Lâm Ngươn Tánh
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Lâm Ngươn Tánh | |
|---|---|
| Tiểu sử | |
| Sinh |
1928 |
| Binh nghiệp | |
| Thuộc | |
| Năm tại ngũ | 1952-1975 |
| Cấp bậc | |
| Đơn vị | Hải quân Việt Nam Cộng hòa |
| Chỉ huy | |
| Khen thưởng | Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương |
Lâm Ngươn Tánh (1928 tại Sa Đéc) là một Đề đốc Hải quân Việt Nam Cộng hòa, từng giữ chức tư lệnh Hải quân giai đoạn 1974-1975. Năm 1974, ông đã trực tiếp chỉ huy cuộc Hải chiến Hoàng Sa chống lại Trung Quốc trên cương vị Phó tư lệnh Hải quân kiêm tư lệnh chiến dịch.
Mục lục |
Ông đã sang tị nạn tại Hoa Kỳ sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 và làm việc với cương vị một kiến trúc sư hàng hải tại Trung tâm lãnh hải chiến sự, Dahlgren, Virginia. Là một người chống cộng nhiệt tình, ông còn tiếp tục hoạt động với những người Việt tị nạn sau năm 1975.
Những nét chính trong cuộc đời binh nghiệp [sửa]
- Năm 1948, tốt nghiệp Học viện Hải thương Sài Gòn
- Năm 1952 Tốt nghiệp Khóa I Trường Sĩ quan Hải quân Quốc gia Việt Nam với cấp bậc Trung úy
- Năm 1958, học trường Cao học Thủy quân Hoa Kỳ tại Monterey, California, hàm Đại úy
- Năm 1960 Học viện quản lý đóng tàu tại Trân Châu Cảng, hàm Thiếu tá
- Năm 1965, du học tại Đại học Hải chiến tại Newport, Rhode Island, hàm Trung tá
- Năm 1966, Sáng lập viên và Chỉ huy trưởng trường Đại học Chiến tranh Chính trị Đà Lạt, hàm Đại tá
- Năm 1970, Phó tư lệnh Hải quân, hàm Phó Đề đốc
- Năm 1973, tu nghiệp tại Học viện Quản trị Quốc phòng tại Monterey, California,
- Chỉ huy của lực lượng thủy quân miền Đông Việt Nam Cộng hòa
- Chỉ huy của Hạm đội Việt Nam Cộng hòa
- Đô đốc (Tư lệnh) Hải quân Việt Nam Cộng hòa (trong 2 nhiệm kỳ), hàm Đề đốc (từ năm 1974)
- Chỉ huy của lực lượng phòng vệ bờ biển
- Chỉ huy của xưởng đóng tàu Sài Gòn
- Người chỉ huy các chiến dịch của thủy quân
Ông được phong tặng Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương.
Các hoạt động trong những năm lưu vong [sửa]
- Tháng 4 năm 1975, Đề đốc Tánh cùng vợ rời Việt Nam sau sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cuối cùng, họ định cư tại King George, Virginia. Sau đó ông đã làm việc cho Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ trong 20 năm với cương vị kỹ sư của Bộ Hải quân Hoa Kỳ tại Trung tâm lãnh hải chiến sự ở Dahlgren, Virginia.
- 1981–1995: Tổng thư ký Liên hiệp Hội Cựu chiến binh Việt Nam Cộng hòa
- 1989- , ông sáng lập Tổng liên đoàn Hải quân Việt Nam Cộng hòa và cũng là vị chủ tịch đầu tiên [1]
- Từ năm 1997, đứng đầu một tổ chức chống cộng lưu vong[cần dẫn nguồn]
- Tháng 8 năm 1997, ông đã sáng lập nên đảng "Liên minh Việt Nam Tự do" và giữ chức vụ trong hội đồng lãnh đạo trung ương
- Năm 2005, ông trúng cử thủ tướng của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Tự do[cần dẫn nguồn]