Lê Công Tuấn Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Công Tuấn Anh
Lê Công Tuấn Anh.jpg
Sinh 2 tháng 2, 1967(1967-02-02)
Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa
Mất 17 tháng 10, 1996 (29 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Tên khác Lê Công
Nghề nghiệp Diễn viên
Vai diễn đáng chú ý Vị đắng tình yêu (vai Quang đông ki sốt)
Hiệp sĩ cuối cùng
Em còn nhớ hay em đã quên (vai Quang Sơn)
Ngọt ngào và man trá (vai Tuấn)
Mặt trời đêm (vai Đại)

Lê Công Tuấn Anh (2 tháng 2 năm 1967 - 17 tháng 10 năm 1996) là một nam diễn viên Việt Nam, được biết đến như là gương mặt diễn viên xuất sắc và nổi tiếng nhất của điện ảnh Việt Nam thập niên 90. Quang Đông ki sốt trong bộ phim Vị đắng tình yêu là vai diễn nổi tiếng của anh.

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Công Tuấn Anh chào đời vào ngày 2 tháng 2 năm 1967 (nhằm 23 tháng chạp năm Bính Ngọ) tại thành phố Sài Gòn. Tên thường gọi của Lê Công Tuấn Anh là Lê Công.[1].

Lê Công Tuấn Anh là người gốc Huế, cả ba và mẹ đều là người Huế. Ngay từ khi còn rất nhỏ đến năm 10 tuổi Lê Công Tuấn Anh(LCTA) sống cùng bà nội.Nhưng sau đó,ba mẹ của Lê Công Tuấn Anh đã chia tay. Ban đầu, Lê Công ở với ba, nhưng vào ngày 3/1/1977, Ba của Lê Công đột ngột qua đời, sau đó anh theo mẹ(bà Nguyễn Thị Vinh),về ở tại chợ cũ phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và theo học lớp 6,7 tại trường cấp I, II Tam Hòa A (nay là Trường Trung Học Cơ Sở Bình Đa, nhưng không lâu sau đó, anh bị mẹ bỏ rơi với lý do tái giá và theo chồng về sống tại Vũng Tàu, có một cô con gái riêng với chồng sau tên Kim Anh. Năm 1980 - 1981, 1981 -1982, căn cứ lời khai trong lý lịch khi nhập học thì LCTA là người theo đạo Thiên Chúa;[2][2]

Sau cú sốc gia đình đổ vỡ vào năm lên 10, cuộc sống của Lê Công Tuấn Anh trở thành những ngày tháng tối tăm nhất trong cuộc đời của anh[3].

Anh bắt đầu cuộc sống như một đứa trẻ bụi đời, lang thang, tuổi thơ của anh gắn liền với bụi đường hè phố và cuộc sống vô cùng vất vả.Hàng ngày anh kiếm sống bằng các công việc vặt như bán báo dạo, đánh giày… và thậm chí trước đó có lúc phải đi ăn xin.[2]

Năm 12 tuổi, Lê Công được đưa vào Trường Giáo dục thiếu niên 3 vào năm 1979. Ở đây Lê Công Tuấn Anh được học văn hóa và học nghề dưới sự chăm lo của "bà Phước". Ở Trường, nhờ vào tính cách hiền lành, chịu khó, siêng năng nên Lê Công Tuấn Anh được các thầy rất yêu mến.Và cũng nhờ ngoại hình ưa nhìn nên anh được chọn giúp việc cho phòng y tế của trường.[2]

Anh làm việc rất chăm chỉ và thông minh, vì thầy chỉ cần nói một lần là anh nhớ chính xác tên thuốc và công dụng của thuốc. Ở trường anh là trợ lý đắc lực cho thầy giáo Mến - Trưởng phòng y tế của trường. Ban ngày anh làm việc ở trường, còn tối thì về trại ngủ.[2][3]

Một thời gian sau, anh được một người cô ruột, bà Lê Thị Ngoan, 63 tuổi bảo lãnh đưa về nuôi dưỡng tại nhà gia đình người cô này, trú tại số 48 đường Huỳnh Tịnh Của, Q3. rước về từ cô nhi viện, và sống cùng gia đình của người cô ruột này. Chính giai đoạn này đã khiến cuộc đời Lê Công Tuấn Anh thực sự thay đổi.[3].[2]

Mặc dù nhà người cô tuy nghèo, nhưng Lê Công vẫn được cô cho đi học. Lê Công học cấp II tại trường Trung học Tân Định, ở Quận 3 đến năm lớp 9. Sau đó, anh đi học nghề thợ hàn tại Trung tâm Dạy nghề Q.3. Tại đây năng khiếu về nghệ thuật của anh bắt đầu bộc lộ.[2]

Anh đạt được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi diễn văn nghệ quần chúng về cho trường. Trong đó, đáng chú ý vở kịch "Ngộ nhận" do anh làm đạo diễn kiêm diễn viên chính và tác giả kịch bản đạt được giải thưởng cao.[3].[2]

Cuộc đời nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Trái ngược với cuộc sống riêng tư đầy bất hạnh và bi kịch của mình, cuộc đời sự nghiệp của Lê Công Tuấn Anh đã đạt được những vinh quang tột đỉnh bằng tài năng diễn xuất bẩm sinh lẫn sự khổ luyện của bản thân.

Sau khi ra trường anh đi làm thợ hàn, nhưng do ham mê nghệ thuật nên anh cũng tham gia vào các phong trào văn hóa văn nghệ tại Nhà văn hóa Quận 3. Tình cờ, nghệ sĩ Lê Bình phụ trách văn hóa quần chúng Quận 3 đã phát hiện ra năng khiếu diễn xuất bẩm sinh của Lê Công Tuấn Anh, nên đã giúp đỡ Lê Công, và khuyến khích cho anh đóng thử kịch nói.[2]

Vào năm khi Lê Công Tuấn Anh được 18-19 tuổi, một hôm anh và bạn gái tên Hồng Điệp đến Đoàn kịch nói Kim Cương thử vai làm diễn viên. Hôm đó cón hơn 400 thí sinh dự thi nhưng chỉ chọn hơn 10 người Và Lê Công Tuấn Anh không dám dự thi mà chỉ hỗ trợ tinh thần cho cô bạn gái, nhận lời làm phụ diễn cho bạn. Tuy nhiên, khi thấy anh lấp ló ở hậu đài, nghệ sĩ Kim Cương đã nhận thấy tiềm năng ở Lê Công, nên anh và cô bạn Hồng Điệp đều được nhận vào đoàn kịch.[4].[2]

Lê Công Tuấn Anh khởi đầu với các vai diễn quần chúng, nhưng sau đó, anh được đóng một vai phụ, vai nhân chứng trong vở kịch Nhân danh công lý. Sau đó, anh được đóng vai Chu Xung trong vở "Lôi Vũ", nhờ vai diễn ấn tượng mà anh đã lọt vào tầm ngắm của các nhà làm phim điện ảnh.[2]

Tuy chỉ được diễn những vai nhỏ cho đoàn kịch, nhưng nhờ những bước khởi đầu đó mà anh đã mạnh dạn đến xin thử vai tại cuộc tuyển chọn diễn viên cho bộ phim Tìm vàng của đạo diễn Lê Xuân Hoàng.[5].Cuối cùng, nhờ được sự tiến cử của diễn viên Trọng Hải, đồng thời cũng là người đầu tiên phát hiện ra khả năng đóng phim của Lê Công, Lê Công được giao vai họa sĩ, vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp của mình.[2][5]. Ban đầu, anh cũng không thành công lắm ở lĩnh vực điện ảnh, nên khi đóng được vài phim anh lại trở lại đoàn kịch Kim Cương.[2]

Khoảng một năm sau, anh bất ngờ nhận được lời mời đóng vai bác sĩ Quang "Đông ki sốt" trong bộ phim Vị đắng tình yêu của đạo diễn Lê Xuân Hoàng. Lần này, Lê Công Tuấn Anh lại rời sân khấu kịch để trở lại với phim trường. Và lần trở lại này, anh đã thực sự thành công, vai diễn Quang "Đông ki sốt" của Lê Công Tuấn Anh trở thành một hiện tượng trong giới điện ảnh, chỉ trong vòng một đêm, cái tên Lê Công Tuấn Anh đã trở nên nổi tiếng.[2]

Có thể nói cú bén duyên với nghệ thuật thứ 7 đã làm thay đổi cuộc đời anh. Với vẻ ngoài điển trai, gương mặt hiền lành với ánh mắt buồn đượm nhiều suy tư đầy sức quyến rũ, Lê Công Tuấn Anh đã chinh phục trái tim người xem trong hầu hết các phim anh tham gia vai chính sau đó như Vị đắng tình yêu, Tuổi thơ dữ dội, Em còn nhớ hay em đã quên, Anh chỉ có mình em, Sao Phượng còn buồn, Hoa quỳnh nở muộn, Bên bờ ảo vọng, Tình biển, Ngọt ngào và man trá,...[5].[2]

Đặc biệt là vai diễn "chàng Đông ki sốt" ngơ ngác, si tình và say đắm với tình yêu đầu trong sáng của Vị đắng tình yêu, vai diễn giúp anh trở thành thần tượng của giới trẻ thập niên 90, đồng thời là vai diễn để đời của anh. Cũng sau vai diễn chàng Đông ki sốt, tên tuổi Lê Công Tuấn Anh bắt đầu lên như diều gặp gió.Không chỉ được các hãng phim Thành phố Hồ Chí Minh săn đón,các hãng phim Trung ương cũng rất muốn anh ký hợp đồng đóng phim với họ.[2] Trung bình một năm Lê Công Tuấn Anh đóng đến 20 bộ phim, nhiều khi anh phải thức trắng đêm để hoàn thành vai diễn của mình trong 4 ngày, thậm chí 2 ngày, chưa kể có những kịch bản anh phải từ chối vì quá bận rộn[2][3]

Năm 1996, Lê Công có cú đột phá lớn bằng vai diễn "chàng trai bị tâm thần" với diễn biến tâm trạng phức tạp trong bộ phim truyền hình nổi tiếng "Ngọt ngào và man trá", trong phim anh diễn cùng lúc hai nhân vật khác nhau, đây đồng thời cũng là bộ phim cuối cùng trong sự nghiệp của Lê Công Tuấn Anh.[6].

Anh cũng nhận được rất nhiều giải thưởng danh giá trong sự nghiệp diễn xuất của mình, nhưng đáng chú ý là: hai giải thưởng kép "nam diễn viên chính xuất sắc nhất" tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ 10 vào năm 1993. Ngoài ra anh từng ba năm liên tiếp nhận giải Mai vàng - diễn viên được yêu thích nhất vào các năm 1993,1994 và 1995[4].[2]

Chưa đầy 10 năm trong làng điện ảnh Lê Công đã đóng gần 60 bộ phim cho cả điện ảnh miền Nam và miền Bắc[4][7]

Bên lĩnh vực sân khấu, Lê Công Tuấn Anh cũng đã đoạt Huy chương vàng tại Hội diễn sân khấu toàn quốc đợt 2 tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1995 với vai Sỏi trong vở kịch Bước qua lời nguyền.[2]

Anh được công chúng lẫn giới phê bình đánh giá cao trong các vai diễn mình tham gia và được mọi người thừa nhận là tài năng kiệt xuất của điện ảnh[8]. Bởi mỗi bộ phim anh tham gia diễn xuất đều để lại những dấu ấn rất sâu đậm và gây xúc động nơi người xem.

Tính cách[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ khi còn rất nhỏ, thì Lê Công Tuấn Anh đã bộc lộ là một cậu bé có tính cách rất nhạy cảm và vô cùng thông minh, nhưng lại hiếu động một cách kỳ lạ. Khi ở Trường Giáo dục thiếu niên 3, Lê Công Tuấn Anh lại được các thầy đánh giá là một thiếu niên có tính cách khác hẳn những đứa trẻ lang thang bụi đời khác. Lê Công Tuấn Anh hiền lành, chịu khó, siêng năng nên được các thầy quý mến.[2]

Những người quen biết Lê Công Tuấn Anh từ trước và sau khi nổi tiếng nhận xét tính cách của anh hầu như không thay đổi, hiền lành, chân thật với người thân và tất cả mọi người.[2]

Không chỉ là ngôi sao thần tượng hàng đầu, Lê Công Tuấn Anh còn nổi bật với tính cách hòa đồng, thân thiện, luôn quan tâm đến mọi người xung quanh và đặc biệt là phong cách sống rất giản dị của mình[8]. Anh được bạn bè, đồng nghiệp và người hâm mộ yêu mến bởi cá tính hiền lành, nhút nhát, dễ mến, cũng như là người nghệ sĩ có một trái tim nhân hậu và là người sống nội tâm[5].

Với phương châm sống "luôn giúp đỡ, luôn sẻ chia", Lê Công Tuấn Anh còn được biết đến với nhiều hoạt động từ thiện, anh dành hầu hết tiền đóng phim cho việc giúp đỡ những trẻ em lang thang, bụi đời có cùng hoàn cảnh với mình trước đây, trong khi bản thân anh chỉ sống trong một căn hộ thuê khá tồi tàn và đơn sơ [7]. Ngoài ra anh cũng luôn đồng cảm và sẻ chia với những người nghèo khổ, khó khăn trong xã hội[5].

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 10 năm 1996,công chúng Việt Nam bàng hoàng và sửng sốt khi nghe tin Lê Công Tuấn Anh đã tự tử. Nguyên nhân cái chết của anh hiện vẫn chưa thống nhất, theo Vietnamnet anh đã "đột ngột ra đi sau khi uống 37 viên thuốc ngủ"[9], còn theo VnExpress: anh chết "sau khi uống nhiều viên thuốc sốt rét trong tình trạng say khướt"[9].

Có hàng trăm câu chuyện được thêu dệt về cái chết của Lê Công Tuấn Anh. Theo lời đồn đại, anh không chịu nổi cú sốc sau khi chia tay mối tình sâu nặng với người mẫu Minh Anh[9]. Còn theo lời của đạo diễn Nguyễn Hữu Phần và cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì nguyên nhân dẫn đến cái chết của Lê Công Tuấn Anh là bởi cuộc sống của anh quá cô đơn[10]. Năm 2007, theo lời Minh Anh, trong thời gian hai người yêu nhau, Lê Công Tuấn Anh có tình cảm với một diễn viên trẻ tên V. Vì Lê Công Tuấn Anh nhiều lần hứa chấm dứt nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ với V. nên Minh Anh quyết định chia tay. Khi thấy không thể hàn gắn được với Minh Anh, Lê Công Tuấn Anh tự tử [11].

Ở tuổi 29 anh đã ra đi khi còn đứng trên đỉnh cao của sự nghiệp diễn xuất. Anh mất đi đã để lại niềm nhớ tiếc trong lòng nhiều khán giả điện ảnh Việt Nam[9].

Đám tang của Lê Công Tuấn Anh là một trong những đám tang lớn nhất của Việt Nam, đồng thời là đám tang lớn nhất của nghệ sĩ Việt Nam với hàng chục ngàn người hâm mộ đưa tiễn[cần dẫn nguồn]. Cái chết của anh trở thành một sự kiện lớn và thu hút rất nhiều sự quan tâm của các hãng thông tấn xã lớn nhất tại Việt Nam cũng như công chúng trong khắp cả nước. Chỉ trong vòng một đêm sau cái chết của anh, hai tờ nhật báo nổi tiếng nhất Việt Nam là Tuổi TrẻThanh Niên cạnh tranh nhau về quyền được phát hành bản quyền về câu chuyện của Lê Công cũng như cái chết vì tự tử của anh, kéo theo đó là số lượng độc giả không ngừng tăng lên. Các độc giả liên tục gửi thư yêu cầu và gọi điện thoại đến phòng tin tức của Tòa soạn, chỉ trong vòng một ngày họ nhận được ít nhất là 40 cuộc gọi đến tòa soạn chỉ để mong muốn các phóng viên tiếp tục đưa tin về ngôi sao quá cố nổi tiếng [12]. Trong khi đó, rất nhiều fan hâm mộ đổ về từ khắp nơi đã đứng xếp hàng chờ hàng giờ đồng hồ trước cổng chùa Xá Lợi - nơi tổ chức đám tang của Lê Công Tuấn Anh, để được vào thắp nhang và cũng như để bày tỏ lòng thành kính đối với thần tượng của mình. Ngày đưa tang, vì số lượng người hâm mộ đưa tiễn quá đông, đã gây nên tình trạng tắc nghẽn giao thông tại nhiều đường phố lớn của Sài Gòn[13].

Trong cuốn sách "House of glass: culture, modernity, and the state in Southeast Asia" được xuất bản vào năm 2001, các nhà nghiên cứu về văn hóa Châu Á Mandy Thomas và Russel H.-K.Heng đã bình luận rằng: " Cái chết của Lê Công Tuấn Anh đã thực sự biến anh từ một ngôi sao điện ảnh thành một biểu tượng nổi tiếng của Việt Nam"[12]. Ngôi mộ của anh giờ được bạn bè lập tại chùa Nghệ Sĩchùa Xá LợiThành phố Hồ Chí Minh.

Danh sách những bộ phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Tìm vàng
  2. Người cá
  3. Lời thề
  4. Tình biển
  5. Nàng Hương
  6. Tôi với em
  7. Đứa con rơi
  8. Mặt trời đêm
  9. Huyền thoại mẹ
  10. Hoa trinh nữ
  11. Mùa săn máu
  12. Hải đường trắng
  13. Em và Michael
  14. Lá Sầu riêng
  15. Sau trận phong ba
  16. Sao phượng còn buồn?
  17. Người tình trễ xe
  18. Trái tim chó sói
  19. Tuổi thơ dữ dội
  20. Phạm Công - Cúc Hoa
  21. 7 Sắc cầu vòng
  22. Vị đắng tình yêu
  23. Vị đắng tình yêu 2
  24. Xác chết trên cao nguyên
  25. Ngọc trảng thần công
  26. Yểu điệu thục nữ
  27. Vĩnh biệt mùa hè
  28. Chuyện tình thời Sida
  29. Hiệp sĩ cuối cùng
  30. Bến bờ khát vọng
  31. Áo trắng sân trường
  32. Mảnh đất tình đời
  33. Anh chỉ có mình em
  34. Chiếc mặt nạ da người
  35. Vòng hoa Chăm-pây
  36. Bản tình ca cuối cùng
  37. Cô thủ môn tội nghiệp
  38. Gọi tình yêu quay về
  39. Hoa quỳnh nở muộn
  40. Chuyện tình hồ than thở
  41. Vòng vây tội lỗi
  42. Giang hồ trinh nữ
  43. Tình ngỡ đã phôi pha
  44. Vĩnh biệt Cali
  45. Người đẹp Tây đô
  46. Bên dòng sông trẹm - phần 2
  47. Người đi tìm dĩ vãng
  48. Ngọt ngào man trá
  49. Cha tôi và hai người đàn bà
  50. Tráng sĩ Bồ đề
  51. Tình nàng áo trắng
  52. Sắc hoa màu nhớ
  53. Em còn nhớ hay em đã quên
  54. U tôi
  55. Em không thể xa anh

Giải thưởng nghệ thuật tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên giải thưởng Tên phim Vai Hạng mục
1993 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ X Vị đắng tình yêu Quang đông ki sốt Nam diễn viên chính xuất sắc nhất(thể loại:phim truyện nhựa)
Liên hoan phim Việt Nam lần thứ X Em còn nhớ hay em đã quên Quang Sơn Nam diễn viên chính xuất sắc nhất(thể loại:phim truyện video)
Mai vàng Anh chỉ có mình em Hoan Nghệ sĩ được yêu thích nhất trong năm
1994 Mai vàng Anh chỉ có mình em Hoan Nghệ sĩ được yêu thích nhất trong năm
1995 Mai vàng Mặt trời đêm Đại Nghệ sĩ được yêu thích nhất trong năm

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]