Kurosawa Akira

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Kurosawa. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Kurosawa Akira
Akirakurosawa-onthesetof7samurai-1953-page88.jpg
Sinh 23 tháng 3 năm 1910
Flag of Japan (bordered).svg Ōta, Tokyo, Nhật Bản
Mất 6 tháng 9, 1998 (88 tuổi)
Flag of Japan (bordered).svg Setagaya, Tokyo, Nhật Bản
Hôn nhân Yaguchi Yôko (1945-1985)

Kurosawa Akira (黒澤 明? Hắc Trạch Minh) (sinh ngày 23 tháng 3 năm 1910, mất ngày 6 tháng 9 năm 1998) là đạo diễn, nhà sản xuất và biên kịch xuất chúng của điện ảnh Nhật Bản. Ông là đạo diễn cho những bộ phim bất hủ như The Seven Samurai (Bảy võ sĩ), Rashomon (La Sinh Môn), và Ran (Loạn). Bộ phim đầu tiên của ông Sugata Sanshiro ra đời năm 1943 còn bộ phim cuối cùng Madadayo được làm đúng nửa thế kỉ sau đó vào năm 1993. Ông đã được tặng rất nhiều giải thưởng cao quý trong đó có huân chương Bắc đẩu bội tinh của Nhà nước PhápGiải Oscar Thành tựu trọn đời.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Akira Kurosawa sinh ngày 23 tháng 3 năm 1910 tại Ota, Tokyo, Nhật Bản trong một gia đình tương đối khá giả, bố ông là Kurosawa Isamu còn mẹ là bà Kurosawa Shima. Khi sinh Kurosawa, bà Shima đã 40 tuổi còn ông Isamu đã 45 tuổi, Akira là con út trong số 8 anh chị em. Bố của Kurosawa là hiệu trưởng một trường cấp II của quân đội Nhật và có dòng dõi từng là samurai.[1][2] Ông Kurosawa Isamu ủng hộ văn hóa phương Tây, ông đưa cả nhà đi xem phim, vào thời điểm đó mới bắt đầu xuất hiện ở Nhật Bản, ông cho rằng những bộ phim này có tác dụng giáo dục tốt.[3]

Ở trường phổ thông Kurosawa Akira được khuyến khích tập vẽ. Người có ảnh hưởng sâu sắc tới ông trong thời kỳ này là Heigo, anh trai của Akira, một người thông minh và từng giành vài giải thưởng về học tập. Năm 1923, trận động đất Kantō đã phá hủy thành phố Tokyo và làm 100.000 người chết. Sau trận động đất, Heigo, 17 tuổi và Akira, 13 tuổi đi một vòng quanh thành phố để chứng kiến cảnh hoang tàn, xác người và xác thú vật chất đầy ở khắp mọi nơi, khi Akira định quay đầu đi để khỏi phải nhìn thấy những cảnh đó, Heigo đã thuyết phục cậu không làm như vậy. Theo Akira, kinh nghiệm này đã chỉ ra cho ông rằng nhìn thẳng vào một cảnh tượng kinh khủng chính là loại trừ khả năng nó gây ra nỗi sợ hãi cho chính mình.

Sau đó Heigo trở thành một người thuyết minh phim (benshi) cho các rạp phim ở Tokyo, đó là nghề lồng tiếng cho những bộ phim câm và nó chỉ có ở Nhật Bản. Tuy nhiên sau đó những bộ phim có tiếng bắt đầu thịnh hành và các benshi như Heigo rơi vào cảnh mất việc, anh tổ chức một cuộc phản đối của các benshi nhưng thất bại. Akira cũng tham gia vào những cuộc xung đột giữa giới chủ và giới thợ thuyền, anh viết vài bài báo trên các tờ báo có quan điểm cấp tiến đồng thời cũng luyện tập nghề họa sĩ và đọc thêm các tác phẩm văn học. Tuy vậy Akira chưa bao giờ coi mình là một người Cộng sản và sau này ông mô tả đó chỉ là những hành động nông nổi nhất thời.

Khi Kurosawa bước sang tuổi 20 thì anh trai Heigo của ông tự vẫn, 4 tháng sau đó đến lượt người anh cả của Akira cũng qua đời và ông trở thành đứa con trai duy nhất còn sống của nhà Kurosawa.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1936 Kurosawa tham gia một khóa học làm đạo diễn tại một hãng phim lớn, hãng PCL (sau này là hãng phim Toho). Ông được tuyển dụng và trở thành trợ lý đạo diễn cho Kajiro Yamamoto. Sau tác phẩm đầu tay Sanshiro Sugata, những bộ phim tiếp theo do ông đạo diễn được làm dưới sự giám sát chặt chẽ của chính phủ Nhật thời chiến và đôi khi mang những chủ đề dân tộc chủ nghĩa. Một ví dụ là bộ phim The Most Beautiful được coi là bộ phim tuyên truyền cho việc phụ nữ Nhật tham gia lao động cho các nhà máy quân sự.

Tuy nhiên, ngay ở tác phẩm đầu tiên sau chiến tranh của ông, bộ phim No Regrets for Our Youth, Kurosawa đã chỉ trích chế độ cũ của Nhật Bản với câu chuyện của một người vợ có chồng là nhà hoạt động cánh tả bị chính quyền bắt vì niềm tin chính trị của mình. Kurosawa còn làm một số bộ phim khác về đề tài Nhật Bản hiện đại, đáng chú ý nhất là Drunken AngelStray Dog. Tuy nhiên bộ phim mang lại danh tiếng quốc tế cho Akira lại là Rashomon (La Sinh Môn), một bộ phim có đề tài lịch sử và đã giành giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice.

Trong giai đoạn làm nhiều phim nhất, từ cuối thập niên 1940 đến giữa thập niên 1960, Kurosawa thường cộng tác với một số người nhất định. Hayasaka Fumio sáng tác nhạc cho 7 phim của ông, trong đó có Rashomon (La Sinh Môn), Muốn sốngBảy võ sĩ. Nhiều kịch bản phim như Throne of Blood, Seven SamuraiRan (Loạn) được ông viết cùng Oguni Hideo. Muraki Yoshiro là chỉ đạo nghệ thuật cho phần lớn các phim của Kurosawa từ sau Stray Dog (1949) còn Nakai Asakazu đã quay cho Kurosawa tới 11 phim trong đó có Ikiru, Seven SamuraiRan. Kurosawa cũng thường làm việc với các diễn viên như Shimura Takashi, Nakadai TatsuyaMifune Toshiro. Sự cộng tác giữa Kurosawa và Mifune bắt đầu từ bộ phim Drunken Angel (1948) và kết thúc là bộ phim năm 1965, Red Beard, là một trong những sự cộng tác giữa đạo diễn và diễn viên nổi tiếng nhất trong lịch sử điện ảnh.

Bộ phim Red Beard đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp đạo diễn của Kurosawa khi đây là bộ phim cuối cùng ông làm với diễn viên Mifune Toshirō và cũng là bộ phim đen trắng cuối cùng của ông. Sau đó Kurosawa ký hợp đồng với hãng 20th Century Fox để làm bộ phim Tora! Tora! Tora! cho Hollywood nhưng cuối cùng ông lại bị thay thế bởi Masuda ToshioFukasaku Kinji. Các bộ phim tiếp theo của Kurosawa thường rất khó tìm được nguồn tài chính và thường phải làm ròng rã trong nhiều năm. Bộ phim đầu tiên trong số này, Dodesukaden, một tác phẩm về những người nghèo khổ sống ở bãi rác, đã không thành công.

Bộ phim Dersu Uzala của Kurosawa

Sau lần tự tử không thành, Kurosawa tiếp tục làm phim dù vẫn rất khó khăn trong việc tìm nguồn tài chính trong nước cho dù ông đã là một đạo diễn nổi tiếng thế giới. Dersu Uzala (1975), được làm tại Liên Xô với bối cảnh là vùng Siberi vào đầu thế kỷ XX là bộ phim duy nhất của Kurosawa được làm bên ngoài Nhật Bản và không dùng tiếng Nhật. Tác phẩm này đã giành giải Oscar cho Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất. Một bộ phim khác của ông, Kagemusha, lại được đầu tư bởi những người ngưỡng mộ Kurosawa, đó là hai đạo diễn nổi tiếng George LucasFrancis Ford Coppola. Còn Ran (1985), một chuyển thể của Akira từ tác phẩm nổi tiếng Vua Lear, lấy bối cảnh là Nhật Bản thời xưa, chỉ được hoàn thành với sự giúp đỡ của nhà sản xuất người Pháp Serge Silberman. Đây cũng là dự án điện ảnh lớn nhất của Kurosawa và ông phải mất cả một thập kỷ để lên kế hoạch và tìm nguồn tài chính, bộ phim thành công lớn và được coi là tác phẩm lớn cuối cùng của Kurosawa. Trong một lần trả lời phỏng vấn, Akira đã nói rằng Ran là bộ phim hay nhất ông đã từng làm[4].

Trong thập niên 1990 Kurosawa làm thêm 3 bộ phim nữa là Dreams, Rhapsody in AugustMadadayo. Kurosawa qua đời sau một cơn đột quỵ ở Tokyo vào tuổi 88.

Sau cơn mưa (1998) là bộ phim được phát hành sau khi ông qua đời, bộ phim được đạo diễn bởi cộng sự thân thiết nhất của Kurosawa là Koizumi Takashi và có sự tham gia của Mifune Shiro (con trai của Toshiro). Kịch bản và lời thoại của bộ phim này đều do Kurosawa viết trước khi mất.

Phong cách làm phim[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Rất nhiều phim của Kurosawa được lấy cảm hứng từ các tác phẩm văn học nổi tiếng, đặc biệt là từ các tác phẩm của William Shakespeare: Ran dựa theo Vua Lear, Throne of Blood dựa theo Macbeth còn The Bad Sleep Well dựa theo Hamlet. Kurosawa còn đạo diễn những phim chuyển thể trực tiếp từ các tác phẩm văn học Nga, trong đó có phim Thằng ngốc (1951) chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Dostoevsky, bộ phim Dưới đáy (1957) chuyển thể từ vở kịch của Maxim Gorky, bộ phim Ikiru dựa theo tác phẩm của Lev Nikolayevich Tolstoy Cái chết của Ivan Ilyich.

Mặc dù phải nhận nhiều chỉ trích cho rằng tác phẩm của Kurosawa quá "Tây", những bộ phim của Akira vẫn cho thấy ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Nhật như Kabuki, kịch Noh.

Khi Kurosawa gặp đạo diễn huyền thoại John Ford, người được cho là có ảnh hưởng nhiều nhất tới các sáng tác của Akira, Ford chỉ nói đơn giản: "Anh thực sự thích mưa đấy nhỉ.", Kurosawa trả lời "Ông rất quan tâm tới các bộ phim của tôi đấy."[5]

Kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Kurosawa có kỹ thuật quay phim rất khác biệt. Ông ưa thích sử dụng máy quay từ xa để làm các cảnh quay trở nên phẳng, Akira cũng tin rằng việc để máy quay xa sẽ giúp các diễn viên diễn xuất tốt hơn. Kurosawa còn thích dùng nhiều máy quay cho cùng một cảnh phim, giúp ông có thể quay một hành động từ nhiều góc quay khác nhau. Một đặc điểm nữa trong phim của Kurosawa là việc sử dụng các yếu tố thời tiết để nhấn mạnh tâm trạng nhân vật, ví dụ như mưa nặng hạt trong cảnh đầu phim Rashomon và trận chiến cuối cùng trong Seven Samurai, cái nóng dữ dội trong Stray Dog, gió lạnh trong Yojimbo, tuyết trong Ikiru và sương mù trong Throne of Blood.

Kurosawa đang chỉ đạo diễn xuất trong Ran

Kurosawa có biệt danh "Tenno", có nghĩa là "Hoàng đế", biệt danh này đã miêu tả phong cách đạo diễn độc tài của ông. Là người cầu toàn, ông dành rất nhiều thời gian và nỗ lực cho việc đạt được hiệu quả hình ảnh mong muốn. Trong Rashomon, Akira thậm chí còn dùng mực Tàu nhuộm nước mưa để tạo hiệu quả mưa nặng hạt, cảnh phim này cũng tiêu tốn tất cả lượng nước dự trữ xung quanh. Còn trong phim Throne of Blood, ở cảnh kết phim khi nhân vật do Mifune đóng bị trúng tên, Kurosawa đã dùng những mũi tên thật được những xạ thủ chuyên nghiệp bắn ở tầm gần và chỉ cách người của Mifune có vài phân. Còn trong phim Ran, cả một toàn lâu đài đã được xây dựng ở sườn núi Phú Sĩ chỉ để sau đó bị đốt cháy trong cảnh cao trào của phim.

Tính cầu toàn của Kurosawa còn được thể hiện qua cách ông xử lý phục trang cho nhân vật: ông cảm thấy rằng một bộ phục trang mới sẽ làm nhân vật của mình trông không thật, vì vậy Akira thường giao trang phục cho diễn viên vài tuần trước khi quay và yêu cầu những người này mặc hàng ngày để làm những bộ trang phục này trông vừa vặn hơn với họ. Trong vài trường hợp, ví dụ trong bộ phim Seven Samurai khi phần lớn nhân vật là những nông dân nghèo, các diễn viên đã được yêu cầu mặc làm sao cho phục trang của họ trở nên rách rưới vào thời điểm khởi quay.

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Seven Samurai, bộ phim có ảnh hưởng lớn của Kurosawa

Những bộ phim của Kurosawa đã có ảnh hưởng lớn tới điện ảnh thế giới và tạo cảm hứng cho nhiều đạo diễn và tác phẩm ở nhiều nền điện ảnh khác nhau.

Bộ phim Seven Samurai của Akira đã được làm lại vài lần trong nhiều thể loại khác nhau như phim cao bồi, phim khoa học viễn tưởng, phim võ thuật. Những tác phẩm chính bao gồm:

Ngoài ra còn vài bộ phim lấy ý tưởng từ truyện phim của Seven Samurai như Three AmigosA Bug's Life[7]. Một tiểu thuyết của Stephen King, Wolves of the Calla cũng có cốt truyện tương tự bộ phim này của Kurosawa.

Rashomon đã được làm lại năm 1964 với tên The Outrage đạo diễn bởi Martin Ritt. Mới đây nhất bộ phim Anh hùng (Hero) của đạo diễn Trương Nghệ Mưu cũng có truyện phim tương tự Rashomon.

Một bộ phim khác của Akira, The Hidden Fortress đã có ảnh hưởng đến tác phẩm nổi tiếng của George Lucas Chiến tranh giữa các vì sao, đặc biệt là phần 4 (A New Hope) và phần 6 (Return of the Jedi) và hai nhân vật R2-D2C-3PO.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên tiếng Anh Tên tiếng Nhật
1943 Sanshiro Sugata 姿三四郎
1944 The Most Beautiful 一番美しく
1945 Sanshiro Sugata Part II 續姿三四郎
The Men Who Tread On the Tiger's Tail 虎の尾を踏む男達
1946 No Regrets for Our Youth わが青春に悔なし
One Wonderful Sunday 素晴らしき日曜日
1948 Drunken Angel 酔いどれ天使
1949 The Quiet Duel 静かなる決闘
Stray Dog 野良犬
1950 Scandal 醜聞
Rashomon 羅生門
1951 Thằng ngốc 白痴
1952 Ikiru 生きる
1954 Seven Samurai 七人の侍
1955 Record of a Living Being 生きものの記録
1957 Throne of Blood 蜘蛛巣城
Dưới đáy どん底
1958 The Hidden Fortress 隠し砦の三悪人
1960 The Bad Sleep Well 悪い奴ほどよく眠る
1961 Yojimbo 用心棒
1962 Sanjuro 椿三十郎
1963 High and Low 天国と地獄
1965 Red Beard 赤ひげ
1970 Dodesukaden どですかでん
1975 Dersu Uzala Дерсу Узала (tiếng Nga)
1980 Kagemusha 影武者
1985 Ran
1990 Akira Kurosawa's Dreams
1991 Rhapsody in August 八月の狂詩曲
1993 Madadayo まあだだよ

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc sống riêng[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ của Kurosawa là bà Yaguchi Yoko. Hai người có một con trai tên là Hisao và một con gái là Kazuko.

Kurosawa nổi tiếng là người ham mê ẩm thực, ông dành rất nhiều tiền trong ngân quỹ làm phim để mua thức ăn ngon cho diễn viên và đoàn làm phim. Tuy nhiên lượng lớn thịt được ông mua cho phim là để tạo hiệu quả âm thanh cho những trận đấu kiếm trong phim[8]

Akira có một người bạn thân là đạo diễn Honda Ishiro, đạo diễn của loạt phim nổi tiếng Godzilla.

Chuyện ngoài lề[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kurosawa xuất hiện trong bài hát La Vie Boheme của vở nhạc kịch Broadway Rent.
  • Kurosawa cũng được nhắc đến trong bài hát của nhóm Barenaked Ladies, One Week.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Galbraith, tr. 14–15
  2. ^ Kurosawa 1983, tr. 17
  3. ^ Kurosawa 1983, tr. 5–7
  4. ^ [1]
  5. ^ A.K., Chris Marker, 1985
  6. ^ [2]
  7. ^ [3]
  8. ^ [4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bản mẫu:Audie-bock-directors
  • Desser, David (1988). Eros Plus Massacre. Indiana University Press. ISBN 0-253-20469-0. 
  • Dodes'ka-den (Criterion Collection Spine #465). Criterion. [cần giải thích]
  • Drunken Angel. Criterion. [cần giải thích]
  • Fellini, Federico (2006). Trong Bert Cardullo. Federico Fellini: Interviews. University Press of Mississippi. ISBN 1-57806-885-1. 
  • Galbraith, Stuart, IV (2002). The Emperor and the Wolf: The Lives and Films of Akira Kurosawa and Toshiro Mifune. Faber and Faber, Inc. ISBN 0-571-19982-8. 
  • Godard, Jean-Luc (1972). Trong Tom Milne. Godard on Godard. Da Capo Press. ISBN 0-306-80259-7. [cần giải thích]
  • Goodwin, James (1993). Akira Kurosawa and Intertextual Cinema. The Johns Hopkins University Press. ISBN 0-8018-4661-7. 
  • Goodwin, James. Perspectives on Akira Kurosawa. G. K. Hall & Co. ISBN 0-8161-1993-7. 
  • High, Peter B. (2003). The Imperial Screen: Japanese Film Culture in the Fifteen Years' War, 1931–1945. The University of Wisconsin Press. ISBN 0-299-18134-0. 
  • Kurosawa, Akira (1983). Something Like an Autobiography. Translated by Audie E. Bock. Vintage Books. ISBN 0-394-71439-3. 
  • Kurosawa, Akira (1999). Yume wa tensai de aru (A Dream Is a Genius). Bungei Shunjū. ISBN 4-16-355570-6. [cần giải thích]
  • Kurosawa, Akira (2008). Trong Bert Cardullo. Akira Kurosawa: Interviews. University Press of Mississippi. ISBN 1-57806-996-3. 
  • Kurosawa: The Last Emperor. Channel Four (UK)/Exterminating Angel Productions. 1999. 
  • Kurosawa. WNET, BBC and NHK. 2000. 
  • Martinez, Delores P. (2009). Remaking Kurosawa: Translations and Permutations in Global Cinema. Palgrave Macmillan. ISBN 0-312-29358-5. [cần giải thích]
  • Mellen, Joan (1975). Voices from the Japanese Cinema. Liveright Publishing Corporation. ISBN 0-87140-604-7. [cần giải thích]
  • Mellen, Joan (1976). The Waves at Genji's Door. Pantheon Books. ISBN 0-394-49799-6. 
  • Mellen, Joan (2002). Seven Samurai (BFI Classics). British Film Institute. ISBN 0-85170-915-X. 
  • Morrison, James (2007). Roman Polanski (Contemporary Film Directors). University of Illinois Press. ISBN 0-252-07446-7. 
  • Nogami, Teruyo (2006). Waiting on the Weather. Stone Bridge Press. ISBN 978-1-933330-09-9. 
  • Peckinpah, Sam (2008). Trong Kevin J. Hayes. Sam Peckinpah: Interviews. University Press of Mississippi. ISBN 1-934110-64-7. [cần giải thích]
  • Prince, Stephen (1999). The Warrior's Camera: The Cinema of Akira Kurosawa (ấn bản 2). Princeton University Press. ISBN 0-691-01046-3. 
  • Rashomon. Criterion. 2002. 
  • Ray, Satyajit (2007). Our Films Their Films. Orient Blackswan. ISBN 81-250-1565-5. 
  • Richie, Donald (1999). The Films of Akira Kurosawa, Third Edition, Expanded and Updated. University of California Press. ISBN 0-520-22037-4. 
  • Richie, Donald (2001). A Hundred Years of Japanese Film. Kodansha International. ISBN 4-7700-2682-X. 
  • Seven Samurai: 3-disc Remastered Edition (Criterion Collection Spine #2). Criterion. 
  • Sato, Tadao (1987). Currents in Japanese Cinema. Kodansha International Ltd. ISBN 0-87011-815-3. 
  • Star Wars Episode IV: A New Hope. Twentieth-Century Fox Home Entertainment. 2006. 
  • Tirard, Laurent (2002). Moviemakers' Master Class: Private Lessons from the World's Foremost Directors. Faber and Faber Ltd. ISBN 0-571-21102-X. 
  • Yojimbo: Remastered Edition (Criterion Collection Spine #52). Criterion. 
  • Yoshimoto, Mitsuhiro (2000). Kurosawa: Film Studies and Japanese Cinema. Duke University Press. ISBN 0-8223-2519-5. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]