Kinh tế Hà Lan
| Kinh tế Hà Lan | ||
|---|---|---|
| Tiền tệ | €1 = 100 cent | |
| Năm tài chính | Năm lịch | |
| Các tổ chức thương mại | EU, WTO and OECD | |
| Statistics [1] | ||
| Xếp hạng GDP | 23rd GDP(PPP) (2005); 7th by GDP (PPP) bình quần đầu người (2005) | |
| GDP | 629,911 tỷ USD (2006) | |
| Tăng trưởng GDP | 4.2% (Q3 2007) | |
| GDP đầu người | 38.500 USD (2006) | |
| GDP theo lĩnh vực | Nông nghiệp (2%), chế tạo (19%), dịch vụ (79%) (2002) | |
| Lạm phát | 1.3% (2006) | |
| Lực lượng lao động | 7.53m (2005) | |
| Labour force by occupation | Dịch vụ (64%), chế tạo (29%), nông nghiệp (4%) (2005) | |
| Thất nghiệp | 2.9% (November 2007) [2] | |
| Main industries | nông nghiệp - liên quan đến công nghiệp, kim loại và sản phẩm xây dựng, điện tử và thiết bị điện, hóa chất, dầu mỏ, xây dựng, microelectronic, đánh cá | |
| Trading partners | ||
| Xuất khẩu | Exports $365.1 bn(2005) | |
| Các đối tác chính | Đức (25%), Bỉ (12%), Pháp (10%), Anh (9%), Italy (6%) và Hoa Kỳ (4%) | |
| Nhập khẩu | $326.6 bn (2005) | |
| Các đối tác chính | Đức (17%), Bỉ (9%), Trung Quốc (9%), Hoa Kỳ (8%), Anh (6%) và Pháp (5%) | |
| Nợ công | ||
| Public debt | 291,8 tỉ USD (48.7% of GDP) (June 2006) | |
| External debt | 1.645 tỉ USD (June 2005) | |
| Viện trợ kinh tế | €4 bn. (2005) | |
Kinh tế Hà Lan là một nền kinh tế thịnh vượng, mở và phụ thuộc mạnh mẽ vào ngoại thương. Đây là một trong những trung tâm kinh tế của Liên minh châu Âu. Nền kinh tế Hà Lan có các quan hệ ngành ổn định, thất nghiệp và lạm phát thấp, một lượng thặng dư tài khoản vãng lai lớn, và đóng vai trò là một trung tâm vận tải của châu Âu. Hoạt động công nghiệp chủ yếu là các ngành chế biến thực phẩm, hóa chất, lọc hóa dầu, máy móc điện. Một ngành nông nghiệp cơ giới hóa cao chỉ sử dụng gần 2% lực lượng lao động nhưng tạo ra lượng nông sản thặng dư cho ngành chế biến thực phẩm cho xuất khẩu. Hà Lan cùng với 11 nước EU bắt đầu lưu hành đồng Euro ngày 1 tháng 1 năm 2002. Quốc gia này là một trong những nước châu Âu xếp hàng đầu về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Hiện tại, Hà Lan là nền kinh tế lớn thứ 16 thế giới. Giữa giai đoạn 1998 và 2000, kinh tế tăng trưởng trung bình 4%, cao hơn nhiều mức trung bình châu Âu. Tăng trưởng đã chậm đáng kể giai đoạn 2001-05 do sự suy giảm toàn cầu. Tuy nhiên, năm 2006 lai tăng 2,9%. Tăng trưởng đạt 4,2% trong quý 3 năm 2007. Lạm phát là 1,3% và có thể xuống còn 1,5% trong năm 2008. Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê Hà Lan, thất nghiệp hiện là 4,0% trên tổng số lực lượng lao động. Theo tiêu chuẩn Eurostat thì tỷ lệ thất nghiệp của Hà Lan chỉ 2,9% - tỷ lệ thấp nhất trong các quốc gia EU.
The stern financial policies of the Balkenende cabinets, which are often identified with finance minister Gerrit Zalm, have led to a deficit of only 0.3% of GDP in 2005, coming from 2.1% in 2004. Thâm thủng được ước tính là giảm nhỏ xuống mức 0,5% năm 2005, và một mức hơi thặng dư năm 2007. In 2006 public debt stood at 51% of GDP and is expected to fall below 50% in 2007 for the first time in 25 years, down from over 80% in the early nineties.
Hà Lan hiện là một thành viên của Liên minh châu Âu, OECD và WTO.
Chú thích [sửa]
|
||||||||||||||
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Kinh tế Hà Lan. |