Lá ngón

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lá ngón
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Asterids
Bộ (ordo) Gentianales
Họ (familia) Gelsemiaceae
Chi (genus) Gelsemium
Loài (species) G. elegans
Danh pháp hai phần
Gelsemium elegans
Benth.

Cây lá ngón, còn gọi là cây rút ruột, co ngón, hồ mạn trường, hồ mạn đằng, hoàng đằng, đoạn trường thảo, câu vẫn v.v., có danh pháp hai phầnGelsemium elegans, trước đây được phân loại trong họ Mã tiền (Loganiaceae), nhưng từ năm 1994 đến nay được cho là thuộc họ mới là họ Hoàng đằng (Gelsemiaceae).

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Là một loại cây leo thân quấn thường xanh, dài tới 12 m[1] khá phổ biến ở miền rừng núi Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, miền bắc Myanma, bắc Thái Lan, cũng như các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Hồ Nam, Giang Tây, Vân Nam, Chiết Giang của Trung QuốcĐài Loan. Nó được tìm thấy trong các cánh rừng rậm và dày ở cao độ từ 200 mét đến 2.000 mét[1]. Thân cây có khía. Cành non màu xanh lục nhạt không có lông. Cành già màu xám nâu nhạt. Lá mọc đối, không lông, hình trứng hay hình trứng mũi mác, đầu nhọn, mép nguyên, xanh nhẵn bóng, mép lá nguyên, dài 7–12 cm. Hoa mọc thành xim đầu cành hay kẽ lá. Năm cánh hoa màu vàng, tràng hoa hình phễu, ra hoa trong khoảng từ tháng 5 tới tháng 11-12[1][2]. Quả là dạng quả nang, hình thon elíp hay hình trứng, dài 1-1,4 X 0,6-0,8 cm, nhẵn không lông, màu nâu. Hạt nhỏ cỡ 0,5 cm, dạng từ hình elíp tới hình thận, màu nâu nhạt, phần giữa có lông, có diềm cánh mỏng xung quanh giúp phát tán theo gió[1]. Là loài cây ưa sáng nên thường mọc chỗ đất trống, bìa rừng, ven đường[3].

Độc tính[sửa | sửa mã nguồn]

Độc tính của lá ngón là do các ancaloit chứa trong toàn bộ cây, trật tự độc giảm từ rễ, lá, hoa, quả và thân cây. Tới 17 đơn phân ancaloit đã được chiết ra từ lá ngón như koumin[2], gelsenicin[2], gelsamydin I[4], gelsemoxonin[5], 19α-hydroxygelsamydin[6], trong đó hàm lượng koumin là cao nhất còn độc tính của gelsenicin tính theo LD50 trên chuột là cao nhất[2].

Việt NamTrung Quốc, nó được coi là một trong 4 loại cây có độc tính hàng cao nhất (thuốc độc bảng A), một số người cho rằng chỉ cần ăn ba lá là đủ chết người[7].

Triệu chứng ngộ độc[sửa | sửa mã nguồn]

Người bị ngộ độc lá ngón có các triệu chứng khát nước, đau họng, chóng mặt, hoa mắt, buồn nôn… sau đó bị mỏi cơ, thân nhiệt hạ, huyết áp hạ, răng cắn chặt, sùi bọt mép, đau bụng dữ dội, tim đập yếu, khó thở, đồng tử giãn và chết rất nhanh do ngừng hô hấp[3].

Giải độc[sửa | sửa mã nguồn]

Giã nhiều rau má hoặc rau muống lấy nước cốt, sau đó cho người bị ngộ độc uống để làm giảm độc tính rồi chuyển đến bệnh viện cấp cứu.[3].

Sử dụng y học[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Trung Quốc, nó được sử dụng để điều trị eczema, bệnh trĩ, nhiễm trùng răng, phong (hủi)[2], nhọt ngoài da, chống tổn thương và co thắt[4], nhưng do độc tính cao nên chỉ hạn chế trong các ứng dụng ngoài da[2].

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Lá ngón trên e-flora
  2. ^ a ă â b c d Two cases of Gelsemium elegans Benth. poisoning, Hong Kong Journal of Emergency Medicine
  3. ^ a ă â Nghiên cứu giải độc lá ngón bằng rau má, Viện KH&CN VN
  4. ^ a ă Long Ze Lin, Geoffrey A. Cordell và ctv. Gelsamydine, an Indole Alkaloid from Gelsemium elegans with two Monoterpene Units, J. Org. Chem, 1989, 54, 3199-3202
  5. ^ Mariko Kitajima, Noriyuki Kogure, Kentaro Yamaguchi, Hiromitsu Takayama, Norio Aimi, Structure Reinvestigation of Gelsemoxonine, a Constituent of Gelsemium elegans, Reveals a Novel, Azetidine-Containing Indole Alkaloid, Org. Lett., 16-5-2003, 5 (12), tr. 2075–2078, doi:0.1021/ol0344725
  6. ^ Long-Ze Lin, Shu-Fang Hu, Geoffrey A. Cordell, 19α-hydroxygelsamydine from Gelsemium elegans, doi:10.1016/0031-9422(96)00280-4
  7. ^ Phân biệt tránh nhầm lẫn Lá ngón với một số cây thuốc trên website của Tạp chí Cây thuốc quý, Hội Dược liệu Việt Nam

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]