Lã hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lã Hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lã hậu
呂后
Nhiếp chính nhà Hán
Nhiếp chính 195 TCN180 TCN
Nhiếp chính Hán Huệ Đế
Lưu Cung
Lưu Hoằng
Hoàng hậu nhà Hán
Tại vị 202 TCN195 TCN
Tiền nhiệm Không có
(Là Hoàng hậu đầu tiên của nhà Hán)
Kế nhiệm Trương Yên
Hoàng thái hậu nhà Hán
Tại vị 195 TCN - 188 TCN
Tiền nhiệm Không có
(Là Thái hậu đầu tiên của nhà Hán)
Kế nhiệm Trương Yên
Thái hoàng thái hậu nhà Hán
Tại vị 188 TCN - 180 TCN
Tiền nhiệm Không có
(Là Thái hoàng thái hậu đầu tiên của nhà Hán)
Kế nhiệm Bạc Thái hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Hán Cao Tổ
Hậu duệ Lỗ Nguyên Công chúa
Hán Huệ Đế Lưu Doanh
Tên đầy đủ Lã Trĩ (呂雉)
Tự: Nga Hủ (娥姁)
Thụy hiệu Cao Hoàng Hậu
高皇后
Hoàng tộc Nhà Tây Hán
Thân phụ Lã Văn (呂文)
Sinh 241 TCN
Sơn Đông
Mất 180 TCN
Trường An

Lã hậu hay Lữ hậu (chữ Hán: 呂后, 241 TCN – 180 TCN[1]), còn được gọi là Hán Cao hậu (汉高后), là hoàng hậu của Hán Cao Tổ triều đại nhà Hán. Bà sinh ra Hán Huệ Đế Lưu Doanh và Lỗ Nguyên Công chúa (魯元公主).

Lã hậu là người phụ nữ đầu tiên mang tước hiệu Hoàng hậu (皇后) trong lịch sử Trung Quốc, sau khi Hán Cao Tổ băng hà, tiếp tục nhận tước hiệu Hoàng thái hậu (皇太后) và Thái hoàng thái hậu (太皇太后), lâm triều xưng chế dưới thời của Hán Huệ Đế cùng Lưu CungLưu Hồng (194 TCN - 180 TCN), tổng cộng 15 năm.

Lã hậu cùng Võ Tắc Thiên (武则天) và Từ Hi thái hậu (慈禧太后) là những người phụ nữ chuyên chính nổi bật nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Phụng ấn bằng ngọc bích của Lã hậu trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Thiểm Tây

Gia thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lã hậu có tên thật là Lã Trĩ (呂雉), tự là Nga Hủ (娥姁). Cha Lã Trĩ là Lã Văn (呂文), nguyên quán ở Đan Phụ (單父)[2]. Thời Tần, Lã Văn đến đời nhà đến Bái huyện (沛县)[3] để tránh bị trả thù. Tại đây Lã Văn gặp Lưu Bang – lúc đó mới làm chức đình trưởng (亭長). Lã Văn cho rằng Lưu Bang sẽ làm nên nghiệp lớn, bèn gả Lã Trĩ cho Lưu Bang. Bà kém Lưu Bang chừng 15 tuổi.

Con tin ở Tây Sở[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Bang khởi nghĩa chống nhà Tần, sau đó cùng Hạng Vũ tranh giành thiên hạ. Hai người anh bà là Lã Trạch, Lã Thích đều làm tướng dưới quyền Lưu Bang, theo Lưu Bang đi đánh dẹp. Anh cả bà là Lã Trạch tử trận, hai người con là Lã Đài, Lã Sản đều được phong tước hầu.

Năm 205 TCN, Lưu Bang nhân lúc Hạng Vũ sa lầy chiến tranh ở Tề, bèn cùng các chư hầu tiến vào đánh chiếm kinh đô Tây Sở là Bành Thành. Do có nhiều chư hầu quy phục, thanh thế rất lớn nên Lưu Bang chủ quan, bị Hạng Vũ mang 3 vạn quân về đánh cho đại bại. Lưu Bang vội vã bỏ chạy. Lã Trĩ cùng cha chồng là Lưu Công bị quân Tây Sở bắt được.

Hạng Vũ bắt được hai người, sai giam lại làm con tin. Lúc đó Lã Trĩ vẫn có người xá nhân của Lưu Bang bị lạc lại là Thẩm Tự Cơ (審食其) theo hầu hạ[4]. Lã Trĩ và cha chồng bị giữ ở Tây Sở 2 năm.

Năm 203 TCN, Lưu Bang và Hạng Vũ giảng hòa, giao ước lấy Hồng Câu làm ranh giới, Hạng Vũ bèn tha cho Lưu Công và Lã Trĩ về với Hán vương Lưu Bang. Lã Trĩ được phong là Hán vương phi (漢王妃). Năm sau (202 TCN), Lưu Bang hợp sức với các chư hầu diệt được Hạng Vũ, làm chủ cả thiên hạ.

Hoàng hậu nhà Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy đánh bại Hạng Vũ và lên ngôi Hoàng đế, nhưng trong quốc gia lúc đó nhiều nơi không khuất phục triều đình khiến Lưu Bang phải cầm quân đánh dẹp liên miên. Lưu Bang lập Lã Trĩ làm Hoàng hậu, Lưu Doanh con bà được lập làm Hoàng thái tử, cùng với Thừa tướng Tiêu Hà (萧何) và các đại thần trông coi triều chính tại Trường An. Lã hậu mau chóng thể hiện là một nhà cai trị khôn ngoan, có tài năng và cứng rắn, cũng mau chóng bà có giao tình tốt với các mệnh quan triều đình. Tất cả một phần đều kính bà, một phần đều sợ sự tàn nhẫn, cứng rắn trong hành vi cai trị của bà.

Giết Hàn Tín và Bành Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Trong số nhiều công thần bị Hán Cao Tổ trừ khử để phong cho các con mình thay thế làm chư hầu, Lã Hậu tham gia trực tiếp vào 2 vụ. Đó là cái chết của Hàn Tín (韩信) và Bành Việt (彭越).

Năm 197 TCN, Trần Hy (陳豨) làm phản ở đất Cự Lộc (鉅鹿)[5]. Lưu Bang triệu tập Lương vương Bành Việt đến hội quân để đánh Hy, nhưng Bành Việt cáo ốm không đi, chỉ cho bộ tướng đi thay. Lưu Bang bèn sai sứ bất ngờ đến bắt Việt giải về Lạc Dương. Lưu Bang nghĩ Việt có công lao nên không giết mà chỉ đày vào huyện Thanh Y (青衣縣)[6], đất Thục.

Đúng lúc Lã hậu từ Trường An ra Lạc Dương thì gặp Bành Việt ở đất Trịnh. Bành Việt đến xin gặp Lã hậu để kêu oan, nhờ bà nói với Hán Cao Tổ tha tội, xin được về quê Xương Ấp (昌邑)[7]. Lã hậu nhận lời, nhưng khi trở về Lạc Dương bà lại khuyên Lưu Bang rằng:

Bành Việt là dũng tướng, nếu thả vào đất Thục mà dấy quân làm phản thì để ẩn hoạ cho mình, chi bằng giết luôn để trừ hậu hoạ.

Lưu Bang nghe theo. Lã hậu bèn sai một môn khách của Bành Việt đứng ra tố cáo rằng: Bành Việt muốn xin về Xương Ấp, thực chất là để làm phản[8]. Lưu Bang và Lã hậu cứ theo đó, sai Đình uý Điền Khai làm án, lệnh giết cả họ Bành Việt.

Danh tướng Hàn Tín có công lao lớn nhất trong các công thần mà Lưu Bang rất đề phòng trong nhiều năm, đã lừa bắt về kinh đô nhưng vẫn lo ngại. Cùng trong vụ Trần Hy làm phản, trong khi Lưu Bang mang quân đi dẹp thì Lã Hậu cầm quyền ở kinh đô sai thừa tướng Tiêu Hà đến gặp Hàn Tín dụ rằng:

Trần Hy đã chết, các chư hầu, các quan đều đến mừng. Tuy ngài ốm, cũng xin cố gắng vào mừng.

Hàn Tín theo Tiêu Hà vào cung, Lã Hậu lập tức sai võ sĩ trói lại, kết tội Hàn Tín đồng mưu với Trần Hy làm phản và mang chém ở nhà treo chuông trong cung Trường Lạc. Sau đó bà giết cả ba họ nhà Hàn Tín. Sau này Lưu Bang đã dẹp xong quân của Trần Hy trở về kinh đô, nghe tin Hàn Tín chết vừa mừng vừa thương.

Giúp con giữ ngôi thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài hoàng hậu Lã Trĩ, Lưu Bang còn nhiều phi tần khác, trong đó có Thích phu nhân (戚夫人) rất được yêu, sinh được Lưu Như Ý (劉如意). Lưu Doanh làm thái tử, có Thúc Tôn Thông[9] làm Thái phó, Trương Lương (张良) làm Thiếu phó giúp. Nhưng Cao Đế Lưu Bang sau thấy Lưu Như Ý thông minh hơn nên muốn bỏ Doanh để lập Như Ý.

Lã hậu sợ, không biết làm thế nào, có người nói với Lã hậu nên hỏi Trương Lương, Lã hậu bèn sai em là Lã Trạch đến nhờ. Ban đầu Trương Lương định từ chối, nhưng Lã Trạch cố nài nên Lương nhận lời. Nhờ Trương Lương giúp, Lưu Doanh mời được 4 hiền sĩ Thương Sơn tứ hạo (商山四皓); là Đông Viên Công, Giác Lý tiên sinh, Ỷ Lý tiên sinh, Hạ Thạch Công mà trước đó chính Lưu Bang không sao mời nổi.

Đến khi dự yến tiệc, thái tử Lưu Doanh rót rượu đứng chầu. Bốn người theo thái tử tuổi đều ngoài tám mươi, mày râu bạc phơ, áo mũ rất đẹp. Cao Tổ lấy làm lạ hỏi. Bốn người tiến đến thưa, kể họ tên. Cao Tổ hoàng đế kinh ngạc, hỏi ra mới biết là các hiền sĩ mà bấy lâu mình mời không được.

Bốn người nói với Cao Tổ:

Bệ hạ khinh kẻ sĩ, hay mắng người, bọn thần nghĩa khí không chịu nhục, cho nên sợ mà trốn tránh. Nay trộm nghe thái tử là người nhân đức hiếu thảo, cung kính, thương yêu kẻ sĩ, trong thiên hạ không ai không vươn cổ muốn vì thái tử mà chết, vì vậy chúng tôi đến đây.

Cao Tổ nói:

Phiền các ông nhờ giúp đỡ thái tử cho trót.

Bốn người chúc thọ xong, đứng dậy đi ra. Cao Tổ cho gọi Thích phu nhân vào, chỉ bốn người kia bảo rằng:

Ta muốn đổi nó, nhưng bốn người kia đã giúp nó. Lông cánh nó đã thành, khó mà lay chuyển được. Lữ hậu là chủ của ngươi rồi đấy!

Lưu Doanh giữ được ngôi thái tử không bị truất. Lưu Như Ý được phong làm Triệu vương (趙王) [10].

Hoàng thái hậu chuyên quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 195 TCN, Lưu Bang mất, đã bốn ngày nhưng Lã hậu chưa báo tang. Vì thái tử Lưu Doanh còn nhỏ, Lã hậu sợ các tướng không phục sẽ làm loạn, do đó bàn mưu với Thẩm Tự Cơ định giết chết các công thần.

Tướng Lịch Thương ở kinh thành biết mưu đó, khuyên Thẩm Tự Cơ nên can Lã hậu không thực hiện ý định này, vì sẽ kích động các tướng đang cầm quân ở ngoài làm phản. Thẩm Tự Cơ vội đi nói với Lã Hậu. Lã hậu nghe ra, bèn báo tang Hán Cao Tổ[11]. Vì vậy không xảy ra biến cố nào.

Thái tử Lưu Doanh lên nối ngôi, tức là Hán Huệ Đế, Lã hậu được tôn làm Hoàng thái hậu. Tuy Huệ Đế làm vua nhưng việc điều hành triều đình do Lã thái hậu quyết định. Huệ đế thực chất không có quyền hành.

Trả thù tình địch[sửa | sửa mã nguồn]

Lã thái hậu không hãm hại đại đa số các phi tần của Hán Cao Tổ, ngược lại còn hậu đãi và đối xử theo như luật đề ra. Những phi tần nào sinh được con trai đều được phong Vương thái hậu (王太后) và cùng con trai trở về đất phong cư ngụ, như trường hợp của Bạc phu nhân (薄夫人), mẹ của Đại vương Lưu Hằng (劉恆). Chỉ trừ duy nhất trường hợp của Thích phu nhân, người đàn bà đã cậy sủng mà muốn cho con trai mình Triệu vương Lưu Như Ý thay ngôi Thái tử của Lưu Doanh. Lưu Như Ý lúc đó đang ở đất phong nước Triệu, nên Lã thái hậu nhắm vào Thích phu nhân.

Lã thái hậu sai giam Thích phu nhân ở cung Vĩnh Hạng và gọi Như Ý đến. Sứ giả của Lã thái hậu triệu tập, tướng quốc Chu Xương cự tuyệt không nghe lệnh. Lã thái hậu cả giận, bèn sai người gọi Chu Xương về. Chu Xương về đến Trường An, thái hậu lại sai người mời Triệu vương lần nữa. Triệu vương đành phải ra đi. Huệ Đế thương em, biết Thái hậu giận, nên thân hành đón Như Ý ở Bá Thượng, rồi luôn luôn kèm lúc Như Ý đi đứng, ăn uống. Lã thái hậu muốn giết Như Ý nhưng không có dịp nào.

Tháng 12 năm 194 TCN, Huệ đế buổi sớm ra đi săn bắn. Như Ý còn nhỏ, không thể dậy sớm. Thái hậu nghe tin Như Ý ở một mình, bèn sai người mang thuốc độc đến cho Như Ý uống. Như Ý uống xong thì chết.

Để trả thù Thích phu nhân, Lã thái hậu bèn sai chặt chân tay Thích phu nhân, móc mắt, đốt tai, cho uống thuốc thành câm, cho ở trong nhà tiêu gọi đó là "Nhân trư" (人彘), nghĩa là con người lợn. Sau mấy hôm, thái hậu cho gọi Huệ Đế vào để xem "Nhân trư". Hán Huệ Đế thấy, ngạc nhiên bèn hỏi, biết đó là Thích phu nhân, liền khóc rống lên. Huệ Đế đau lòng quá, mắc bệnh, sai người nói với thái hậu:

Việc đó không phải là việc con người làm! Tôi là con của thái hậu, không thể nào trị thiên hạ được!

Huệ Đế bất lực trước sự độc ác của mẹ, không có cách nào ngăn cản được, vì thế ngày đêm uống rượu chơi bời dâm dật, không nghe chính sự, cho nên mắc bệnh.

Đối đãi với những hậu duệ khác của Lưu Bang[sửa | sửa mã nguồn]

Tề vương Lưu Phì[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lưu Phì

Mùa đông năm 194 TCN, những người anh em là Nguyên vương nước Sở, Điệu vương nước Tề (Lưu Phì) đến chầu. Huệ Đế cùng ăn tiệc và uống rượu với Tề vương trước mặt thái hậu. Vì ông cho rằng Lưu Phì là anh nên để ngồi ghế trên theo lễ những người trong nhà. Thái hậu nổi giận, bèn sai rót hai chén thuốc độc đặt trước mặt mình, sai Lưu Phì chúc thọ. Phì đứng dậy, Huệ Đế cũng đứng dậy nâng chén muốn cùng chúc thọ với Tề vương. Thái hậu sợ quá, thân hành đứng dậy hắt chén rượu của Huệ Đế.

Tề vương lấy làm lạ, do đó không dám uống, giả vờ say đi ra. Khi hỏi, Lưu Phì biết đó là thuốc độc. Tề vương sợ hãi, tự cho rằng không thể ra khỏi Trường An nên rất lo lắng. Quan nội sử của Tề vương tên là Sỹ nói với Tề vương:

Thái hậu chỉ có một mình hoàng đế và công chúa Lỗ Nguyên. Nay đại vương có hơn 70 thành, mà công chúa[12] chỉ có vài thành, nếu đại vương quả thực đem một quận dâng cho thái hậu để làm ấp tắm gội của công chúa, thì thái hậu thế nào cũng mừng rỡ và đại vương cũng không lo ngại gì.

Tề vương bèn dâng quận Thành Dương, tôn công chúa Lỗ Nguyên làm Vương thái hậu. Lã Hậu mừng rỡ bằng lòng, bèn đặt tiệc rượu ở cung riêng của vua Tề, sau khi uống chén rượu vui vẻ, thái hậu cho Tề vương trở về nước mình.

Triệu vương Lưu Hữa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giết Triệu vương Lưu Như Ý, Lã hậu lập Hoài Dương vương Lưu Hữa (劉友) lên thay làm Triệu vương.

Lã Thái hậu gả một người con gái họ Lã cho Lưu Hữu nhưng không được Lưu Hữu sủng ái. Lã thị bèn tìm cách vu cáo với Lã thái hậu rằng Lưu Hữu bắt bình việc bà ta phong vương cho họ Lã. Năm 181 TCN, Lã thái hậu triệu Lưu Hữu vào chầu rồi bắt giam ông lại, bỏ đói cho đến chết.

Sau khi Lưu Hữu qua đời, Lã thái hậu cho an táng ông theo lễ của dân thường rồi lập anh ông là Lương vương Lưu Khôi làm Triệu vương[13].

Lương vương Lưu Khôi[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lưu Khôi

Sau khi phong Lưu Khôi đến đất Triệu, Lã Thái hậu ép ông lấy con gái của Lã Sản em mình, và giết sủng phi của ông. Tháng 6 năm đó Lưu Khôi vì thương tiếc người sủng phi bèn tự tử chết theo. Ông làm Triệu vương chưa đấy một năm.

Lã Thái hậu lấy cớ Lưu Khôi tự sát, phế con ông, lập Lã Lộc làm Triệu vương.

Bức thư của Mặc Đốn[sửa | sửa mã nguồn]

Hung Nô ở phương bắc khi đó thế lực rất mạnh và hay khiêu chiến với nhà Hán. Cao Tổ hoàng đế Lưu Bang khi còn sống từng giao chiến với Hung Nô và đã gặp nguy khốn ở Bình Thành. Sang thời Lã thái hậu cầm quyền, Hung Nô tiếp tục quấy rối biên giới.

Năm 192 TCN, lúc đó thiền Hung Nô là Mặc Đốn thiền vu (冒顿单于) chết vợ, nghe tin Lã thái hậu nhiếp chính, bèn viết thư tỏ tình với lời lẽ trăng gió. Sách Hán thư đã ghi lại đoạn thư của Mặc Đốn mà Tư Mã Thiên nhận xét trong Sử ký là "lời lẽ bậy bạ" như sau[14]:

"Ông vua cô độc buồn rầu, sinh ra ở nơi đầm lầy, lớn lên ở nơi thảo dã bò ngựa, mấy lần đến biên giới muốn chơi Trung Quốc. Bệ hạ[15] thì buồn bã một mình. Hai chúa không vui, không có gì để giải buồn. Xin lấy cái có để đổi lấy cái không"

Lã thái hậu đọc thư rất tức giận, định điều binh đánh Mặc Đốn. Các tướng can rằng:

Giỏi và vũ dũng như Cao Đế mà còn bị nguy khốn ở Bình Thành

Bà đành nén giận, giữ chính sách giảng hòa với Hung Nô để yên bờ cõi.

Hoàng hậu Trương Yên[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 191 TCN, Lã thái hậu ép Huệ đế lấy cháu ngoại mình là Trương Yên (张嫣) - con của Lỗ Nguyên Công chúa và Triệu vương cũ Trương Ngao (張敖, đã bị truất làm Tuyên Bình hầu), vốn còn rất nhỏ tuổi, và là cháu ruột gọi bằng cậu, làm Hoàng hậu kế nhiệm.

Không khóc con[sửa | sửa mã nguồn]

Do bị mẹ áp chế không thể chống lại được, Huệ Đế buồn rầu sinh bệnh rồi mất sớm năm 188 TCN, khi mới 22 tuổi.

Con qua đời, Lã Thái hậu khóc nhưng không chảy nước mắt. Người con của Trương LươngTrương Tích Cương làm thị trung, mới 15 tuổi, nói với thừa tướng Trần Bình (陈平):

Thái hậu chỉ có một mình hoàng đế. Nay hoàng đế mất, thái hậu khóc lại không đau xót, ngài có biết tại sao không?

Trần Bình hỏi vì sao, Tích Cương nói:

Hoàng đế không có con lớn tuổi để kế nghiệp. Thái hậu sợ bọn các ông nổi loạn. Nay ông xin cho Lã Đài, Lã Sản, Lã Lộc[16] làm tướng, cầm quân giữ các đạo quân trong phía nam và phía bắc, cho những người con họ Lã vào giữ các chức vụ trong cung. Làm như thế thì thái hậu sẽ yên tâm và bọn các ông may mà tránh khỏi tai họa.

Thừa tướng Trần Bình bèn làm theo kế của Tích Cương. Lã Thái hậu mừng rỡ, lúc ấy khóc mới thảm thiết.

Trương Yên, hoàng hậu của Huệ Đế không có con. Theo Sử ký, Lã hậu mang một đứa trẻ giấu kín vào cung, giả cách rằng Trương Yên có chửa và đến ngày sinh ra đứa bé. Khi Huệ Đế mất, đứa trẻ được đưa lên ngôi, sử gọi là Hán Tiền Thiếu Đế. Bà vẫn nắm quyền điều hành triều chính.

Thái hoàng thái hậu chuyên quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Phong vương họ Lã[sửa | sửa mã nguồn]

Lã thái hoàng thái hậu muốn phong cho con cháu họ Lã làm vương, bèn hỏi tướng Vương Lăng (王陵). Lăng thẳng thắn nói không được, vì điều đó trái ý của Hán Cao Tổ. Bà bèn bãi chức Vương Lăng, cho làm Thái phó (太傅). Trần BìnhChu Bột (周勃) phải lựa ý bà, tỏ ra đồng tình việc phong vương họ Lã, bà mới bằng lòng.

Nhiều người con của Cao Tổ hoàng đế bị bà sát hại. Bà phong cho các cháu Lã Đài làm Lã vương, Lã Lộc làm Triệu vương, Lã Thông làm Yên vương. Năm 184 TCN, em gái bà là Lã Tu (呂須) được phong Lâm quang hầu. Nhiều con em họ Lã khác cũng được phong hầu.

Ngoài ra, bà còn cất nhắc tình nhân Thẩm Tự Cơ từng theo hầu hạ bà trước kia lên làm Tả thừa tướng. Tư Mã Thiên đã kín đáo chép về việc này trong Sử ký: "Tả thừa tướng không làm việc, thường lo việc ở trong cung". Tự Cơ được tin dùng, lũng đoạn triều Hán, nhiều quan lại muốn được việc phải nhờ cậy[4][17].

Giết Hán Tiền Thiếu đế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 184 TCN, Thiếu đế lớn lên, nghe nói mẹ mình bị Lã thái hoàng thái hậu giết, còn mình không phải là con của hoàng hậu Trương Yên, bèn nói:

Hoàng thái hậu làm sao có thể giết mẹ ta mà gọi ta là con? Giờ ta còn bé, nếu ta trưởng thành thì sẽ thay đổi.

Lã thái hoàng thái hậu nghe nói rất lo lắng, sợ Thiếu đế chống lại mình, bèn giam Thiếu đế ở cung Vĩnh Hạng, nói rằng hoàng đế bị mắc bệnh nặng không thể gặp người ngoài được. Bà loan tin Thiếu đế bị bệnh nặng không làm hoàng đế được, nên lập người khác. Không ai dám ngăn cản, bà bèn sai giết Thiếu đế và lập một người con khác của Huệ đế là Thường Sơn vương Lưu Nghĩa (hay Lưu Hồng) làm hoàng đế, tiếp tục cầm quyền chính trong triều.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7, năm 180 TCN, Lã thái hậu mắc bệnh nặng. Biết mình không qua khỏi, bà phong cháu Lã Lộc làm thượng tướng quân thống lĩnh Bắc quân, cho Lã vương Sản làm tướng quốc thống lĩnh Nam quân, khống chế lực lượng hộ vệ trong hoàng cung. Bà nói với con em họ Lữ[18]:

Sau khi bình định thiên hạ, Cao Đế có giao ước với các quan đại thần: "Ai không phải họ Lưu mà làm vương thì thiên hạ cùng đánh nó". Nay họ Lã làm vương thì các quan đại thần không chịu. Nếu ta chết đi, hoàng đế còn ít tuổi, sợ các đại thần gây biến loạn. Hai ngươi phải cầm quân giữ lấy cung, chớ có đi theo đám tang, đừng để cho người nào áp chế mình.

Sắp đặt xong, bà qua đời, thọ 61 tuổi, thụy hiệuHán Cao hoàng hậu (漢高皇后). Nhưng Lã Lộc và Lã Sản không phải là đối thủ của các đại thần khai quốc nhà Hán như Trần Bình, Chu Bột. Hai người Trần, Chu đã làm binh biến giết hết các tướng họ Lã mà Lã thái hậu dựng lên để lấy lại thiên hạ cho họ Lưu.

Vì Lã hậu tàn ác, các tướng phế Lưu Nghĩa và bàn nhau rằng: nhà họ Bạc, mẹ Đại vương Lưu Hằng[19] - con thứ 4 của Lưu Bang - là người hiền đức, nên lập Lưu Hằng làm vua. Do đó hoàng tử Lưu Hằng được lập làm người kế vị, tức là Hán Văn Đế.

Đoạn kết Lã hậu bản kỷ trong Sử Ký ghi nhận: Thời Lã hậu cầm quyền tuy có làm đảo lộn cung đình nhà Hán, giết hại các hoàng tử nhà Hán nhưng không làm xáo trộn đời sống xã hội, ít dùng hình phạt với dân chúng, thiên hạ được bình yên, nhân dân lo cày cấy, ăn mặc no đủ.

Gia tộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phụ thân: Lã Văn (呂文), còn gọi là Lã Công (呂公). Năm 187 TCN được truy tôn "Lã Tuyên vương" (呂宣王). Sử gia Quách Mạt Nhược cho rằng ông là hậu duệ của Lã Bất Vi.
  • Hậu duệ:
  • Anh chị em và cháu họ:
    • Lã Trường Hủ (呂長姁), anh trai.
      • Lã Bình (呂平), con trai Trường Hủ , phong Phù Liễu hầu (扶柳侯).
    • Lã Trạch (呂澤), anh trai, thụy phong "Điệu Vũ vương" (呂悼武王).
      • Lã Đài (呂台), con trai Lã Trạch, phong Túc vương (肅王) năm 186 TCN.
        • Lã Gia (呂嘉), con trai Lã Đài, Lã vương (呂王).
        • Lã Thông (呂通), con trai Lã Đài, phong Yên vương (燕王) năm 181 TCN.
        • Lã Phỉ (呂庀), con trai Lã Đài, Đông Bình hầu (東平侯).
      • Lã Sản (呂產), con trai Lã Trạch, phong Lương vương (梁王) năm 181 TCN.
    • Lã Thích Chi (呂釋之), anh trai, thụy phong "Triệu Chiêu vương" (趙昭王).
      • Lã Tắc (呂則), con trai Lã Thích Chi, Kiến Thành hầu (建成侯).
      • Lã Chủng (呂種), con trai Lã Thích Chi, Bất Kí hầu (不其侯).
      • Lã Lộc (呂祿), con trai Lã Thích Chi, kế nhiệm chức Triệu vương năm 181 TCN.
    • Lã Tu (呂嬃), em gái, vợ của danh tướng Phàn Khoái, được phong làm Lâm Quang hầu. (臨光侯) năm 184 TCN.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên, bản dịch của Phan Ngọc, NXB Văn hóa thông tin, 2003, các thiên:
    • Cao Tổ bản kỷ
    • Lã hậu bản kỷ
    • Trần thừa tướng thế gia
    • Hung Nô liệt truyện
  • Chu Mục, Trần Thâm chủ biên (2003), 365 truyện cổ sử chọn lọc Trung Quốc, tập 3, NXB Thanh niên
  • Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Quốc, NXB Giáo dục

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo sách "Các đời đế vương Trung Hoa" của Nguyễn Khắc Thuần
  2. ^ Nay là huyện Thiền tỉnh Sơn Đông
  3. ^ Nay huyện Bái, tỉnh Giang Tô
  4. ^ a ă Sử ký, Trần thừa tướng thế gia
  5. ^ Ngày nay Hình Đài, Hà Bắc, Trung Quốc
  6. ^ Nay là Nhã An, Tứ Xuyên
  7. ^ Nay là Kim Hương, Sơn Đông
  8. ^ Chu Mục, Trần Thâm, sách đã dẫn, tr 568
  9. ^ Danh sĩ từ thời nhà Tần, theo nhà Hán
  10. ^ Triệu vương cũ là Trương Ngao, con của Trương Nhĩ, bị phế truất để ngôi đó thuộc về họ Lưu
  11. ^ Sử ký, Cao Tổ bản kỷ
  12. ^ Lúc này Lỗ Nguyên đã đứng ngôi mẹ vợ của Huệ Đế
  13. ^ Sử kí, Lã hậu bản kỉ
  14. ^ Sử ký Tư Mã Thiên, Hung Nô liệt truyện, tr 863
  15. ^ Chỉ Lã Hậu, vì Lã Hậu xưng chế cầm quyền điều hành
  16. ^ Là những người cháu trong họ của Lã Trĩ
  17. ^ Chu Mục, Trần Thâm, sách đã dẫn, tr 70
  18. ^ Sử ký, Lã hậu bản kỷ
  19. ^ Bạc phu nhân vốn là vợ cũ của Nguỵ vương Báo

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]