấn Độ tới tận những năm 1200, và nó vẫn là đồng tiền chủ chốt trong hàng mấy trăm năm sau đó. Vậy là đồng solidus, với những đặc điểm của như kích thước, hàm lượng, khối lượng và dù dưới nhiều tên khác như dinar, bezant, đã trở thành đơn vị tính toán giá trị trong hơn 1.300 năm qua ba đế chế hùng mạnh.

Năm 1284, Cộng hòa Venice (còn có tên Serenissima - một thành quốc Italia tồn tại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 18) phát hành đồng tiền vàng đầu tiên của nó, đồng ducat. Đồng tiền trở thành chuẩn mực của tiền xu Châu Âu cho 600 năm tiếp theo. Các đồng xu các là đồng florin, noble, grosh, zloty và guinea cũng được phát hành thời gian này ở các quốc gia Châu Âu khác nhằm tạo điều kiện mở rộng thương mại. Đồng ducat, nhờ vai trò ưu việt hơn hẳn trong giao thương với thế giới đạo Hồi và khả năng xây dựng quỹ dự trữ vàng mới, đã là đồng tiền tiêu chuẩn để các đồng tiền khác quy đổi.

Châu Mỹ, từ khi bắt đầu chinh phục đế chế AztecInca của người da đỏ, Tây Ban Nha vốn chỉ có nhiều bạc, đã tiếp cận được nguồn vàng mới để đúc tiền. Đơn vị tiền bằng vàng cơ bản của Tây Ban Nha là đồng escudo, và đồng “doblión” (tương đương 8 escudo). Đồng doblion ban đầu được ấn định nặng 27,68 gram vàng 22 carat (92%) và có giá trị gấp 16 lần lượng bạc tương đương. Năm 1704, khu vực Caribe lựa chọn vàng là tiền tệ lưu hành nhờ lượng vàng dồi dào của nó. Việc lưu hành tiền xu của Tây Ban Nha tạo ra đơn vị đo giá trị của Hoa Kỳ, đồng đôla dựa trên nguồn bạc của Tây Ban Nha và thị trường tiền tệ Philadelphia bắt đầu giao dịch bằng đồng tiền thuộc địa Tây Ban Nha.

[sửa] Lịch sử của chế độ bản vị vàng mới

Bản vị vàng được chấp nhận dần theo thời gian. Các nhà sử học vẫn chưa thống nhất khi nào thì bản vị vàng thực sự bắt đầu. Với một số nhà sử học, bản vị vàng của nước Anh bắt đầu vào lúc ngài Isaac Newton đưa ra tỷ lệ trao đổi vàng với bạc trong bài luận về hệ thống tiền tệ năm 1717. Trong đó, mối tương quan được ông xác lập để quy đổi những đồng xu vàng và xu bạc đã trở thành tiêu chuẩn đơn vị tính toán giá trị bằng một đạo luật dưới thời Nữ hoàng Anne. Tuy vậy, phần đông cho rằng bản vị vàng đầy đủ cần có một tổ chức phát hành tiền giấy và giấy bạc chính phủ, và tổ chức đó phải đảm bảo quy đổi chúng ra vàng. Vì hình thức này chưa tồn tại trong thế kỷ 18 nên ý kiến chung cho rằng, nước Anh vẫn chưa có bản vị vàng khi đó.

[sửa] Khủng hoảng tiền tệ bằng bạc và giấy bạc ngân hàng (1750-1870)

Để hiểu sự chấp nhận bản vị vàng trên quy mô quốc tế vào cuối thế kỷ 19, cần phải đi theo từ những sự kiện cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Vào cuối thế kỷ 18, những cuộc chiến tranh và cả thương mại với Trung Hoa – nước bán nhiều hàng hóa sang Châu Âu nhưng chẳng dùng mấy hàng hóa từ Châu Âu, đã hút cạn kiệt bạc từ các nền kinh tế Tây Âu và Hoa Kỳ. Tiền xu cứ ngày càng ít đi và giấy bạc ngân hàng cũng như giấy bạc các quỹ tài chính bị lạm dụng như tiền.

Vào thập niên 1790, hệ thống tiền tệ của nước Anh thiếu tiền xu trầm trọng và buộc phải dừng việc đúc các đồng tiền lớn. Nó phải phát hành những đồng tiền bạc chỉ có giá trị tượng trưng và sử dụng tiền xu nước ngoài. Vào cuối thời kỳ chiến tranh Napoleon, Anh bắt đầu kế hoạch thay lớn đổi hệ thống tiền tệ, áp dụng chế độ bản vị vàng và lưu hành đồng xu crown (bằng 5 shilling hoặc 25 penny), đồng nửa crown và farthing bằng đồng (mệnh giá ¼ penny) năm 1821. Hệ thống tiền tệ của Anh sau một thời gian dài cạn kiệt đã phát hành tiền xu ở mức độ bùng nổ; trong 4 năm từ 1816 đến 1820, 40 triệu shilling được phát hành gồm 17 triệu đồng bạc nửa crown và 1,3 triệu bạc đồng crown. “Luật phục hồi các thanh toán tiền mặt” năm 1819 ấn định năm 1823 sẽ phục hồi hoạt động quy đổi tiền lấy kim loại nhưng thực tế năm 1821 đã thực hiện xong. Trong suốt thập kỷ 1820, những giấy bạc mệnh giá nhỏ được các ngân hàng nhỏ phát hành, hoạt động này bị hạn chế năm 1826 khi Ngân hàng Anh được phép có các chi nhánh ở các vùng trong vương quốc. Năm 1833, giấy bạc của Ngân hàng Anh trở thành giấy bạc chính phủ và sự bồi hoàn tiền giấy ra vàng ở các ngân hàng khác không còn được khuyến khích. Năm 1844, luật Ngân hàng xác lập giấy bạc của Ngân hàng Anh được đảm bảo toàn bộ bằng vàng và là đồng tiền chính thức. Theo những đòi hỏi chặt chẽ nhất để xác định là bản vị vàng thì đạo luật năm 1844 đã chính thức hóa bản vị vàng ở Anh quốc.

Kết quả là nhiều thuộc địa của Đế quốc Anh buộc phải sử dụng các đồng xu có giá trị tượng trưng trong thập kỷ 1800. Một số lượng lớn các đồng xu này được phát hành bởi các công ty trong thời gian này. Đồng tiền có tiếng nhất trong số này là của “Strachan và Công ty” (Strachan and Company) phát hành ở Đông Griqualand năm 1874 - đồng tiền bản địa lưu thông rộng rãi đầu tiên của Nam Phi.

