Kinh tế Singapore

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kinh tế Singapore
Tiền tệ Đô la Singapore (SGD)
Năm tài chính 1 tháng 4 - 31 tháng 3
Tổ chức kinh tế WTO, APEC
Số liệu thống kê
GDP (PPP) 280 tỷ USD (2011)
Tăng trưởng GDP 7.9% (2006)
GDP đầu người 56000 USD (2011)
GDP theo lĩnh vực Nông nghiệp: 0%, công nghiệp: 34.8%, dịch vụ: 65.2% (2006)
Lạm phát (CPI) 1% (2006)
Tỷ lệ
nghèo
N/A
Lực lượng lao động 2,47 triệu (2006)
Cơ cấu lao động
theo nghề
chế tạo 18%, xây dựng 6%, vận tải và viễn thông 11%, các dịch vụ tài chính, kinh doanh, và các dịch vụ khác 39%, loại khác 26% (2003)
Thất nghiệp 3.1% (2006.)
Các ngành chính điện tử, hóa chất, dịch vụ tài chính, thiết bị khoan dầu, lọc dầu, sản xuất và chế tạo cao su, chế biến thức ăn, sửa chữa tầu, khoa học
Thương mại
Xuất khẩu 289,4 tỉ USD (2006)
Mặt hàng XK máy móc và thiết bị (gồm cả đồ diện tử), hàng tiêu dùng, hóa chất, dầu mỏ
Đối tác XK Malaysia 13.1%, Hoa Kỳ 10.2%, Hong Kong 10.1%, Trung Quốc 9.7%, Indonesia 9.2%, Nhật Bản 5.5%, Thái Lan 4.2% (2006)
Nhập khẩu 244,6 tỉ USD (2006)
Mặt hàng NK máy móc và thiết bị, dầu mỏ, hóa chất, thực phẩm
Đối tác NK Malaysia 13%, Hoa Kỳ 12.7%, Trung Quốc 11.4%, Nhật Bản 8.3%, Đài Loan 6.4%, Indonesia 6.2%, Hàn Quốc 4.4% (2006)
Tài chính công
Nợ công 24,3 tỉ USD (2006)
Thu 19,71 tỉ USD (2006)
Chi 19,85 tỉ USD (2006 est.)
Viện trợ không có
Nguồn chính
Tất cả giá trị, ngoại trừ nêu khác đi, đều tính bằng đô la Mỹ

Kinh tế Singapore là nền kinh tế phát triển, theo đường lối kinh tế tư bản. Sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế được giảm thiểu tối đa. Singgapore có môi trường kinh doanh mở, tham nhũng thấp, minh bạch tài chính cao, giá cả ổn định, và là một trong những nước có GDP bình quân đầu người cao nhất thế giới. xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng điện tửhóa chấtdịch vụ là nguồn cung cấp chính cho thu nhập kinh tế và mua được các nguồn tài nguyên thiên nhiênhàng chưa gia công mà trong nước không có. Do vậy có thể nói Singapore dựa hoàn toàn vào nền kinh tế mở bằng việc mua các hàng hóa chưa gia công và chế biến chúng để xuất khẩu. Singapore cũng có một hải cảng chiến lược, có thể cạnh tranh với các nước láng giềng để thực hiện các hoạt động buôn bán, xuất nhập khẩu. Thành phố hải cảng của Singapore là một trong những nơi bận rộn nhất trên thế giới, vượt xa Hong KongThượng Hải.[1] Thêm vào đó, thành phố hải cảng của Singapore có cơ sở hạ tầng tốt và lực lượng lao động có tay nghề cao nhờ các chính sách giáo dục của đất nước trong việc đào tạo kỹ nghề cho công nhân, nó cũng là nền tảng cho việc phát triển kinh tế của đất nước.

Ngày 14 tháng 2 năm 2007, chính phủ Singapore tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2006 là 7,9%, cao hơn ước ban đầu 7,7%.[2]

Xu hướng kinh tế vĩ mô[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là biểu đồ xu hướng GDP qua các năm của Singapore, tính theo giá thị trường ước tính bởi Quỹ Tiền tệ Thế giới.

Năm Tổng sản phẩm quốc nội (triệu USD) Tỷ giá hối đoái (USD/SGD)
1980 25.117 2,14
1985 39.036 2,20
1990 66.778 1,81
1995 119.470 1,41
2000 159.840 1,72
2005 194.360 1,64
2007 224.412 1,51

Để tính toán và so sánh theo sức mua tương đương, có thể lấy 1 USD = 1,56 SGD (đô la Singapore).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế châu Á LocationAsia.png

Afghanistan | Armenia1 | Azerbaijan1 | Ả Rập Saudi | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh | 2 | Brunei | Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất | Campuchia |2 | Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc)4 | Đông Timor | Gruzia1 | Hàn Quốc |3 | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Jordan | Kazakhstan1 | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban |3 | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestin | Philippin | Qatar | Singapore | Síp1 | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Triều Tiên | Trung Quốc | Turkmenistan | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen