Kinh tế Pakistan
| Kinh tế Pakistan | ||
|---|---|---|
| Tiền tệ | 100 Rupee (PKR) = 1.64908 USD = 1.23810 Euro |
|
| Năm Tài chính | 1 tháng 7—30 tháng 6 | |
| Tổ chức thương mại | ECO, SAFTA, ASEAN, WIPO và WTO | |
| Ngân sách tài chính | 24.5 tỉ USD (thu) 31.07 tỉ USD (chi) |
|
| Lạm phát | 7.9% (2006 est.)[1] | |
| Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) | ||
| GDP(PPP) | 504.3 tỉ USD (2008) [1] | |
| GDP | ||
| Tăng GDP | 6.6% (2008 est.)[2] | |
| GDP đầu người | 3320 USD (2008) | |
| GDP theo ngành | Nông nghiệp: 21.6% công nghiệp: 25.1% dịch vụ: 53.3% (2006 est.)[2] | |
| Demographics | ||
| Dân số | 165.803.560 người (2006) | |
| Dưới mức nghèo | 23% (2007) | |
| Lực lượng lao động | 48.29 triệu | |
| Tỉ lệ thất nghiệp | 6.6% (2006) | |
| Ngành công nghiệp | Dệt sợi, hoá chất, chế biến thực phẩm, thép, thiết bị vận tải, máy móc, đồ uống, xây dựng, vật liệu, quần áo, sản xuất giấy. | |
| Trao đổi thương mại | ||
| Nhập khẩu | 32.14 tỉ USD (2006) | |
| Đối tác chính | Trung Quốc 14.7%, Ả rập Saudi 10.1%, UAE 8.7%, Nhật Bản 6.5%, Hoa Kỳ 5.3%, Đức 5%, Kuwait 4.9% (2006)[2] | |
| Xuất khẩu | 17.56 tỉ USD (2006)
(67th[4]) |
|
| Đối tác chính | Hoa Kỳ 22.4%, UAE 8.3%,Anh 6%, Trung Quốc 5.4%, Đức 4.7% (2006) | |
Pakistan là nước đang phát triển, có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đa dạng, gồm các ngành dệt sợi, hoá chất, chế biến thực phẩm, nông nghiệp và một số ngành công nghiệp khác.
Trong những thập kỷ trước, nền kinh tế đã chịu ảnh hưởng của những cuộc biến động, thay đổi về chính trị, dân số tăng nhanh, sự đối đầu với Ấn Độ. Tuy nhiên, IMF- đã đồng ý với các chính sách của chính phủ, hỗ trợ bởi đầu tư nước ngoài, cho phép nền kinh tế gia nhập với thị trường thế giới, tạo động lực phục hồi kinh tế vĩ mô trong cuối thập kỷ. Nền kinh tế vĩ mô được xắp xếp lại từ năm 2000, nổi bật nhất là việc tư nhân hoá ngành ngân hàng đã giúp đỡ cho nền kinh tế. Tỉ lệ nghèo của Pakistan đã giảm được 10% kể từ năm 2001.
GDP tăng trưởng 6-8% từ năm 2004-06. Trong năm 2005, Ngân hàng thế giới xếp Pakistan là nước đứng đầu trong số các nền kinh tế cải cách ở khu vực và đứng trong top 10 các nền kinh tế cải cách của toàn cầu.[5]
Lạm phát vẫn là mỗi đe doạ lớn nhất đối với nền kinh tế, lạm phát của Pakistan lên đến trên 9% trong năm 2005 và giảm xuống còn 7.9% trong năm 2006. Ngân hàng quốc gia đang theo đuổi chính sách thắt chặt tiền tệ trong khi vẫn cố gắng duy trì sự tăng trưởng kinh tế.
Chú thích[sửa]
- ^ Pakistan economy profile 2007
- ^ a b c CIA - The World Factbook - Pakistan
- ^ CIA - The World Factbook - Rank Order - Imports
- ^ CIA - The World Factbook - Rank Order - Exports
- ^ “Pakistan Among Top 10 Reformers”. 12 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2006.
| Kinh tế châu Á | |
|---|---|
|
Afghanistan | Armenia1 | Azerbaijan1 | Ả Rập Saudi | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh | 2 | Brunei | Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất | Campuchia |2 | Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc)4 | Đông Timor | Gruzia1 | Hàn Quốc |3 | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Jordan | Kazakhstan1 | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban |3 | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestin | Philippin | Qatar | Singapore | Síp1 | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Triều Tiên | Trung Quốc | Turkmenistan | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen |
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Kinh tế Pakistan |