Kon Rẫy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kon Rẫy
Địa lý
Huyện lỵ Đăk Rve
Vị trí:
Diện tích: km²
Số xã, thị trấn:
Dân số
Số dân:
Mật độ: người/km²
Thành phần dân tộc:
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân:
Bí thư Huyện ủy: {{{HU}}}
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở:
Số fax trụ sở:
Website:


Kon Rẫy là một huyện thuộc tỉnh Kon Tum. Huyện lỵ là thị trấn Đăk Rve.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Kon Rẫy nằm ở phía Nam của Kon Tum. Phía Đông Nam, giáp thị xã Kon Tum, phía Tây giáp huyện Đăk Hà, phía Đông Bắc giáp huyện Kon Plông, phía Nam giáp các huyện K'Bang, Đăk Đoa, Chư Păh của tỉnh Gia Lai.

Toàn huyện rộng 886,6 km².

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Kon Rẫy có khoảng 21.000 người (2004) gồm nhiều dân tộc (Kinh, Ba na, Xê đăng...)

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Kon Rẫy có 7 đơn vị hành chính cấp xã gồm thị trấn Đăk Rve và các xã Tân Lập Đăk Ruồng, Đăk Kôi, Đăk Pne, Đăk Tờ Re, Đăk Tơ Lùng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kon Rẫy được thành lập vào năm 2002 trên cơ sở tách 6 xã và thị trấn với 20,9 nghìn người của Kon Plông cũ ra. Thị trấn Kon Plông, huyện lỵ của Kon Plông cũ được đổi tên thành thị trấn Đăk Rve và trở thành huyện lỵ của Kon Rẫy. Tên huyện Kon Rẫy được đặt theo tên một làng cổ người Xơđăng Tơdră: Kon Praih có nghĩa là Làng Cát. Những người đề nghị thành lập huyện mới tại tỉnh Kon Tum vào năm 2002 đều là người Việt nên trình Chính phủ phê duyệt với tên gọi sai thành Kon Rẫy, vốn là một từ vô nghĩa trong tiếng địa phương nơi đây.

Kinh tế và văn hóa-xã hội:

Kon Rẫy có số đồng bào dân tộc bản địa chiếm tỷ lệ tương đối cao, có nền văn hoá cổ truyền đa dạng, phong phú, đặc trưng cho bản sắc văn hoá các dân tộc Tây Nguyên. Trong thời gian tới Kon Rẫy tiếp tục phát huy nội lực, nhất là khai thác tiềm năng đất xây dựng, đất nông nghiệp dọc quốc lộ 24, tranh thủ tối đa các chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội miền núi, phát huy các tiềm năng, lợi thế trong hợp tác và thu hút đầu tư.

Phát huy mọi lợi thế và tiềm năng để hình thành một số vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi tập trung với quy mô thích hợp, phát triển mạnh dịch vụ hỗ trợ nhằm tạo ra khối lượng nông - lâm sản hàng hoá có giá trị kinh tế cao.

Thay đổi cơ cấu đầu tư theo vùng, tạo điều kiện và ưu tiên khuyến khích những tiểu vùng có lợi thế nhất để vừa làm mẫu, động lực thúc đẩy các tiểu vùng khác, vừa phát huy tối đa lợi thế tự nhiên, tạo ra các sản phẩm có giá trị cạnh tranh cao.

Đầu tư thâm canh, sử dụng có hiệu quả diện tích đất trồng lúa nước hiện có. Tăng cường đầu tư cho các công trình thuỷ lợi để mở rộng diện tích lúa nước. Tập trung ưu tiên phát triển chăn nuôi bò đàn lấy thịt theo hướng chuyển đổi từ chăn nuôi tự cung tự cấp sang chăn nuôi hàng hoá; phát triển nghề chăn nuôi bò trong các nông hộ, các thành phần kinh tế, nhằm nhanh chóng phát triển cả về số lượng và chất lượng.


Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông thôn, bao gồm kinh tế nông - lâm nghiệp, công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống để giảm dần tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, thương mại - dịch vụ trong cơ cấu kinh tế, tiến tới sự phát triển bền vững trong tương lai.