Lâu Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Di chỉ của Lâu Lan quốc

Lâu Lan là một quốc gia cổ, tồn tại vào thế kỷ thứ II Trước Công nguyên năm ở vùng Đông Bắc sa mạc La Bố ở vùng Tân Cương (nay thuộc Trung Quốc). Lâu Lan được biết đến với cái tên tiếng Nga là Krorayina. Lâu Lan quốc nằm trên con đường tơ lụa và lãnh thổ phần lớn bao quanh bởi sa mạc. Để khơi thông con đường tơ lụa này, vào năm 108 Trước Công nguyên, nhà Hán ở Trung Quốc đã tiêu diệt quốc gia này và biết nơi đây thành một chư hầu của Đại Hán và biến vương triều Lâu Lan trở thành bù nhìn của nhà Hán. Ngày nay, di chỉ còn lại của vương quốc Lâu Lan chỉ còn là các tòa thành bị vùi lấp ở sa mạc Tân Cương[1].

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm trên con đường tơ lụa, cửa ngõ giao thông Đông Tây cổ, mậu dịch tơ lụa đã mang lại phồn vinh một thời cho ốc đảo Lâu Lan nằm bên hồ La Bố cổ đại. Vương quốc Lâu Lan cổ cách đây hơn 2100 năm là một trạm mậu dịch trung chuyển trên con đường tơ lụa nối Trung Quốc, Ba Tư, Ấn Độ, Syria, Đế quốc La mã. Đồng thời nó cũng là một trong những đô thị lớn phồn hoa nhất, mở cửa sớm nhất trên thế giới.[2]

Căn cứ vào ghi chép sách sử, Lâu Lan là một thành bang lớn. Trong thành người dân sống đông đúc, ngoài thành đồng ruộng rất rộng rãi. Trong 36 nước ở Tây Vực ở Tân Cương thì kinh tế và văn hoá của Lâu Lan phát triển nhất. Ở thời kỳ Lưỡng Hán, quan hệ giữa Lâu Lan và vùng nội địa luôn rất mật thiết, nhưng đến sau thời kỳ Nguỵ Tấn Nam Bắc Triều. Lâu Lan dần dần cắt đứt quan hệ với nội địa, rồi lặng lẽ biến mất trong lịch sử Trung Quốc. Đến đời Đường, tuy con đường tơ lụa vẫn thông suốt, nhưng mọi người không biết Lâu Lan ở đâu.

Giải đáp bí ẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Tơ lụa và hoa văn của Lâu Lan

Lâu Lan Quốc đã biến mất một cách thần bí trong lịch sử Trung Quốc chỉ trong một đêm, rất nhiều dân du cư cũng đồng thời “mất tích” đây là một nghi vấn của lịch sử và có nhiều giả thiết xoay quanh nó gồm:[2]

  • Nguyên nhân có thể là hồ La Bố khô cạn, sự thay đổi hoàn cảnh tự nhiên, dòng sông đổi dòng hoặc thượng nguồn sông Khổng Tước dẫn nước không hợp lý.
  • Có ý kiến cho rằng, xung quanh Lâu Lan có rất nhiều dân tộc hùng mạnh. Những dân tộc này đã sử dụng kỵ binh đột phá, cướp bóc tàn phá giết chóc cư dân thành cổ. Kết quả, thành cổ này trở thành hoang phế. Thực tế, cách giải thích này không tìm được bằng chứng lịch sử.
  • Có ý kiến khác cho rằng sự tiêu vong của thành cổ Lâu Lan là do sự thay đổi khí hậu. Khí hậu ở đây rất khô hanh, mấy năm liền không hề có mưa. Khí hậu này là điều kiện lý tưởng cho công việc bảo quản các cổ vật. Họ suy đoán, 2000 năm qua, khí hậu miền Trung châu Á đang phát triển theo hướng ngày càng khô hanh. Thời kỳ Lâu Lan phồn vinh, khí hậu khá ôn hoà ẩm ướt, thích hợp cho cây trồng phát triển. Sau này, khí hậu khô hanh, gió cát càng nhiều, cây trồng nhiều năm liền không có hạt. Nông nghiệp không thể đứng vững. Trong tình trạng vô cùng khắc nghiệt và không có cách nào sống được, người dân buộc phải chuyển đi nơi khác.
  • Giả thuyết về “thuyết nguyền nước đoạn tuyệt”. theo giả thuyết này thì có thể giải thích chính xác Lâu Lan suy vong, Lâu Lan vốn nằm ở miền Đông bồn địa Tháp Lý Mộc - một nơi cực kỳ khô hanh. Thành cổ Lâu Lan nằm ở hạ du sông Tháp Lý Mộc, bên cạnh hồ La Bố, có thể dẫn nước tưới cây trồng, phát triển sản xuất nông nghiệp. Sau này, sông Thác Lý Mộc đổi dòng, hồ La Bố mất nguồn nước trở thành nơi khô cạn. Lâu Lan từ đó mất nguồn sinh sống. Cư dân đành phải đi khỏi nơi đây. Thành Cổ dần dần bị gió cát vùi lấp. Khảo sát thực địa bên ngoài thành cổ có thể chứng minh giả thuyết này. Các nhà khảo cổ đã tìm được di tích con sông cổ đại ở gần Lâu Lan. Hồ La Bố trong lịch sử đã xảy ra nhiều lần thay đổi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hill, John E. (2009). Through the Jade Gate to Rome: A Study of the Silk Routes during the Later Han Dynasty, 1st to 2nd Centuries CE. BookSurge, Charleston, South Carolina. ISBN 978-1-4392-2134-1.
  • Hulsewé, A. F. P. (1979). China in Central Asia: The Early Stage 125 BC – AD 23: an annotated translation of chapters 61 and 96 of the History of the Former Han Dynasty. E. Brill, Leiden. ISBN 90-04-05884-2.
  • Mallory, J. P. and Mair, Victor H. (2000). The Tarim Mummies: Ancient China and the Mystery of the Earliest Peoples from the West. Thames & Hudson. London. ISBN 0-500-05101-1.
  • Watson, Burton, trans. (1993). Records of the Grand Historian: Han Dynasty II - Revised Edition. Columbia University Press, New York. ISBN 0-231-08166-9 and ISBN 0-231-08167-7.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]