Kinh tế học chuẩn tắc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Kinh tế học chuẩn tắc (hay còn gọi là Kinh tế học lý thuyết) (Tiếng Anh: Normative economics) là một nhánh kinh tế học chuyên phán xét xem nền kinh tế phải như thế nào hoặc phải có chính sách kinh tế gì để đạt được một mục tiêu đáng có. Kinh tế học chuẩn tắc chú ý tới sự đáng có của những mặt nhất định của nền kinh tế. Nó nhấn mạnh sự cần thiết có các chính sách kinh tế.

Chú ý là kinh tế học chuẩn tắc (phải như thế nào) khác với kinh tế học thực chứng (như thế nào). Tuy nhiên, việc phán xét các giá trị chuẩn tắc đòi hỏi phải có những điều kiện (giả thiết), và khi điều kiện thay đổi thì giá trị cũng thay đổi.

Kinh tế học Thực chứng và Chuẩn tắc[sửa | sửa mã nguồn]

Để có thể giải thích tại sao có sự tranh luận và bất đồng giữa các Nhà Kinh tế, chúng ta hãy xem xét các Nhà Kinh tế vận dụng phân tích thực chứngchuẩn tắc trong kinh tế học.

Kinh tế học Thực chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế học thực chứng cố gắng đưa ra các phát biểu có tính khoa học về hành vi kinh tế. Các phát biểu thực chứng nhằm mô tả nền kinh tế vận hành như thế nào và tránh các đánh giá. Kinh tế học thực chứng đề cập đến "điều gì là?". Chẳng hạn, một phát biểu thực chứng là "thất nghiệp là 7% trong lực lượng lao động". Dĩ nhiên, con số 7% này dựa trên các dữ liệu thống kê và đã được kiểm chứng. Vì vậy, không có gì phải tranh cãi với các phát biểu thực chứng.

Kinh tế học Chuẩn tắc[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế học Chuẩn tắc liên quan đến các đánh giá của cá nhân về nền kinh tế phải là như thế này, hay chính sách kinh tế phải hành động ra sao dựa trên các mối quan hệ kinh tế. Kinh tế học Chuẩn tắc đề cập đến "điều gì phải là?". Chẳng hạn, một phát biểu chuẩn tắc là "thất nghiệp phải được giảm xuống".

CóYSự phân biệt giữa Kinh tế học Thực chứngChuẩn tắc giúp chúng ta hiểu tại sao có sự bất đồng giữa các Nhà Kinh tế. Thực tế, sự bất đồng bắt nguồn từ quan điểm của mỗi Nhà Kinh tế khi nhìn nhận vấn đề.

Chẳng hạn, một chương trình phỏng vấn trên truyền hình về chính sách thương mại của Chính phủ trong thời gian đến. Một Nhà Kinh tế ủng hộ chính sách tự do thương mại. Trong khi đó, một Nhà Kinh tế khác cho rằng Chính phủ nên tăng cường rào cản thương mại. Về Kinh tế học Thực chứng, cả hai Nhà Kinh tế đều thừa nhận rằng mở rộng thương mại là có lợi cho tổng thể nền kinh tế. Mặc dầu, điều này cũng có ảnh hưởng đến một số thành phần nào đó của nền kinh tế. Tuy nhiên, sự bất đồng của họ về chính sách là do các giá trị khác nhau. Nhà Kinh tế thứ nhất nhấn mạnh lợi ích của tổng thể nền kinh tế, trong khi Nhà Kinh tế thứ hai nhấn mạnh vào việc hạn chế ảnh hưởng của chính sách đối với một nhóm hay ngành nào đó cần được bảo hộ. Tuy rằng cả hai Nhà Kinh tế cùng có kết luận thực chứng như nhau, nhưng kết luận chuẩn tắc thì lại khác nhau do các giá trị khác nhau về chính sách của Chính phủ. Trên phương diện truyền thông, các Nhà Kinh tế thường không có đủ thời gian để giải thích rõ về quan điểm. Điều này làm cho chúng ta cảm nhận rằng các Nhà Kinh tế không thống nhất với nhau trong chính sách kinh tế của chính phủ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài này được lược dịch từ bản tiếng Anh (en:Normative economics) ngày 22 tháng 4 năm 2008. Tài liệu tham khảo cho bản tiếng Anh đó gồm:

  • Milton Friedman (1953). "The Methodology of Positive Economics," Essays in Positive Economics
  • John C. Harsanyi, 1987, “value judgemts," The New Palgrave: A Dictionary of Economics, v. 4, pp. 792–93
  • Daniel M. Hausman and Michael S. McPherson (1996). Economic Analysis and Moral Philosophy, Cambridge: Cambridge University Press.
  • Phillipe Mongin (2002). "Is There Progress in Normative Economics?", same title in Stephan Boehm, et al., eds., Is There Progress in Economics?
  • Amartya K. Sen (1970), Collective Choice and Social Welfare. "5.3 Basic and Nonbasic Judgments" & "5.4 Facts and Values," pp. 59–64.
  • Stanley Wong (1987). “positive economics," The New Palgrave: A Dictionary of Economics, v. 3, pp. 920–21.