Hoa Kỳ du nhập bản vị bạc dựa trên đồng đôla thuộc địa Tây Ban Nha tháng 7 năm 1785. Nó được luật hóa năm 1792 tại Đạo luật về hệ thống tiền tệ (Coinage Act hoặc Mint Act) và Chính phủ Hoa Kỳ sử dụng Ngân hàng Hoa Kỳ (Bank of the United States) để quản lý quỹ dự trữ của nó cũng như xác lập tỷ lệ vàng trong đồng đôla Mỹ. Đây là bản vị vàng phái sinh bởi vì mặc dù là bản vị bạc ngân hàng không buộc phải giữ bạc để đảm bảo giá trị đồng tiền. Từ đây, bắt đầu các nỗ lực của nước Mỹ xây dựng chế độ bản vị lưỡng kim (vàng và bạc) cho đến thập kỷ 1930. Vàng, bạc và đồng real thuộc địa Tây Ban Nha - đồng tiền ăn sâu vào Tây bán cấu, là tiền của nước Mỹ. Vì những khoản nợ Chính phủ khồng lồ để tài trợ Chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ, tiền xu bạc dần rút ra khỏi lưu thông và năm 1806, Tổng thống Jefferson ra lệnh ngừng đúc tiền xu bạc.

Ngân khố Hoa Kỳ (the US Treasury) áp đặt chế độ tiền chặt chẽ, chỉ chấp nhận tiền vàng và bạc theo quy định tại “Đạo luật Ngân khố độc lập năm 1846”, đạo luật này chính thức tách rời các khoản tiền của Chính phủ Liên bang khỏi hoạt động của hệ thống ngân hàng. Tuy vậy, tỷ lệ trao đổi vàng với bạc định giá bạc cao hơn so với nhu cầu vàng trong thương mại hoặc vay mượn từ nước Anh. Khan hiếm vàng tạo nên cơn sốt tìm vàng ở Hoa Kỳ, trong đó có cuộc săn lùng vàng ở California năm 1849 (California Gold Rush). Theo nguyên lý Gresham, bạc dồn về và vàng tuồn ra khỏi Mỹ. Năm 1853, nước Mỹ giảm khối lượng bạc trong mỗi đồng xu để bảo đảm chúng vẫn nằm trong lưu thông và năm 1857 không còn chấp nhận tiền xu nước ngoài như là tiền chính thức trong nước.

Năm 1857, các ngân hàng Mỹ ngừng xuất bạc để chi trả giấy bạc ngân hàng, một làn sóng ảnh hưởng tới hệ thống tài chính quốc tế non trẻ gồm các ngân hàng trung ương, gây ra cuộc khủng hoảng cuối cùng của kỷ nguyên tự do kinh doanh ngân hàng của tài chính quốc tế. Ở Hoa Kỳ, sự đổ vỡ này là một yếu tố góp phần vào Nội chiến Hoa Kỳ, và năm 1861, chính phủ Hoa Kỳ ngừng thanh toán vàng và bạc, chấm dứt các nỗ lực xây dựng bản vị bạc. Suốt khoảng thời gian 1860-1871, nhiều cố gắng tái lập bản vị lưỡng kim bao gồm cả kế hoạch dựa vào đồng franc vàng và bạc của Pháp, nhưng với dòng bạc tới từ các mỏ khai thác mới, dự báo khan hiếm bạc nhanh chóng chấm dứt.

Sự tương tác giữa hệ thống ngân hàng lớn và cơ sở của hệ thống tiền tệ đã tạo thành lý do chính của bất ổn tiền tệ thời gian này. Cơ sở để có một nền kinh tế ổn định bị hạn chế bởi nguồn cung tiền mặt kiểm soát chặt chẽ; chính phủ độc quyền phát hành tiền giấy trực tiếp và gián tiếp; một ngân hàng trung ương; và đơn vị xác định giá trị duy nhất. Các nỗ lực thoát khỏi tình trạng trên gây ra các cuộc khủng hoảng tiền tề chu kỳ - bởi tiền giấy giảm giá trị, bạc không còn lưu thông như là đơn vị cất giữ giá trị; hoặc khủng khoảng bởi các chính phủ do nhu cầu kim loại quý để thanh toán, rút dần các phương tiện lưu thông ra khỏi nền kinh tế. Cùng thời gian đó, nhu cầu về tín dụng bùng nổ rất nhanh chóng, cho đến năm 1872, ở nhiều quốc gia, các ngân hàng lớn được thành lập trong đó cả ở Nhật Bản. Sự cận thiết để có một cơ sở vững chắc cho các hoạt động kinh doanh tiền tệ làm bản vị vàng mau chóng được chấp nhận trong thời gian sau đó.

[sửa] Sự thiết lập của bản vị vàng quốc tế (1870-1901)

Nước Đức ra đời sau chiến tranh Chiến tranh Pháp-Phổ, nó phát hành đồng mark theo chế độ bản vị vàng nghiêm ngặt và sử dụng vàng khai thác được ở Nam Phi để mở rộng cung ứng tiền. Các quốc gia khác nhanh chóng học tập mô hình này bởi vàng lúc này đã trở nên phương tiện cất trữ giá trị ổn định, phổ biến và dễ vận chuyển.

Thời điểm áp dụng bản vị vàng ở một số nước:

Trong thập niên 1870, kinh tế học về giảm phátsuy thoái tạo ra nhu cầu bạc lớn để sử dụng làm tiền. Nhưng những nỗ lực đó nói chung đều thất bại và xu hướng chung vẫn là vàng. Đến năm 1879, Liên minh tiền tệ Latinh gồm Pháp, Ý, Bỉ, Thụy Sĩ và sau đó thêm Hy Lạp chỉ chấp nhận đồng tiền vàng là tiền tệ mặc dù, trên lý thuyết, bạc là phương tiện lưu thông.

[sửa] Những dạng tiền tệ thay thế

Cùng thời gian đó, hệ thống tiền xu vàng gây ra sự sụt giảm thê thảm tổng cầu, và gây ra hàng loạt các cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài ở Hoa Kỳ và Anh quốc. Đây không phải là khủng hoảng bởi làm công nghiệp hóa thất bại hay sự sa sút của tổng sản lượng hàng hóa cung cấp. Vì vậy có những nỗ lực để đưa ra dạng tiền tệ thay thế, trong đó có việc áp dụng Lệnh thanh toán ở Anh năm 1881, rồi sau đó là giấy bạc chính phủ trong thời gian Thế chiến thứ nhất; ở Mỹ, đảng “Greenback” cổ vũ việc giảm loại trừ tiền giấy không được bảo đảm bằng vàng.

[sửa] Ảnh hưởng của thuế

Bằng cách khuyến khích đi sâu vào công nghiệp, các quốc gia tiến hành công nghiệp hóa nhanh chóng gia tăng dân số và vì thế mà cần có các nguồn cung cấp sản phẩm nông nghiệp. Nhu cầu nhập khẩu nông sản rẻ, đến lượt nó buộc các nước này phải giảm thuế và các hạn chế thương mại để có thể trao đổi hàng hóa tư bản như máy móc với các quốc gia công nghiệp. Kết cục là, điều này khiến các nước bị giảm nguồn thu thuế xuất nhập khẩu phải tìm nguồn thu từ thuế thu nhập và thuế doanh thu. Nó cũng gây sức ép liên tục giảm tiền công, góp phần tạo ra “sự khốn cùng của công nghiệp hóa”. Vai trò của bản vị vàng trong quá trình này vẫn còn đang tranh cãi nóng bỏng với những bài viết mới vẫn đăng tải, cố tìm những liên hệ giữa nền tảng của hệ thống tiền tệ, tiền công và tiêu chuẩn cuộc sống thời đó.

[sửa] Tác động lên các cộng đồng nông thôn

Cho đến thập niên 1890 ở Hoa Kỳ, phản kháng lại bản vị vàng xuất hiện mà trung tâm vùng Đại Bình nguyên (Great Plains) và Tây Nam nước Mỹ. Nhiều chủ trang trại bắt đầu nhìn nhận sự khan hiếm vàng, đặc biệt là ở những vùng xa các trung tâm tài chính ngân hàng ở miền Tây, như một công cụ để các ông chủ ngân hàng miền Đông mưu tính bòn mót nhiều hơn nữa từ tín dụng khiến các chủ trại miền Tây nợ nần nhiều hơn, và tập trung của cải ở miền Tây vào tay những ngân hàng lớn. Đảng Nhân dân (Populist Party hay People Party) ở Lampasas, Texas thành lập, đặt trọng tâm vào việc sử dụng “tiền giản tiện”, một hình thức tiền tệ mà không cần bảo đảm bằng vàng, có thể lưu chuyển dễ dàng ở các ngân hàng khu vực và ở nông thôn, và cung cấp tín dụng cho các trại chủ cần vốn. Sự chống đối bản vị vàng thời kỳ này đạt đỉnh cao với cuộc vận động tranh cử tổng thống của ứng cử viên đảng Dân chủ William Jennings Bryan từ bang Nebraska. Trong bài diễn văn Bỏ qua vàng (Cross of Gold) năm 1896, ông Bryan lập luận chống tại bản vị vàng, ví nó (đặc biệt là tác động của nó lên các chủ trại miền Tây) với cái mũ miện bằng gai mà Chúa Giê-su phải mang khi bị hành hình. Sau thất bại tranh cử năm 1896, William J. Bryan tiếp tục tranh cử năm 1900 và 1908 nhưng đều thất bại. Chiến dịch tranh cử của ông đều nhằm vào các bang miền Nam và vùng Đại Bình nguyên.

[sửa] Tác động lên tỷ lệ lãi suất

Chuyển biến quan trọng thời kỳ này là việc chấp nhận chính sách tiền tệ mà theo đó, tỷ lệ lãi suất thay đổi theo dòng vàng đi ra hoặc tình hình quỹ dự trữ vàng sung túc của ngân hàng trung ương. Chính sách này tạo được sự tin cậy với sự nghiêm túc thực hiện bản vị vàng. Từ năm 1889 đến 1908, bảng Anh duy trì mối tương quan về tỷ giá ngân hàng trực với đồng đôla Mỹ và đồng mark Đức trong 99% và 92% lượng thời gian. Vậy là, theo lý thuyết về động lực tiền tệ bản vị vàng, thì chìa khóa cho sự tin tưởng này là thiện chí của Ngân hàng Anh điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu để ổn định đồng bảng với các đồng tiền khác trong một thế giới mà bản vị vàng thống trị. Trong 360 tháng đỉnh cao của bản vị vàng, Ngân hàng Anh đã thay đổi tỷ lệ chiết khấu 200 lần tùy theo luồng vàng đi và đến, thường xuyên hơn cả các ngân hàng trung ương ngày nay.

[sửa] Chế độ bản vị vàng từ đỉnh cao đến khủng hoảng (1901-1932)

[sửa] Sự phát triển của các chuẩn mực cuộc sống

Cho đến năm 1900, ở các nước công nghiệp chủ chốt, sự cần thiết phải có người cho vay cuối cùng đã trở nên rõ ràng. Ngân hàng trung ương là cần thiết cho hệ thống tài chính mà ví dụ là năm 1890, Ngân hàng Anh phải bảo lãnh ngân hàng Barings khỏi sự phá sản có thể xảy ra bất kỳ lúc nào. Chỉ có nước Mỹ là chưa có một hệ thống ngân hàng trung ương.

Các cuộc chấn động từ cuối các đợt khủng hoảng thập niên 1880 và 1890, đã góp phần tập trung hóa sản xuất và hệ thống ngân hàng. Dầu vậy, quá trình công nghiệp hóa tập trung hơn nữa và xâm chiếm thuộc địa cũng đưa mức sống lên những chuẩn mực cao hơn. Hòa bình và thịnh vượng đang thống trị Châu Âu lúc này, dẫu cho bắt đầu có sự phản kháng của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản vì điều kiện sống khắc nghiệt ở thời kỳ mới công nghiệp hóa.

[sửa] Bỏ chế độ bản vị vàng để tài trợ chiến tranh

Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra chấm dứt thời kỳ bình yên và sung túc. Nước Anh gần như lập tức thực hiện các biện pháp thời chiến dẫn đến việc từ bỏ bản vị vàng, Ngân hàng Anh không đổi tiền ra vàng kể từ năm 1914. Cho đến cuối Thế chiến, nước Anh ban hành hàng loạt các quy định sử dụng “tiền luật định” (không có vàng đảm bảo, là tiền vì chính phủ bắt phải sử dụng, nộp thuế, trả trợ cấp xã hội, thu chi chính phủ, v.v.. bằng tiền này), trong đó có lệnh thanh toán (Postal Money Orders) và giấy bạc quốc khố (Treasury Notes, còn gọi là giấy bạc ngân hàng vì sau đó Ngân hàng Anh đảm nhiệm phát hành và lưu thông). Xuất hiện lạm phát vì chính phủ cần tài trợ chiến tranh. Các nước in tiền giấy nhiều hơn là giới hạn được bảo đảm bằng vàng, đặt cược vào kết cục chiến tranh và thu bồi thường chiến tranh như nước Đức đã làm trong Chiến tranh Pháp-Phổ 1870. Cả Hoa Kỳ và Anh đều thực hiện hàng loạt các biện pháp để kiểm soát vàng và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, nhưng cả hai đều buộc phải từ bỏ bản vị vàng bởi chiến tranh quá tốn kém. Sau thế chiến, Hiệp ước Versailles áp đặt khoản bồi thường chiến tranh nặng nề lên nước Đức và quốc gia phe Liên minh. Pháp hy vọng sử dụng phần bồi thường chiến tranh đó để xây dựng lại nền kinh tế bị tàn phá do phần lớn chiến sự diễn ra trên đất Pháp. Nước Đức, do có nguy cơ phải xuất phần lớn dự trữ vàng để bồi thường chiến phí đã không thể lưu hành đồng mác đế chế bằng vàng và chuyển sang dùng tiền giấy (tiền luật định).

Hàng loạt các cố gắng trong thập niên 1920 để quay trở lại bản vị vàng, viết về chùng cần cả một nghiên cứu dài bằng một cuốn sách. Các hoạt động thu xếp đòi bồi thường chiến tranh của Đức lần lượt thất bại (chương trình Dawes (Dawes Plan) rồi chương trình Young (Young Plan)), các cường quốc thắng trận mong chờ khoản bồi thường để tái thiết kinh tế, còn nước Đức thì không thể trả nổi khoản chiến phí nặng nề, đặc biệt là trong thời hạn theo yêu cầu. Hoa Kỳ, quốc gia có thặng dư thương mại liên tục, cho Đức vay tiền để trả nợ Pháp, tiền đó lại từ Pháp trở về Hoa Kỳ để trả nợ của Pháp trong chiến tranh. Sau thế chiến thứ nhất, Đức (lúc đó là chế độ Cộng hòa Weimar) trải qua siêu lạm phát, để chặn đứng lạm phát, nó phát hành đồng “rentenmark”, dạng tiền tệ được quy ra đất đai và hàng hóa công nghiệp thay vì đảm bảo bằng vàng hoặc kim loại quý (chính phủ không còn vàng dự trữ nữa). Giải pháp này tỏ ra hiệu quả để ổn định nền tài chính Đức, dẫu vậy, đồng reichsmark (được đảm bảo bằng vàng) sau đó phải mất hơn một năm mới được lưu thông đầy đủ. Đồng tiền này trở thành tiền chính thức của nước Đức trong giai đoạn 1924-1948.

[sửa] Trở lại bản vị vàng

Ở Anh quốc, với sự tư vấn của các nhà kinh tế học bảo thủ, đồng bảng trở lại bản vị vàng năm 1925 dưới thời Bộ trưởng Tài chính Winston Churchill dù ông làm việc này một cách miễn cưỡng. Bất kể giá vàng cao hơn và lạm phát nghiêm trọng sau Thế chiến thứ nhất chấm dứt chế độ bản vị vàng, Churchill đã trở lại bản vị vàng mức trước chiến tranh. Trong năm năm từ 1920 đến 1925, giá vàng bị hạn xuống dần tới mức trước chiến tranh, đồng nghĩa với nó là giảm phát của nền kinh tế.

John Maynard Keynes là một trong những nhà kinh tế học lập luận chống lại áp đặt giá vàng trước thế chiến cho thời gian sau này, ông tin rằng tỷ giá quy đổi ra vàng lúc đó là quá cao và nền kinh tế có thể đổ vỡ. Ông gọi bản vị vàng là “that barbarous relic” (một tập tục cổ hủ - ND). Sự giảm phát này diễn ra ở mọi nơi trên Đế quốc Anh mà đồng bảng được sử dụng là phương tiện tính toán cơ bản. Bản vị vàng ở Anh bị từ bỏ lần nữa năm 1931, ở Thụy Điển năm 1929, ở Hoa Kỳ năm 1933 và các quốc gia khác cũng lần lượt buộc phải từ bỏ nó trong thời gian Đại khủng hoảng.

[sửa] Đại khủng hoảng và Đệ nhị thế chiến (1933-1945)

[sửa] Hội nghị London

Năm 1933, khi Đại khủng hoảng vẫn đang hoành hành, Hội nghị London đánh dấu sự chấm dứt chế độ bản vị vàng quốc tế. Trong khi Hoa Kỳ và Anh quốc mong muốn sẽ quay trở lại nó một lúc nào đó, với câu nói của tổng thống Franklin D. Roosevelt rằng trở lại sự ổn định quốc tế “phải dựa trên bạc chứ không phải vàng”, có nghĩa là người ta không muốn làm điều đó ngay. Những đại biểu mà PhápÝ gửi đến khăng khăng trở lại bản vị vàng ngay. Một giải pháp để ổn định tỷ giá giữa các nước Pháp, Anh và Mỹ dựa trên hệ thống quyền rút vốn được đưa ra song cũng không được chấp nhận.

Tâm điểm của hội nghị là giá vàng nên ở mức nào. Ngài Cordell Hull, bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ, nhận được chỉ thị là đề xuất giá vàng ở mức trước khi trở lại bản vị vàng. Có một sự nghi ngờ sâu sắc rằng nước Anh sẽ dùng các dàn xếp thương mại ưu đãi trong Khối Thịnh vượng chung Anh để tránh kiềm chế tài chính này. Bởi sự sụp đổ của bản vị vàng thời điểm đó là do nước Mỹ và nước Anh cố gắng duy trì giá vàng thấp giả tạo, sự đồng thuận đã không thể thực hiện được. Một điểm bất đồng cơ bản khác là vai trò của thuế quan với sự sụp đổ của bản vị vàng, chính phủ tự do của Hoa Kỳ lúc nhìn nhận rằng chính phủ trước đó đã làm khủng hoảng tồi tệ hơn bằng cách nâng cao hơn nữa các hạn chế thương mại bằng thuế.

[sửa] Lệnh cấm vàng

Thời gian này, nhiều quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ cấm tư nhân sở hữu vàng, Đạo luật cấm giao thương với kẻ thù năm 1917 cho phép chính quyền vô hiệu hóa điều khoản bảo đảm vàng và bạc trong các trái phiếu chính phủ và áp đặt mức phạt lên tới 10.000 đôla Mỹ cho những ai không thực hiện. Trong thời gian này, tổng thống Roosevelt thông qua văn bản luật là “Sắc lệnh 6102” (Executive Orders 6102) năm 1933 và “Đạo luật Dự trữ vàng” (Gold Reserve Act) năm 1934 cấm công dân Mỹ và Cục dự trữ liên bang sở hữu vàng. Đồ trang sức, sưu tầm tiền và những thứ tương tự không bị cấm trừ khi chúng trở nên quá nhiều với mỗi cá nhân hoặc pháp nhân. Đến ngày 1 tháng 1 năm 1975, lệnh cấm vàng ở Mỹ mới được dỡ bỏ.

Trong thời gian cấm vàng, các công dân Mỹ được sở hữu vàng dưới dạng giấy bạc chính phủ tức là giấy bạc do Cục Dự trữ Liên bang phát hành. Dù lệnh cấm vàng ban hành ở Mỹ vì tình huống khẩn cấp của quốc gia (hậu quả của Đại khủng hoảng và sự đe dọa của chủ nghĩa phát xít), nó vẫn gây ra tranh cãi thời đó. Năm 1934, Tòa án tối cao tuyên bố đồng ý với ý chí của Quốc hội về cấm vàng, một số người vẫn cho đó là một sự xâm phạm tài sản cá nhân.

[sửa] Ổn định tài chính toàn cầu

Trong các năm sau Hội nghị London, các quốc gia theo đuổi các hiệp định thương mại song phương và đến năm 1935 chính sách kinh tế của các nước phương Tây dần bị chi phối bởi sự nhận thức ngày càng rõ ràng về xung đột quốc tế là không tránh khỏi. Trong thập niên 1920, các biện pháp khắc khổ được tiến hành để tái ổn định nền tài chính thế giới đã cắt giảm chi phí quân sự rất nhiều. Nhưng với sự tái vũ trang của các cường quốc phe Trục, chiến tranh ở Châu Á và sự lo sợ Liên Xô xuất khẩu cách mạng vô sản, công cuộc tái xây dựng chế độ bản vị vàng đã phải nhường ưu tiên cho quá trình vũ trang, chuẩn bị chiến tranh. Chế độ bản vị vàng quốc tế hình thành từ thế kỷ 19 đi đến cáo chung khi nỗ lực cân đối ngân sách của Hoa Kỳ năm 1937 cuối cùng đã gây ra đợt suy thoái kinh tế trong năm đó. Ngay cả những người cổ súy cho chế độ bản vị vàng là người chỉ đạo của ngân sách dưới thời tổng thống Roosevelt khi đó cũng thừa nhận rằng cho đến khi ngân sách nước Mỹ đạt được sự cân đối thì chế độ bản vị vàng cũng không thể thực hiện được nữa.

[sửa] Tài trợ chiến tranh của Đức trong Thế chiến thứ hai

Nước Đức phát xít sử dụng vàng tước đoạt được của những người Digan, người Do Thái, người gốc Slavs để tài trợ cho nỗ lực chiến tranh của nó. Một số ngân hàng ở Thụy Sĩ trong số nhiều ngân hàng quốc tế nhận giữ số vàng của những cộng đồng này. Vàng đó lại được gửi vào ngân hàng trung ương Đức – Reichsbank và dùng bảo đảm số giấy bạc phát hành mới. Nước Đức khi đó, với việc lao động bắt buộc trong các trại tập trung, áp đặt quản lý chặt chẽ tiền lương và giá cả. Nó dựng lên công ty bù nhìn Metallurgische Forschungsanstalt để phát hành trái phiếu tài trợ chiến tranh, đồng thời sử dụng hàng loạt các biện phát cưỡng chế để bội chi ngân sách nhưng không gây ra lạm phát phi mã.

[sửa] Người Anh lưỡng lự trở lại bản vị vàng

Trong thời gian 1939-1942, nước Anh vắt kiệt dự trữ vàng của nó để mua vũ khí, đạn dược của Hoa Kỳ và các nước khác theo hình thức “tiền giao, hàng lấy”. Sự rút rỗng dự trữ vàng này khiến Winston Churchill nhận thấy rằng việc trở lại mô hình bản vị vàng trước Thế chiến thứ nhất là không hiện thực; thay vào đó là đề xuất của John Maynard Keynes - người trước đó lập luận phản đối chế độ bản vị vàng đó và ngày càng trở nên có ảnh hưởng, một mô hình trải rộng hơn của bản vị vàng “ổn định theo gói”, cái mà sẽ được thể hiện sau này trong Hiệp định Bretton Woods (Bretton Woods Agreement).

[sửa] Bản vị vàng quốc tế sau Thế chiến (1946-1971)

Xem bài Hiệp định Bretton Woods

[sửa] Lý luận

Những điểm cơ bản của lý luận bản vị vàng nằm ở lý luận theo David Hume rằng lạm phát là do lượng tiền mặt tăng lên và sự bất trắc của sức mua tiền tệ trong tương lai o bế lòng tự tin của doanh nghiệp và dẫn đến thương mại và đầu tư giảm sút. Luận điểm trung tâm của bản vị vàng là nó xóa đi sự bất trắc, sự không thống nhất giữa các loại tiền cũng như những giới hạn có thể trong tương lai. Các đối tác thương mại sẽ mang lại lợi ích to lớn cho một nền kinh tế bằng cách mở rộng thị trường của hàng hóa đó, bằng sự đáng tin cậy của tín dụng cung cấp cho nhau và bằng sự vững vàng của thị trường hàng hóa. Trong lý luận bản vị vàng, sự hạn chế tài chính và tiền tệ mà chính phủ phải tuân thủ là trung tâm của những lợi ích giành được. Những người cổ súy cho bản vị vàng tin rằng chính phủ là có hại cho nền kinh tế, nó can thiệp vào thị trường vốn vận hành hoàn hảo và hạn chế tự do cá nhân.

[sửa] Các định nghĩa khác nhau về bản vị vàng

Nếu cơ quan quản lý tiền tệ giữ đủ vàng tương ứng với toàn bộ lượng tiền lưu thông, đó là chế độ bản vị vàng đầy đủ.

Một số người tin rằng không có một chế độ bản vị vàng nào khác ngoài chế độ bản vị đầy đủ. Bởi vì trong một chế độ bản vị vàng một phần (tức là không giữ đủ 100% vàng), sẽ có một lượng tiền mặt không được đảm bảo bằng vàng, nó có thể do cơ quan quản lý tiền tệ muốn thu hồi chi phí phát hành tiền (thuế đúc tiền) và vì thế gây ra lạm phát (bản vị vàng đầy đủ không có lạm phát). Những người khác, ví dụ những người ủng hộ kinh tế học trọng cung lại lý luận rằng cứ khi nào mà vàng còn được sử dụng làm phương tiện đo giá trị kinh tế thì khi đó là chế độ bản vị vàng.

Chế độ bản vị vàng đầy đủ không thể vận hành được bởi hai lý do:

  • Thứ nhất, lượng vàng trên thế giới là quá nhỏ so với lượng tiền cần thiết để duy trì hoạt động kinh tế toàn cầu.
  • Thứ hai, lượng tiền vừa đủ (có nghĩa là không gây lạm phát và cũng không giảm phát) không phải là cố định, nó biến động liên tục cùng với mức độ hoạt động thương mại.

Trong một quốc gia theo chế độ bản vị vàng, tiền xu vàng lưu thông như tiền và tiền giấy được đổi ra vàng trực tiếp theo giá thị trường (chính phủ không thể bắt buộc), tiền giấy giống như một tờ séc cho phép người cầm giữ nó quyền sở hữu một lượng vàng nhất định đang được quản lý bởi người phát hành tờ tiền đó.

Tuy nhiên, khi lượng vàng đổi được của tờ tiền giấy đó biến động có nghĩa là tờ tiền giấy trở thành tiền luật định và sẽ thường xuyên giảm nội dung vàng. Đây là trường hợp chính phủ phát hành tiền không có vàng đảm bảo trong chiến tranh. Ví dụ của nó là những đồng đôla do chính phủ Liên bang phát hành trong Nội chiến Hoa Kỳ và tiền giấy của Áo trong thời kỳ Chiến tranh Napoleon. Sau thời gian chiến tranh, tiền lại được bảo đảm bằng vàng – tức là trở lại hệ thống tiền tệ kim bản vị.

Những người ủng hộ chế độ bản vị vàng chỉ ra rằng chế độ tiền luật định trước sau gì đều dẫn đến lạm phát do sự điều hành kém cỏi hoặc bởi chính phủ cứ in tiền ra để bù đắp thâm hụt ngân sách.

Hệ thống bản vị vàng quốc tế có thể tồn tại mà không có chế độ bản vị vàng ở bất kỳ quốc gia nào, khi đó vàng hoặc tiền tệ (đổi ra vàng ở tỷ giá cố định) được sử dụng là phương tiện thanh toán quốc tế. Ở chế độ này, khi tỷ giá tiền tệ dâng lên hay tụt xuống quanh ngưỡng đúc tiền (fixed mint rate) và chênh lệch tỷ giá này lớn hơn chi phí vận chuyển vàng giữa các nơi chênh lệch thì một lượng vàng lớn sẽ được luân chuyển cho đến khi tỷ giá trở về với ngưỡng chính thức là ngưỡng đúc tiền Các chế độ bản vị vàng quốc tế đều giới hạn số tiền mà các thực thể trong đó có quyền quy đổi lấy vàng. Dưới chế độ bản vị vàng Bretton Woods, số tiền này gọi là “quyền rút vốn đặc biệt” (Special Drawing Rights – SDRs).

[sửa] Tác động của tiền tệ được đảm bảo bằng vàng

Sự cam kết duy trì khả năng chuyển đổi tiền ra vàng một cách chặt chẽ hạn chế quá trình tạo ra tín dụng. Tín dụng bởi các tổ chức ngân hàng dưới chế độ bản vị vàng đe dọa khả năng chuyển đổi của giấy bạc do họ phát hành và dẫn đến hậu quả là vàng bị rút ra khỏi các quỹ dự trữ của ngân hàng đó ngoài ý muốn. Kết quả của việc đánh mất sự tự tin làm cho

[sửa] Sự ổn định nhờ bản vị vàng

Theo lý thuyết, bản vị vàng giới hạn quyền năng của chính phủ trong việc tạo ra lạm phát bằng cách bơm thêm tiền giấy vào lưu thông, mặc dầu vậy, có bằng chứng cho thấy trước Thế chiến thứ nhất, các nhà quản lý tiền tệ đã không mở rộng hay thu hẹp cung tiền ngay cả khi nước đó bị thất thoát vàng. Bản vị vàng tạo ra sự vững chắc của thương mại quốc tế do nó cung cấp một cơ cấu cố định tỷ giá tiền tệ. Sau các chế độ bản vị bạc mất giá liên tục của mười năm đầu thế kỷ 18, vàng được coi là sự thay thế tốt hơn và trở thành nguyên nhân, mục đích cho thương mại. Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ 19, những lập luận chống lại bản vị vàng tạo ra xu hướng chính trị ở đa số các quốc gia công nghiệp nghiêng về những dạng tiền tệ dựa trên bạc, hoặc thậm chí là tiền giấy không thôi.

Dưới chế độ bản vị vàng cổ điển quốc tế, những biến động về giá ở một quốc gia sẽ được điều chỉnh một phần hoặc toàn bộ bởi cơ chế tự cân bằng thanh toán gọi là cơ chế dòng chảy giá cả-bản kim (bản kim ở đây là tiền xu vàng). Cơ cấu này như sau:

  • Đầu tiên, khi giá một loại hàng hóa giảm xuống nhờ cung tăng vọt, tăng hiệu quả vốn, giảm giá đầu vào hoặc do cạnh tranh, người mua sẽ nghiêng về hàng hóa đó nhiều hơn những hàng hóa khác. Bởi sự ổn định tỷ giá tiền-vàng, người tiêu dùng ở các nước khác sẽ mua hàng hóa được định giá thấp nhất và vì thế, vàng sẽ chảy về các nước có nền kinh tế hiệu quả nhất.
  • Lúc đó, quốc gia mới nhận luồng vàng đến phải tăng cung tiền tệ và chịu áp lực lạm phát vừa phải để bù lại việc giảm giá trước đó.
  • Đồng thời, lượng tiền lưu hành ở các nền kinh tế kém hiệu quả bị giảm đi, vì vậy giá cả ở các nước này giảm xuống cho đến khi sự cân bằng được khôi phục.

Các ngân hàng trung ương, với mục đích ngăn cản luồng vàng chảy đi, sẽ chống đỡ bằng cách tăng tỷ lệ lãi suất làm sao để đưa giá cả trở lại mức cân bằng quốc tế nhanh hơn. Về mặt lý thuyết, chừng nào còn duy trì bản vị vàng thì chừng đó hạn chế được lạm phát cao hoặc giảm phát ngoài tầm kiểm soát. Có một thời gian, người ta tin rằng các thị trường luôn luôn vận hành rạch ròi (xem nguyên lý Say). Sự giảm phát sẽ làm thay đổi giá của vốn trước tiên, có nghĩa là giá của vốn giảm và cho phép tăng trưởng nhanh hơn đồng thời giá cả về mặt dài hạn vẫn ổn định. Tuy nhiên, in trên thực tế, điều này lại không diễn ra mà tiền lương (giá của lao động), chứ không phải giá của tư bản, sẽ bị hạ xuống trước tiên.

[sửa] Mô hình Mundell-Fleming

Theo kinh tế học tân cổ điển, mô hình Mundell-Fleming diễn tả động thái của các đồng tiền trong chế độ bản vị vàng. Do giá trị tiền tệ được gắn liền với hàm lượng vàng, những yếu tố tự do còn lại để điều tiết thị trường vốn-tiền tệ là (1) tự do di chuyển luồng vốn và (2) chính sách tài chính, tiền tệ. Một lý do khiến đa số các nhà kinh tế học vĩ mô hiện nay không ủng hộ sự trở lại của bản vị vàng là mối quan ngại hai yếu tố trên không đủ để đối phó với suy thoái hoặc giảm phát lớn. Việc xem xét tình huống lý thuyết vàng trở lại là cơ sở giá trị dẫn đến một câu hỏi là sự tín nhiệm của ngân hàng trung ương ra sao trong một cơ chế không dựa trên kim loại quý. Dẫu cho những phần thưởng lớn sẵn sàng trao cho ai giải được những câu hỏi trên, thì kỷ nguyên bản vị vàng của thế kỷ 19 và thế kỷ 20 vẫn là một giai đoạn mà cơ sở khác hẳn với cái cách hệ thống tiền tệ thả nổi ngày nay được đo đếm, xác định giá trị.

Mundell lập luận rằng vì trong một nền kinh tế công nghiệp, một lượng lớn tư bản không linh động, chế độ bản vị vàng quốc tế hoặc thậm chí là chỉ ở một quốc gia có thể được tái lập. Vẫn theo ông, điều này sẽ cho phép ngân hàng trung ương một phạm vi tự do đủ để giảm thiểu tác động tiêu cực của chu kỳ kinh tế. Nó sẽ giảm tỷ lệ lãi suất ở pha suy thoái và tăng trở lại để kiềm chế tăng trưởng nóng. Milton Friedman không thống nhất ở điểm này, ông nêu ra các tác động bởi tiền tệ về mặt lượng sẽ gây ra giảm phát trong hệ thống đó và các quốc gia thành công sẽ nhận ra lợi ích thu được ít hơn là Mundell kỳ vọng, bởi luồng vàng di chuyển đến một quốc gia sẽ gây lạm phát ở nước đó. Cuộc tranh luận này tương tự cuộc tranh luận của Adam Smith và David Hume trong thế kỷ 18 về việc tăng lượng tiền tệ có phải là một mục tiêu đáng thực hiện hay không.

[sửa] Những người ủng hộ việc khôi phục lại bản vị vàng

Bản vị vàng quốc tế vẫn có những người ủng hộ nó - những người mong muốn sự trở lại của một hệ thống kiểu Bretton Woods, để giảm thiểu tính biến động của các đồng tiền, nhưng do các chính phủ tự định tỷ giá nên việc hệ thống Bretton Woods không thực tiễn khiến một số người theo trường phái kinh tế học Áo gồm Ludwig von Mises, Friedrich Hayek và Murray Rothbard cổ vũ ý tưởng giải phóng giá vàng khỏi sự ấn định của Nhà nước và chấm dứt sự độc quyền của chính phủ trong việc phát hành tiền vàng.

Nhiều quốc gia chống lưng cho nền kinh tế bằng cách tích trữ vàng. Số dự trữ này không phải để bảo đảm giấy bạc được phát hành mà nó là tài sản bảo vệ tiền tệ khỏi tỷ lệ lạm phát cao. Những người cố súy cho vàng cho rằng không cần biện pháp này vì tiền tệ tự nó đã mang giá trị nội tại Bản vị vàng khi đó được khuyến khích bởi những người tin rằng một vật cất trữ giá trị ổn định là thành tố quan trọng nhất đối với sự an tâm trong kinh doanh.

Nói chung thì ngày nay đại đa số các chính phủ và các nhà kinh tế không ủng hộ bản vị vàng, vì chế độ này thường cho thấy là không tạo đủ sự linh hoạt cho nguồn cung tiền tệ và chính sách tài khóa. Và lý do của việc này là ở chỗ nguồn cung cấp vàng mới (tức là nguồn cung cấp thêm tiền tệ dưới chế độ bản vị vàng) thì giới hạn và phải được sử dụng một cách căn cơ.

Một quốc gia đơn lẻ không thể cách li nền kinh tế của nó với những biến động suy thoái và lạm phát của thế giới. Thêm vào đó, quá trình điều chỉnh thâm hụt chi tiêu ở một quốc gia có thể lâu dài và đau đớn khi mà tỷ lệ thất nghiệp gia tăng hoặc thụt lùi tốc độ phát triển kinh tế.

Trong số những người phản đối mạnh mẽ, John Maynard Keynes nhấn mạnh vào điểm bản vị vàng dựa vào kim loại cứng nhắc. Những người ủng hộ trường phái của ông cho rằng bản vị vàng gây ra giảm phát, điều khiến suy thoái càng trầm trọng bởi người ta không muốn đầu tư khi giá cả giảm xuống, vì vậy mà xương sống của hoạt động kinh tế càng bị sức ép. Cũng theo họ, chế độ bản vị tước đi khả năng chống lại khủng hoảng kinh tế đó là khả năng tăng cung tiền tệ để thúc đấy kinh tế khôi phục.

Trái lại, những tín đồ của bản vị vàng chỉ ra rằng kỷ nguyên công nghiệp hóa và toàn cầu hóa của thế kỷ 19 là bằng chứng của sự tính thực tiễn và ưu việt của chế độ bản vị vàng và nêu ra rằng nước Anh đã đi lên vị trí đế vương, cai trị gần một phần tư dân số thế giới và xây dựng đế quốc thương mại mà ngày nay là Khối thịnh vượng chung Anh.

Những kẻ ky cóp vàng (goldbug) lấy nó là vật bảo vệ trước sự lạm phát giá cả hàng hóa và là biểu hiện cội nguồn của tài nguyên. Vì vàng có thể đổi ra bất kỳ đồng tiền nào, được chấp nhận ở mọi quốc gia trên thế giới, họ xem vàng là vật bảo đảm trước sự phiêu lưu của các ngân hàng trung ương trong chính sách tiền tệ và vàng là phương tiện chống rủi ro biến động tiền tệ. Với lập luận này, họ cho rằng cuối cùng thì chế độ vàng sẽ trở lại vì nó là vật mang giá trị ổn định duy nhất.

Ngày nay, không nhiều nhà kinh tế học ủng hộ việc trở lại bản vị vàng trừ trường phái kinh tế học Áo và trường phát trọng cung. Tuy vậy nhiều nhà kinh tế lớn đồng tình với việc lấy kim loại là cơ sở của tiền tệ, đồng thời lập luận chống lại tiền luật định. Trong số này có Alan Greenspan - người từng đứng đầu Cục Dự trữ Liên bang trong 19 năm, và nhà kinh tế học vĩ mô Robert Barro. Năm 2000, Greenspan đã phát biểu: “nếu anh sống trong chế độ bản vị vàng hoặc một cơ chế khác mà các ngân hàng trung ương không có quyền thao túng, thì hệ thống đó vận hành một cách tự động. Lý do mà có rất ít sự ủng hộ bản vị vàng đó là những hệ quả của sự tự điều chỉnh đó không được coi là thích đáng ở thế kỷ 20 và 21. Tôi là một trong số ít người vẫn còn cái nhìn lưu luyến về chế độ bản vị vàng ngày xưa, anh biết điều này rồi, nhưng tôi vẫn phải nói với anh, tôi ở trong đám thiểu số giữa các đồng nghiệp vẫn tranh luận về vấn đề này.”[1]. Hệ thống tiền tệ ngày nay dựa vào đồng đôla Mỹ như một đồng tiền để neo vào, đồng tiền mà các giao dịch lớn được đo lường. Những bất ổn tiền tệ, không thể quy đổi và hạn chế tiếp cận tín dụng là số ít trong những lý do vì sao mà hệ thống tiền tệ ngày nay bị chỉ trích. Một loạt các giải pháp thay thê đã được đề xuất, bao gồm cả tiền tệ dựa trên năng lượng, giỏ hàng hóa hoặc giỏ tiền tệ; vàng cũng chỉ là một trong những giải pháp đó.

Lý do các lựa chọn này không được thực hiện trên thực tế cũng là lý do mà hệ thống bản vị vàng sụp đổ: tỉ lệ chuyển đổi cố định do chính phủ định ra không có mối liên hệ hữu cơ nào giữa cung và cầu về vàng và cung và cầu về hàng hóa.

Vì vậy, bản vị vàng có xu hướng bị bãi bỏ khi các chính phủ nhận thấy việc bỏ qua nó có lợi ích hơn. Thực chất, bản vị vàng không có nghĩa là các quốc gia không thể chuyển sang tiền luật định khi có chiến sự hoặc trong các tình trạng khẩn cấp khác. Điều này vẫn xảy ra mặc dù vàng tăng giá trong các tình huống như vậy vì mọi người thường sử dụng vàng để tích trữ vì lo sợ rằng tiền luật định thường cho phép lạm chi và do đó thường dẫn tới lạm phát hoặc sử dụng tem phiếu.

Khó khăn về thực tiễn là vàng hiện tại không được phân phối theo sức mạnh kinh tế cũng là một yếu tố: Nhật Bản là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới, lại có dự trữ vàng ít hơn rất nhiều so với cần thiết để hỗ trợ nền kinh tế này.

Năm 1996, hệ thống tiền vàng điện tử (e-gold) được phát hành riêng với nỗ lực lập lại bản vị vàng và tạo ra một hệ thống tiền tệ toàn cầu mới. Các hệ thống tiền vàng điện tử khác cũng lần lượt ra đời như e-BullionGoldMoney.

Năm 2001 Thủ tướng Malaysia Mahathir bin Mohamad đề xuất một đồng tiền mới mà dự kiến sẽ được áp dụng đầu tiên với trao đổi thương mại giữa các nước đạo hồi. Đồng tiền được đề xuất có tên là dinar vàng hồi giáo và được xác định là 4,25 gram vàng 24 cara (100%). Mahathir Mohamad đưa ra khái niệm này trên cơ sở lợi ích về kinh tế của đồng tiền là có cơ sở ổn định và là một biểu tượng chính trị để nâng cao đoàn kết giữa các nước hồi giáo. Một mục tiêu có thể suy diễn của hành động này là giảm phụ thuộc vào đồng Đô la Mỹ để dự trữ tiền tệ, và để thiết lập một đồng tiền không dựa trên nợ tuân theo luật Hồi giáo cấm tính lãi suất. Tuy vậy, đồng tiền dinar vàng này vẫn chưa trở thành hiện thực.

[1] [2].

[sửa] Vàng với vai trò dự trữ ngày nay

Trong thập niện 1990, nước Nga bán hết phần lớn lượng dự trữ vàng từ thời Liên Xô, trong khi đó, một số quốc gia khác tích trữ vàng để chuẩn bị cho Liên minh tiền tệ và Kinh tế Châu Âu. Chỉ còn đồng Franc của Thụy Sĩ là đồng tiền chuyển đổi ra vàng. Tuy nhiên, dự trữ vàng với lượng đáng kể tại nhiều nước là một công cụ bảo vệ đồng tiền của họ và tránh ràng buộc vào đồng đôla Mỹ, thực tế này hình thành lượng dự trữ khổng lồ tiền thanh khoản cao. Đồng đôla yếu có xu hướng được bù lại bởi giá vàng mạnh lên. Vàng vẫn là tài sản tài chính cơ bản của gần như tất cả các ngân hàng trung ương bên cạnh ngoại tệ và trái phiếu chính phủ. Nó cũng được tích trữ tại các ngân hàng trung ương như là một biện pháp đề phòng .... Ước tính, 25% toàn bộ lượng vàng có trên mặt đất được cất giữ tại quỹ của các ngân hàng trung ương.

Tiền xu vàng và vàng thỏi được mua bán rộng rãi tại các thị trường có tính thanh khoản cao, và do đó vẫn là hình thức cất giữ tài sản cá nhân. Cho dù một số tổ chức, cá nhân phát hành tiền ví dụ tiền kỹ thuật số quy ra vàng, thì chúng vẫn phải được bảo đảm bằng dự trữ vàng của họ.

Năm 1999, để bảo vệ vai trò cất trữ giá trị của vàng, Ngân hàng trung ương Châu Âu đã ký “thỏa thuận Washington”, tuyên bổ rằng họ không cho phép vay nợ vàng để đầu cơ và họ cũng không tham gia vào thị trường vàng với vai trò là người bán, trừ khi các giao dịch đó đã ký kết trước thời điểm ký thỏa thuận trên.

Những năm cuối của Thời kỳ khủng hoảng giá hàng hóa (1980-2000) cũng đã ảnh hưởng đến vàng, giá vàng đã tăng vượt mức giá được giao dịch trong vòng 20 năm. Thực tế này dẫn đến hậu quả là các tổ chức quản lý tiền tệ lại sử dụng vàng để giữ vững giá trị đồng tiền của họ, dẫu vậy, không có nghĩa là quay trở lại bản vị vàng. Trên thực tế ngày nay thì ngược lại, vàng càng đắt đỏ thì bản vị vàng càng khó thực hiện.

[sửa] Ghi chú

  1. ^ http://www.polyconomics.com/searchbase/02-01-00.html
Công cụ cá nhân