Kinh tế Lào

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nền kinh tế của Lào
Markt Luang Prabang.jpg
Một chợ ở Luang Prabang
Tiền tệ Kip Lào
Năm tài chính 1 tháng 10 - 30 tháng 9
Thương mại organisations ASEAN WTO
Số liệu thống kê
GDP 17,66 tỷ USD (PPP; ước năm 20011)
GDP đầu người 2.700 USD (PPP; ước năm 20011)
GDP theo lĩnh vực dịch vụ (42,6%), công nghiệp (20%), nông nghiệp (37,4%) (ước năm 2011)
Inflation (CPI) 7,6% (ước năm 2011)
Dân số
dưới ngưỡng nghèo
26% (ước năm 20010)
Labour force 3,69 triệu (ước năm 2010)
Labour force
by occupation
nông nghiệp (42,6%), công nghiệp (20,2%), dịch vụ (37,1%) (ước năm 2005.)
Thất nghiệp 2,5% (ước năm 2009.)
Các ngành chính khai thác đồng, thiếc, vàng, và thạch cao; gỗ, thủy điện, chế biến nông nghiệp, xây dựng, hàng may mặc, xi măng, du lịch
Xếp hạng dễ dàng kinh doanh 165th[1]
Kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu 2.131tỷ USD (2011)
Hàng xuất khẩu các sản phẩm gỗ, hàng may mặc, điện năng, cà phê, thiếc, đồng, vàng
Bạn hàng xuất khẩu chính  Thailand 32.8%
 China 20.7%
 Vietnam 14.0% (2012 est.)[2]
Nhập khẩu 2,336 tỷ USD (2011)
Import goods máy móc và thiết bị, xe cộ, nhiên liệu
Bạn hàng nhập khẩu chính  Thailand 63.2%
 China 16.5%
 Vietnam 5.6% (2012 est.)[3]
Tổng nợ nước ngoài 3,085 tỷ USD (ước năm 2009)
Tài chính công
Nợ công 3,179 tỷ USD (2006)
Thu 941,5 triệu USD
Chi 1,129 tỷ USD (ước năm 2009)
Viện trợ kinh tế 345 triệu USD (ước năm 1999)

All values, unless otherwise stated, are in US dollars

Nền kinh tế Lào đang phát triển nhanh, khi quốc gia này bắt đầu giảm dần quản lí nhà nước và khuyến khích thành phần kinh tế tư nhân vào năm 1986[4]. Lào đã mở một sở giao dịch chứng khoán vào năm 2011, đồng thời có vai trò như một nhà cung cấp thủy điện cho các quốc gia láng giềng như Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan[5]. Mặc dù vậy, là một quốc gia không giáp biển, lại có cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện và phần lớn lực lượng lao động thiếu kĩ năng, Lào vẫn là một trong những nước nghèo nhất Đông Nam Á. Thu nhập bình quân đầu người vào năm 2009 của Lào ước tính khoảng $2700 theo sức mua tương đương.Tiết kiệm nội địa thấp khiến Lào phải phụ thuộc nặng nề vào viện trợ nước ngoài và vay ưu đãi để lấy nguồn đầu tư cho phát triển đất nước.Ví dụ, vào năm 1999, viện trợ và vay nợ nước ngoài được cho là chiếm trên 20% GDP và hơn 75% đầu tư công.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên nắm quyền năm 1975, chính quyền cộng sản đã áp dụng một hệ thống kinh tế kế hoạch theo kiểu Liên Xô, thay thế các thành phần tư nhân bằng các hợp tác xã và doanh nghiệp nhà nước, tập trung hóa đầu tư, sản xuất, thương mại và định giá và hạn chế thương mại trong nước với nước ngoài.

Sau một thời gian, chính quyền Lào nhận thấy các chính sách kinh tế này đang kìm hãm thay vì kích thích sự tăng trưởng và phát triển. Tuy nhiên không có những cải cách lớn nào diễn ra cho đến năm 1986 khi chính phủ tuyên bố về "cơ chế kinh tế mới" của mình.

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa, đang chi phối nền kinh tế. Ngành này sử dụng khoảng 85% dân số và đóng góp khoảng 51% GDP. Sản phẩm nông nghiệp bao gồm khoai tây, rau xanh, cà phê, đường mía, thuốc lá, ngô, vải, chè, lạc, gạo; trâu, lợn, gia súc, gia cầm.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Du lịch Lào

Du lịch là ngành kinh tế phất triển nhanh nhất và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Lào. Chính phủ đã mở cửa đất nước vào những năm 1990 và đến nay Lào đã trở thành một điểm đến ưa thích của du khách quốc tế.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế châu Á LocationAsia.png

Afghanistan | Armenia1 | Azerbaijan1 | Ả Rập Saudi | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh | 2 | Brunei | Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất | Campuchia |2 | Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc)4 | Đông Timor | Gruzia1 | Hàn Quốc |3 | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Jordan | Kazakhstan1 | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban |3 | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestin | Philippin | Qatar | Singapore | Síp1 | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Triều Tiên | Trung Quốc | Turkmenistan | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen