Kinh tế Malaysia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kinh tế Malaysia
Tiền tệ 1 Ringgit = 100 sen
Năm tài chính Năm lịch
Các tổ chức thương mại tham gia APEC, ASEAN, WTO
Các chỉ số thống kê [1]
GDP 290 tỷ USD(2005)
Tốc độ tăng trưởng 5,9% (2006)
GDP bình quân đầu người 11.160 USD (2005)
GDP theo khu vực nông nghiệp (7,3%), công nghiệp (33,5%), dịch vụ (59,1%) (2004)
Tỷ lệ lạm phát 3,5% (2005)
Tỷ lệ phần trăm dân số dưới ngưỡng nghèo 8% (1998)
Lực lượng lao động 10,26 triệu người (2004)
Lực lượng lao động theo khu vực kinh tế chế tạo 27%, nông lâm ngư 16%, thương mại và du lịch 17%, dịch vụ 15%, hành chính 10%, xây dựng 9% (1999)
Tỷ lệ thất nghiệp 3,5% (2005)
Các ngành kinh tế chính Công nghiệp nhẹ (chế biến cao su, dầu cọ, nông sản), công nghiệp nặng (điện tử, ô tô), khai khoáng
Kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu 140 tỷ USD (2005)
Các đối tác chính Mỹ 19,6%, Singapore 15,7%, Nhật Bản 10,7%, Trung Quốc 6,5%, Hong Kong 6,5%, Thái Lan 4,4% (2003)
Nhập khẩu 110 tỷ USD (2005)
Các đối tác chính Nhật Bản 17.3%, Mỹ 15.5%, Singapore 11.9%, Trung Quốc 8.8%, Hàn Quốc 5.5%, Đài Loan 5%, Đức 4.7%, Thái Lan 4.6% (2003)
Thu hút FDI 47,771 tỷ USD (2005)
FDI ra nước ngoài 44,480 tỷ USD (2005)
Tài chính công
Nợ công 104 tyr USD (45,5% GDP)
Thu ngân sách 22,95 tỷ USD (2004)
Chi ngân sách 27,75 tỷ USD (2004)
sửa

Kinh tế Malaysia là một nền kinh tế mở. Năm 2005, quốc gia này có GDP xếp thứ 34 thế giới theo PPP. GDP tính theo PPP năm 2005 ước tính 290 tỷ USD.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử ban đầu và thuộc địa[sửa | sửa mã nguồn]

Bán đảo Mã LaiĐông Nam Á thực sự đã là một trung tâm thương mại trong nhiều thế kỷ. Nhiều mặt hàng như gốm sứgia vị đã được mua bán sôi động thậm chí trước khi MalaccaSingapore nổi lên chiếm vị trí ưu thế.

Vào thế kỷ 17, trữ lượng thiếc lớn đã được phát hiện ở nhiều quốc gia Mã Lai. Sau này, Anh bắt đầu cai trị Malaya và cây cao su và cây cọ dầu đã được du nhập vào đây để trồng cho mục đích thương mại. Ban mặt hàng này cũng với các nguyên liệu thô khác thiết lập vững chắc nhịp độ kinh tế của Malaysia cho đễn giữa thế kỷ 20.

Sau độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thập niên 1970, đã theo bước của bốn con hổ châu Á ban đầu và đã cam kết sự chuyển đổi từ một nền kinh tế dựa vào khai khoáng và nông nghiệp sang ngành chế tạo. Với sự trợ giúp của Nhật Bản và phương Tây, các ngành công nghiệp nặng đã phát triển phồn thịnh và trong một vài năm, xuất khẩu đã trở thành cỗ máy tăng trưởng hàng đầu của Malaysia. Malaysia đã kiên định đạt được mức tăng trưởng GDP hơn 7% cùng với mức lạm phát thấp trong thập niên 1980thập niên 1990.

GDP đầu tăng với mức 31% trong thập niên 1960 và một tỷ lệ tăng đáng kinh ngạc 358% trong thập niên 1970 nhưng mức tăng đã chứng tỏ không bền vững và giảm mạnh chỉ còn đạt mức 36% thập niên 1980 và tăng lại với mức 59% vào thập niên 1990 chủ yếu do các ngành có định hướng xuất khẩu dẫn đầu.

Tỷ lệ nghèo khổ ở Malaysia cũng giảm mạnh trong những năm qua. Tuy nhiên sự sụt giảm tỷ lệ nghèo quá nhanh chóng này đã bị chỉ trích bởi những người cho rằng mức nghèo khổ này đã được người ta kéo xuống một mức thấp vô lý.[1]

Sự quy hoạch của trung ương là một nhân tố chủ yếu trong nền kinh tế Malaysia do sự chi tiêu của chính phủ thường được sử dụng để kích thích nền kinh tế. Kể từ năm 1955, với sự khởi đầu của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Malaysia, chính phủ đã sử dụng các kế hoạch này để can thiệp vào nền kinh tế để đạt được các mục tiêu như phân phối lại của cải và đầu tư, ví dụ như trong các dự án hạ tầng.[2]

Một di sản để lại của chế độ thực dân Anh là sự phân chia Malaysia thành 3 nhóm theo dân tộc. Người Mã Lai sống tập trung trong các ngôi làng truyền thống, sống chủ yếu bằng nghề nông còn người Hoa thì chiếm lĩnh lĩnh vực thương mại. Những người Ấn Độ có học vấn thì làm các công việc chuyên nghiệp như: bác sỹ hoặc luật sư còn những người kém giàu có hơn thì làm việc ở các đồn điền.[3][4] Ủy ban Reid, cơ quan soạn thảo Hiến pháp Malaysia soạn ra một quy định affirmative action hạn chế thông qua Điều 153, ban đặc quyền cho người Mã Lai, như 60% số lượng sinh viên vào đại học (hạn ngạch). Tuy nhiên, sau sự kiện 13 tháng 5 bạo động chủng tộc ở thủ đô liên bang Kuala Lumpur, chính phủ đã đề xướng các chương trình gây hấn hơn với mục đích thiết lập một cách tích cực tầng lớn doanh nhân thông qua sự can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế. Kế hoạch năm năm lần đầu thi hành các mục tiêu này là Kế hoạch 5 năm Malaysia lần thứ 2; kế hoạch này đã lĩnh hội được sự độc đoán đã dẫn tới một sự Kế hoạch Malaysia lần thứ 3]] nhấn mạnh vào sự hỗn độn kinh tế đang gia tăng, nhằm tránh lấy chỗ này đắp vào chỗ kia.

Đến năm 2006, kế hoạch 5 năm gần đây nhất là Kế hoạch Malaysia lần thứ 9. Kê hoạch 5 năm này đã bị chỉ trích là giống với đường lối kế hoạch hóa tập trung của chủ nghĩa Cộng sản Xô Viết; khung thờigian 5 năm đã bị công kích vì không đủ để giải quyết các cuộc khủng hoảng ngắn hạn và các xu thế dài hạn.[5] The effectiveness of the plans has also been disputed; at the beginning of 2005, the last year of the Eighth Malaysia Plan, almost 80% of the funds allocated under the plan had not been disbursed.[6]

Cũng có một cu thế theo hướng sự can dự của chính quyền vào nền kinh tế thông qua các công ty có liên hệ với chính phủ (tiếng Anh viết tắt:GLCs). Mục đích của các công ty này là "[làm bình đẳng] sân chơi kinh tế" và "làm phương tiện cho sự gia nhập lĩnh vực tư nhân của Mã Lai" theo một nhà bình luận. Tuy nhiên, nhiều GLCs theo như tin đưa đã bị tiếp quản bởi Tổ chức Dân tộc Mã Lai Thống nhất (UMNO), đảng cầm quyền, thông qua những người được chỉ định, dẫn đến chỉ trích rằng chúng là các phương tiện cho tham nhũng.[7]

Nền kinh tế con Hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Xu hướng kinh tế vĩ mô[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một bảng xu thế của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo thời giá thị trường ước tính bởi Quỹ tiền tệ Quốc tế với con số triệu Ringgit Malaysia.

Năm GDP
(triệu)
Tỷ giá
(1 USD/MYR)
Chỉ số lạm phát
(2000=100)
1980 54.285 2,17 51
1985 78.890 2,48 64
1990 119.082 2,70 70
1995 222.473 2,50 85
2000 343.216 3,80 100
2005 494.544 3,78 109

Để so sánh sức mua tương đương (PPP), tỷ giá USD/Ringgit chỉ được tính 1,7.

Từ năm 1988 đến năm 1997, nền kinh tế Malaysia đã trải qua một giai đoạn đa dạng hóa rộng rãi và đã duy trì được một tỷ lệ tăng trưởng 9% mỗi năm.

Đến năm 1999, GDP danh nghĩa đầu người đã đạt mức 3238 USD. Các khoản đầu tư trong và ngoài nước đã đóng một vai trò đáng kể trong sự chuyển đổi nền kinh tế Malaysia. Ngành chế tạo tăng từ tỷ lệ 13,9% GDP năm 1970 lên 30% năm 1999 còn ngành nông nghiệpkhai thác khoáng sản đã cùng chiếm 42,7% GDP năm 1970, giảm 9,3% và 7,3% lần lượt cho mỗu ngành năm 1999. Ngành chế tạo chiếm 30% GDP năm 1999. Các sản phẩm chính bao gồm: Linh kiện điện tử - Malaysia là một trong những quốc gia xuất khẩu các thiết bị bán dẫn lớn nhất thế giới, các mặt hàng dụng cụ điện.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Musa, M. Bakri (2007). Towards A Competitive Malaysia. Petaling Jaya: Strategic Information and Research Development Centre. tr. 124. ISBN 978-983-3782-20-8. 
  2. ^ Mills, Greg (2007-05-01). “South Africa: bumping against the Bumiputra policy”. Malaysia Today. 
  3. ^ Abdullah, Asma & Pedersen, Paul B. (2003). Understanding Multicultural Malaysia, p. 44. Pearson Malaysia. ISBN 983-2639-21-2.
  4. ^ Rashid, Rehman (1993). A Malaysian Journey, p. 28. Self-published. ISBN 983-99819-1-9.
  5. ^ Musa, p. 309.
  6. ^ Musa, p. 314.
  7. ^ Musa, pp. 296–297.
Kinh tế châu Á LocationAsia.png

Afghanistan | Armenia1 | Azerbaijan1 | Ả Rập Saudi | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh | 2 | Brunei | Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất | Campuchia |2 | Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc)4 | Đông Timor | Gruzia1 | Hàn Quốc |3 | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Jordan | Kazakhstan1 | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban |3 | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestin | Philippin | Qatar | Singapore | Síp1 | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Triều Tiên | Trung Quốc | Turkmenistan | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen