Kinh tế Thái Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kinh tế Thái Lan
Tiền tệ Baht (THB)
Năm tài chính 1 tháng 10 - 30 tháng 9
GDP bình quân đầu người 9.100 USD( PPP ước tính năm 2006)
GDP theo khu vực nông nghiệp (10%), công nghiệp (44,9%), dịch vụ (45,2%) (ước tính năm 2006)
Lạm phát 5,1% (ước tính 2006)
Tỷ lệ phần trăm dân số dưới ngưỡng nghèo 10% (ước tính năm 2004)
Lực lượng lao động 36,41 triệu (ước tính năm 2006)
Lực lượng lao động theo khu vực nông nghiệp (49%), công nghiệp (14%), dịch vụ (37%) (ước tính năm 2000)
Thất nghiệp 1,8% (ước tính tháng 11 năm 2005)
Các ngành kinh tế chủ chốt Ô tô xe máy và linh kiện (11%), Dịch vụ tài chính (9%), Thiết bị điện và linh kiện (8%), Du lịch (6%), xi măng, máy tính và linh kiện, đồ gỗ nội thất, chất dẻo, dệt và may, chế biến nông sản, đồ uống, thuốc lá
Kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu 123,5 tỷ USD (2006)
Các đối tác chính Mỹ 15,4%, Nhật Bản 13,6%, Trung Quốc 8,3%,Singapore 6,9%, Hong Kong 5,6%, Malaysia 5,2% (2006)
Nhập khẩu 119,3 tỷ USD (2006)
Các đối tác chính Nhật Bản 22%, Trung Quốc 9,4%, Mỹ 7,4%, Malaysia 6,8%, Singapore 4,6%, (2005)
Thu hút FDI 56,542 tỷ USD (2005)
FDI ra nước ngoài 3,947 tỷ USD (2005)
Tài chính ngân sách
Nợ công cộng 81,6 tỷ USD (43,5% GDP danh nghĩa) (11/2005)
Nợ nước ngoài 57,83 tỷ USD (ước tính năm 2006)
Thu ngân sách 30,2 tỷ USD (ước tính năm 2004)
Chi ngân sách 31,94 tỷ USD, trong đó chi đầu tư là 5 tỷ USD (ước tính năm 2004)
Viện trợ Từ năm 2002, Thái Lan đã không còn là nước nhận ODA. Thái Lan đã đóng góp 60 triệu USD viện trợ cho các nước láng giềng trong năm 2005.
sửa

Kinh tế Thái Lan là một nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu chiếm 60% GDP. Tính đến ngày 26 tháng 10 năm 2006, GDP danh nghĩa theo tỷ giá hối đoái thị trường của Thái Lan là 200 tỷ USD, chứng tỏ Thái Lan là nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á sau Indonesia. Đây là vị trí mà Thái Lan đã nắm giữ trong nhiều năm qua. Sự phục hồi của Thái Lan từ cơn khủng hoảng tài chính châu Á 1997-98 dựa trên xuất khẩu, phần lớn là do nhu cầu bên ngoài từ Hoa Kỳ và các thị trường nước ngoài khác. Chính quyền của Thaksin đã nhậm chức tháng 2 năm 2001 với ý định kích cầu nội địa và giảm sự phụ thuộc của Thái Lan vào ngoại thươngđầu tư. Kể từ đó, chính quyền của Thaksin đã tinh lọc thông điệp kinh tế của mình, đi theo chính sách kinh tế "đường đôi" kết hợp kích thích nội địa với xúc tiến các thị trường mở và đầu tư nước ngoài. Loạt chính sách này được biết đến với tên gọi phổ biến là kinh tế học Thaksin (Thaksinomics). Cầu về hàng xuất khẩu của Thái Lan yếu đã giữ tăng trưởng GDP năm 2001 còn 1,9%. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2002-03, sự kích thích nội địa và phục hồi xuất khẩu đã khiến cho nền kinh tế tăng trưởng tốt hơn với tốc độ tăng GPD thực 5,3% (2002) và 6,3% (2003).

Nuvola Thai flag.svg
Các chủ đề Thái Lan
Ẩm thực
Văn hóa
Âm nhạc
Kinh tế
Giáo dục
Chính trị
Ngày lễ
Tiếng Thái
Hành chính
Lịch sử
Văn hóa
Giáo dục
Du lịch
Dân số
Trang phục
Thể thao



edit box

Xu hướng kinh tế vĩ mô[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng dưới đây cho thấy xu hướng tổng sản phẩm quốc nội của Thái Lan theo thời giá thị trường estimated theo Quỹ tiền tệ Quốc tế với số liệu tính bằng Baht Thái Lan.

Năm GDP Tỷ giá hối đoái (USD/baht) Chỉ số lạm phát (2000=100)
1980 662.482 20,47 Baht 41
1985 1.056.496 27,15 Baht 53
1990 2.191.100 25,58 Baht 64
1995 4.186.212 24,91 Baht 81
2000 4.922.731 40,11 Baht 100
2005 6.924.273 41,02 Baht 111

Để so sánh sức mua tương đương, tỷ giá USD/Baht Thái Lan chỉ được tính từ 22→.34.

Trước khủng hoảng tài chính, nền kinh tế Thái Lan đã trải qua nhiều năm tăng trưởng kinh tế nhanh do ngành chế tạo dẫn dắt với tốc độ tăng 9,4% trong một thập kỷ cho đến năm 1996. Các yếu tố mang lại thành công kinh tế trong những năm đến 1997 là: nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động dồi dào và rẻ, chủ nghĩa bảo thủ tài chính, các chính sách đầu tư nước ngoài cởi mở và sự khuyến khích lĩnh vực tư nhân. Nền kinh tế Thái Lan về bản chất là một hệ thống free enterprise. Một số dịch vụ nhất định như phát điện, giao thông vận tải thuộc sở hữu Nhà nước và do Nhà nước vận hành nhưng chính phủ đang xem xét việc tư hữu hóa các lĩnh vực này ngay sau khi khủng hoảng tài chính.

Chính phủ Hoàng gia Thái Lan hoan nghênh đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư sẵn lòng đáp ứng một số yêu cầu nhất định có thể nộp đơn xin một số đặc quyền đầu tư thông qua Cục Đầu tư. Để thu hút thêm đầu tư nước ngoài, chính phủ đã sửa đổi các quy định về đầu tư.

Phong trào lao động có tổ chức vẫn yếu và chia rẽ ở Thái Lan; chỉ 3% lực lượng lao động vào công đoàn. Năm 200, Luật Quan hệ Lao động Doanh nghiệp Nhà nước đã được thông qua, cho phép những người làm thuê trong lĩnh vực Quốc doanh quyền tương tự những người làm trong lĩnh vực tư nhân, bao gồm cả quyền gia nhập công đoàn.

Khoảng 60% lực lượng lao động của Thái Lan làm trong ngành nông nghiệp.[cần dẫn nguồn] Lúa là loại cây trồng quan trọng nhất của quốc gia này; Thái Lan là một quốc gia xuất khẩu gạo lớn trê thế giới. Các sản phẩm nông nghiệp khác có số lượng đáng kể là và các thủy sản, sắn, cao su, ngũ cốc, và đường ăn. Kim ngạch xuất khẩu các thực phẩm chế biến như cá ngừ, dứa, đóng hộp và tôm đông lạnh đang gia tăng.

Lĩnh vực chế tạo đang ngày càng đa dạng hóa của Thái Lan đã đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng trong thời kỳ bùng nổ kinh tế. Các ngành có tốc độ tăng nhanh có: máy tính và đồ điện tử, hàng may mặc và dày da, đồ gỗ, các sản phẩm gỗ, thực phẩm đóng hộp. Đồ chơi, các sản phẩm chất dẻo, đá quý và đồ trang sức. Các sản phẩm công nghệ coa như: linh kiện và mạch tích hợp, đồ điện, xe cơ giới hiện đan dẫn đầu tăng trưởng xuất khẩu của Thái Lan.

Thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa Kỳthị trường xuất khẩu lớn nhất của Thái Lan và nhà cung cấp lớn thứ hai sau Nhật Bản. Trong khi các thị trường chính truyền thống của Thái Lan đã là Bắc Mỹ, Nhật Bản, và châu Âu, sự phục hồi của các đối tác thương mại khu vực của Thái Lan đã giúp quốc gia này tăng xuất khẩu 5,8% năm 2002. Sự phục hồi từ cuộc khủng hoảng tài chính đã phụ thuộc nặng vào kim ngạch xuất khẩu gia tăng vào các phần còn lại của châu Á và Hoa Kỳ. Kể từ năm 2005, sự gia tăng xuất khẩu ô tô do Nhật Bản chế tạo (như Toyota, Nissan, Isuzu) đã giúp tăng nhanh cán cân thương mại, với hơn 1 triệu chiếc xe hơi sản xuất vào năm ngoái (2006). Nhờ đó, Thái Lan đã gia nhập vào nhóm top 10 quốc gia xuất khẩu ô tô.

Kinh tế châu Á LocationAsia.png

Afghanistan | Armenia1 | Azerbaijan1 | Ả Rập Saudi | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh | 2 | Brunei | Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất | Campuchia |2 | Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc)4 | Đông Timor | Gruzia1 | Hàn Quốc |3 | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Jordan | Kazakhstan1 | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban |3 | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestin | Philippin | Qatar | Singapore | Síp1 | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Triều Tiên | Trung Quốc | Turkmenistan | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen