Làn sóng Hàn Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
K-Pop

Hàn lưu hay Hallyu (Tiếng Triều Tiên한류韓流; có nghĩa là Làn sóng Hàn Quốc) là tên gọi được bắt nguồn từ cách gọi của một số nhà báo ở Bắc Kinh về sự nổi tiếng nhanh chóng của Hàn Quốc và các sản phẩm của Hàn Quốc tại Trung Quốc[1], hiện được dùng để ám chỉ sự nổi tiếng của văn hóa Hàn Quốc trên thế giới trong thế kỷ 21. Làn sóng Hàn Quốc nổi tiếng khắp châu Á, đặc biệt là tại Đông Á bao gồm Nhật Bản, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á và đang bắt đầu lan rộng tới Ấn Độ[2], Trung Đông[3], Trung Á[4], Thổ Nhĩ Kỳ[5].

Hiện nay làn sóng Hàn Quốc thông qua K-pop và phim truyền hình đang lan truyền khắp thế giới. Sự lan rộng và yêu thích của Hàn lưu trên khắp toàn cầu là niềm tự hào của người Hàn Quốc. Tuy nhiên hàn lưu cảnh báo chứa đựng nội hàm về chủ nghĩa dân tộc văn hóa. Đây là quyền lực mềm của Hàn Quốc [6].

Mục lục

Tổng quan [sửa]

Hàn Quốc là một trong top 10 nước xuất khẩu văn hóa hàng đầu thế giới[7], làn sóng Hàn bắt đầu với việc xuất khẩu các sản phẩm phim truyền hình như Trái tim mùa thu, Bản tình ca mùa đôngNàng Dae Jang Geum khắp Đông và Đông Nam Á. Sự thành công nhanh chóng của phim truyền hình Hàn Quốc kéo theo sự nổi tiếng của phim nhựa, âm nhạc đại chúng Hàn Quốc (gọi tắt K-pop), Ẩm thực Triều TiênTiếng Triều Tiên[8]. Ngôn từ "Hàn lưu" giờ cũng ám chỉ nền kinh tế đang lên của Hàn Quốc và sự nổi lên của các tập đoàn đa quốc gia đến từ đất nước này như Samsung, LGHyundai.

Bộ Văn hóa Hàn Quốc đã có kế hoạch đẩy mạnh làn sóng Hàn Quốc thứ nhất theo đó Hàn Quốc tập trung nhấn mạnh việc phát triển văn hóa truyền thống, theo kế hoạch thứ hai thì nhắm đến 3 mục tiêu K-Arts (nghệ thuật Hàn Quốc), ba lê và học viện âm nhạc. Để thực hiện họ đã tài trợ một quỹ trị giá khoảng 12 tỷ won[9] được lập ra để hỗ trợ phát triển âm nhạc dân tộc truyền thống. Chính phủ Hàn Quốc từng dự kiến sẽ chi 54,4 tỷ won cho các dự án và Bộ Văn hóa sẽ hỗ trợ những sản phẩm của chương trình văn hóa mới, đào tạo các chuyên gia có thể dẫn dắt các ngành công nghiệp văn hóa và nghệ thuật, tức kết nối nghệ thuật và văn hóa với ngành công nghiệp và kỹ thuật, đẩy mạnh trao đổi văn hóa ra nước ngoài để củng cố vững chắc làn sóng Hàn Quốc [10].

Sự thăng trầm [sửa]

Có thể nói, hơn 10 năm trở lại đây, Hàn Quốc đã trở thành “Hollywood của phương Đông”, sản sinh ra hàng loạt ngôi sao ca nhạc, điện ảnh, truyền hình… khuấy đảo thị trường giải trí châu Á, với lượng fan khổng lồ ở khắp Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á… Mặc dù khác biệt về ngôn ngữ, nhưng nhiều nét phong tục tập quán tương đồng trong xã hội phương Đông, làm giảm rào cản văn hóa giúp cho các bộ phim Hàn Quốc dễ dàng được chấp nhận, thưởng thức và yêu thích tại các quốc gia trong khu vực [11].

Tuy nhiên cũng có nhiều dấu hiệu cho thấy, làn sóng Hàn Quốc có suy thoái, những siêu sao Hàn Quốc không còn sức hấp dẫn tuyệt đối với người hâm mộ. Tại Trung Quốc, tỷ lệ phần trăm những người hài lòng với những bộ phim truyền hình Hàn Quốc đã giảm từ 72% năm 2004 xuống 63.3% năm 2006. Tại Đài Loan, mức độ giảm sút là từ 62% xuống 57.9%. Sự không thỏa mãn tăng từ 5% đến 5.4% tại Trung Quốc và từ 1% đến 3% tại Đài Loan. Tại Nhật Bản, tỷ lệ những người hài lòng với phim nhựa Hàn giảm từ 60 xuống 54.6%, tại Trung Quốc giảm từ 75% xuống 59.7%, tại Đài Loan giảm từ 49% xuống 42.1%[12].

Một khảo sát cho thấy cứ 6 trong 10 người nước ngoài tin rằng xu hướng yêu thích văn hóa Hàn như Kpop, phim điện ảnh, phim truyền hình và những vở nhạc kịch opera sẽ giảm trong vài năm tới. 20,5% số người được hỏi cho hay, họ đã "mệt mỏi vì nội dung được tiêu chuẩn hóa". Phim truyền hình chỉ quanh quẩn các chủ đề như ngoại tình, trả thù, bí mật về thân thế hay danh tính của nhân vật, khiến cho việc gây chú ý với khán giả ngày càng khó khăn hơn. Các khán giả đã bội thực với những màn trình diễn khoe vũ đạo, hình thể sexy trong khi giọng hát quá yếu, dòng nhạc thị trường dễ nghe dễ chán..[13]

Tại Việt Nam [sửa]

Quỹ giao lưu công nghiệp văn hóa Hàn Quốc công bố kết quả nghiên cứu dựa trên các chỉ số đánh giá mức độ hâm mộ của công chúng đối với Làn sóng Hàn Quốc tại các nước châu Á. Theo đó, Việt Nam xếp thứ 4 về mức độ yêu thích làn sóng Hàn Quốc[14]. Thời điểm HTV phát sóng bộ phim Anh em nhà bác sĩ (1998) có thể coi là mốc mở đầu cho Hallyu ở Việt Nam. sức hút ấy đến từ lòng trắc ẩn, sự lý tưởng hóa, sức trẻ, sự chung thủy, sự khác biệt và độc đáo. Hallyu đã thâm nhập vào năng lực thấu cảm văn hóa của giới trẻ để rồi ảnh hưởng đến sở thích và nhu cầu của họ trong cuộc sống bởi sự phức hợp của ba yếu tố: tiêu dùng - giải trí - truyền thông [6]. Ngoài ra, ở Đông Á, ngoài Trung Quốc, Việt Nam và Hàn Quốc chịu ảnh hưởng Nho giáo trầm trọng nhất. Cách suy nghĩ và nếp sinh hoạt của hai dân tộc khá gần nhau. Văn hóa trong phim Hàn Quốc rất gần gũi với văn hóa Việt Nam; đó là tôn ti trật tự, truyền thống vâng lệnh bề trên, ...[15]

Tuy nhiên khi tiếp nhận trào lưu Hàn Quốc trong lĩnh vực giải trí (ca nhạc, phim ảnh...) có nhiều ý kiến khác nhau về đồng tình, ủng hộ cũng như không đồng tình, ủng hộ trào lưu này.

Ủng hộ [sửa]

Một số ý kiến đồng tình thường từ giới trẻ cho rằng trào lưu Hàn Quốc mà biểu hiện là Kpop chính là một sân chơi lành mạnh cho thanh thiếu niên độ tuổi trẻ, họ chỉ tìm những thông tin chính thống về thần tượng của mình, giảm bớt sự tò mò về những thứ không phù hợp lứa tuổi, chia sẻ với nhau những bài hát hay, những điệu nhảy đẹp, khuyến khích nhau luyện tập, khuyến khích nhau tự tin, tóm lại là hoàn toàn lành mạnh[16].

Cũng theo những đối tượng này thì vì họ còn trẻ nên dĩ nhiên thích những gì sôi động và bắt mắt, và đến khi thực sự trưởng thành, họ sẽ tự biết cư xử như thế nào cho phù hợp mà không cần phải có sự áp đặt của các bậc bố mẹ vì họ quá khác về cách suy nghĩ, lối sống[17].

Một số bậc cha mẹ vì quá thương và chiều con cái của mình nên cũng chiều theo sở thích của con cái, tiếp tay cho con cái ủng hộ trao lưu này như cố gắng đáp ứng yêu cầu của con cái mình, đi tìm hiểu thông tin khắp nơi để tìm được tấm vé xem ca nhạc cho con... nhưng họ cũng không khỏi thực sự lo lắng vì sự ngưỡng mộ điên cuồng đến lệch lạc về các thần tượng là các ngôi sao, ban nhạc Hàn Quốc[18].

Không đồng tình [sửa]

Bên cạnh xu hướng hâm mộ làn sóng Hàn Quốc thì vẫn có những ý kiến bày tỏ sự lo lắng thậm chí là đề xuất cấm đoán đối với hiện tường này vì sự lan tỏa và ảnh hưởng của làn sóng này ở Việt Nam đang khiến cho thị trường giải trí Việt trở nên yếu thế, và có nguy cơ người Việt trẻ bỏ qua thuần phong mỹ tục và quan điểm thế nào là thuần phong mỹ tục có lẽ nên thay đổi[19].

Một số phụ huynh khác kêu gọi cần ngăn chặn vì những tác động của làn sóng Hàn Quốc đối với giới trẻ Việt thì tiêu cực nhiều hơn tích cực như một bộ phận lớn học sinh từ lớp 6 đến lớp 12 chăm chỉ online cập nhật tin tức ban nhạc Hàn, lập hội anti fan... học thuộc tiểu sử ca sĩ, diễn viên Hàn còn hơn nhớ bài học ở trường, tiêu tốn hàng mấy trăm ngàn hoặc hơn cho những đĩa nhạc, ly tách, poster có hình thần tượng, hay thậm chí hàng triệu đồng để đi xem show ca nhạc. Thời gian, tâm sức họ dành trọn cho video clip, phim ảnh, họp fan club, bàn luận, tranh cãi thần tượng, làm biến một thứ giải trí bình thường thành mối bận tâm, si mê, cuồng tín. Thời gian, hiệu quả học tập giảm sút do không đầu tư, kết quả học tập kém, nguy cơ bỏ học...

Và có ý kiến đề xuất rằng mỗi người hãy tự ra tay chấn chỉnh với con em mình, đừng để những đồng tiền các bậc phụ huynh vất vả kiếm ra được tiêu tốn vào những nơi vô ích như showbiz và cần cho họ nếm thử mùi vị của một cuộc sống cực khổ ra sao khi: không tiền, không quần áo đẹp, không internet, phải lao động việc nhà như giặt đồ, nấu nướng, dọn dẹp nhà cửa thay cho osin để những fan hâm mộ này không còn thời gian rảnh tơ tưởng đến các oppa, unni[20].

Ý kiến của chuyên gia [sửa]

Theo nhà văn Nhật Chiêu thì bản chất của làn sóng Văn hóa Hàn Quốc chỉ là thứ văn hóa bình dân, vì thực tế, những tác phẩm văn học đỉnh cao Hàn Quốc chưa phổ cập đến Việt Nam. Những người mê Hàn lưu ở Việt Nam đa phần không biết gì về tinh hoa văn hóa Hàn Quốc. Người ta biết tên những ngôi sao ca nhạc, diễn viên truyền hình, say mê nhuộm tóc theo mốt Hàn, ăn thức ăn Hàn, dùng mỹ phẩm Hàn... cho nên cái gọi là Hàn lưu thực chất không phải là tinh hoa văn hóa. Các ngôi sao K-pop không tiêu biểu cho văn hóa Hàn. Họ giống hệt các thần tượng ca nhạc phương Tây về phong cách, trang phục, vũ đạo… nhưng vì Hàn Quốc là quốc gia mới nổi gần đây, chưa đủ thời gian để có thể xuất khẩu tinh hoa có hiệu quả và việc quảng bá tinh hoa khó hơn quảng bá những loại hình đại chúng.[15]

Tại Thụy Điển [sửa]

Nhờ có Internet, âm nhạc và phim ảnh Hàn Quốc đang thu hút một lượng fan đáng kể ở Thụy Điển và có tiềm năng lớn tạo ra làn sóng Hàn Quốc. Theo một số báo cáo của đại sứ quán Hàn Quốc ở Thụy Điển[21], làn sóng Hàn Quốc đang ngày càng phổ biến trong giới học sinh, sinh viên Thụy Điển - những người rất quan tâm đến văn hóa Pop của Hàn Quốc. Các fan Thụy Điển xem phim truyền hình Hàn Quốc với phụ đề tiếng Anh và nghe nhạc Hàn thông qua các trang web online như YouTube.[21]

Tại Nhật Bản [sửa]

Tại Nhật Bản từng có những cuộc cuộc biểu tình chống lại làn sóng Hàn Quốc. Cứ vào mỗi chủ nhật, khoảng 10.000 người lại tập trung tại công viên Odaiba, người cầm quốc kỳ, người vẽ biểu tượng trên mặt và phản đối Lãnh đạo đài truyền hình Fuji TV của Nhật Bản đã chiếu nhiều bộ phim, chương trình ca nhạc từ Hàn Quốc với các khẩu hiệu như: “Fuji TV hãy chấm rứt lan truyền làn sóng Hàn Quốc, chúng tôi không muốn xem phim Hàn Quốc nữa...”[22]

Chú thích [sửa]

  1. ^ Japanese Women Catch the 'Korean Wave'
  2. ^ Korean Cultural Diffusion in Manipur
  3. ^ Korea.net : The official website of the Republic of Korea
  4. ^ “Korean Wave” Sweeps Uzbekistan — Registan.net
  5. ^ KF Newsletter -The Korea Foundation
  6. ^ a b Cát Khuê (27 tháng 6 năm 2012). “Văn hóa Hàn - "quyền lực mềm" và mối lo”. Báo Tuổi Trẻ online. Truy cập 17 tháng 4 năm 2013. 
  7. ^ Korean Wave Hallyu Abroad Waning
  8. ^ The Korean Food Wave | My Sinchew
  9. ^ tương đương hơn 223 tỷ đồng Việt Nam
  10. ^ Hạnh Chi (11 tháng 3 năm 2012). “Chiến lược đẩy mạnh làn sóng Hàn Quốc - K-Arts, ba lê và học viện âm nhạc”. Báo Sài Gòn Giải Phóng online. Truy cập 17 tháng 4 năm 2013. 
  11. ^ Phạm Hải (8 tháng 1 năm 2011). “"Làn sóng Hàn Quốc" càn quét làng giải trí châu Á”. Báo Thanh Niên online. Truy cập 17 tháng 4 năm 2013. 
  12. ^ Làn sóng Hàn Quốc suy thoái trầm trọng
  13. ^ Làn sóng văn hóa Hàn Quốc đang hạ nhiệt - Nguoiduatin.vn - Báo điện tử Người đưa tin
  14. ^ “Việt Nam xếp thứ 4 về mức độ yêu thích làn sóng Hàn Quốc”. phapluattp.vn. 27 tháng 2 2012. Truy cập 26 tháng 7 2012. 
  15. ^ a b QUỲNH TRANG (1 tháng 7 2012). “Làn sóng văn hóa Hàn: Văn hóa bình dân!”.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publihser= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |acccessdate= (trợ giúp)
  16. ^ Xin hãy nhìn fan Kpop một cách công bằng - VnExpress
  17. ^ Tiếng nói của một người trẻ mê nhạc Hàn - VnExpress
  18. ^ Tâm sự của bà mẹ có con là fan cuồng nhạc Hàn Quốc - VnExpress
  19. ^ Làn sóng Hallyu trên thị trường giải trí Việt - VnExpress
  20. ^ Hạn chế fan cuồng Kpop từ chính mỗi gia đình - VnExpress
  21. ^ a b Xuân Phương (20 tháng 2 2011). “Làn sóng Hàn Quốc xâm nhập Thụy Điển”. 2sao.vn. Truy cập 26 tháng 7 2012. 
  22. ^ Biểu tình chống làn sóng "Hàn Quốc hóa" - VTC News

Liên kết [sửa]