Lê Thái Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Thái Tông
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Hậu Lê
Trị vì 14331442
Tiền nhiệm Lê Thái Tổ
Phụ chính Đại tư đồ Lê Sát
Tư khấu Lê Ngân
Kế nhiệm Lê Nhân Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Nguyễn Thị Anh
Ngô Thị Ngọc Dao
Lê Ngọc Dao
Lê Nhật Lệ
Dương Thị Bí
Ngô Thị Ngọc Xuân
Bùi Quý nhân
Hậu duệ
Tên thật Lê Nguyên Long
Niên hiệu Thiệu Bình 1434 - 1439),
Đại Bảo (1440 - 1442)
Thụy hiệu Kế Thiên Thể Đạo Hiển Đức Thánh Công Khâm Minh Văn Tư Anh Duệ Triết Chiêu Hiến Kiến Trung Văn Hoàng Đế
Miếu hiệu Thái Tông
Triều đại Nhà Hậu Lê
Thân phụ Lê Thái Tổ
Thân mẫu Phạm Thị Ngọc Trần
Sinh 20 tháng 11, 1423
Mất 4 tháng 8, 1442
Lệ Chi viên, huyện Gia Định [1]
An táng Hựu Lăng

Lê Thái Tông (chữ Hán: 黎太宗, 20 tháng 11, 1423 - 4 tháng 8, 1442), là hoàng đế thứ 2 của triều đại nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi từ năm 1433 đến 1442, tổng cộng 9 năm.

Lê Thái Tông lên kế vị khi mới 11 tuổi nhưng đã tỏ ra là vị Hoàng đế anh minh. Ông trọng dụng các đại thần chính trực như Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Đinh Liệt và giáng chức những quyền thần như Lê Sát, Lê Ngân. Việc còn nhỏ tuổi nhưng nhận thức sắc bén của ông được đánh giá như Hán Chiêu Đế[cần dẫn nguồn]. Bên cạnh thông minh hơn người, Thái Tông còn là người uy dũng khi đã đích thân dẹp trừ các tù trưởng họ Cầm, giặc Nghiễm và Ai Lao vào năm 1439, 1441. Sử thần Ngô Sĩ Liên đánh giá: quả xứng là bậc hoàng đế anh hùng vậy.

Cái chết của ông gắn liền với vụ án Lệ Chi Viên, dẫn đến cái chết bi thảm của danh thần Nguyễn Trãi và toàn gia đình. Vụ án đến bây giờ vẫn còn gây ra những tranh cãi lớn, vì khi qua đời Lê Thái Tông chỉ mới 20 tuổi.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thái Tông tên thật là Lê Nguyên Long (黎元龍), con thứ hai của Lê Thái Tổ Lê Lợi, mẹ là Phạm Thị Ngọc Trần, sau truy tôn làm Cung Từ hoàng hậu. Ông chào đời ngày 20 tháng 11 âm lịch năm 1423, sinh ra tại Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, Việt Nam.

Lúc ông được sinh ra, Lê Lợi đang lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn để chống lại quân đội nhà Minh.

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Thị Ngọc Trần mất vào năm 1425, khi đó Thái Tông mới chỉ 3 tuổi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chưa kết thúc. Lúc đó anh cả của Nguyên Long là Lê Tư Tề đã trưởng thành và tham gia vào việc quân với Lê Lợi.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, tức Lê Thái Tổ. Hoàng tử Nguyên Long được phong làm Lương quận công (良郡公). Trong triều xảy ra mâu thuẫn giữa hai phe đại thần ủng hộ Quốc vương Lê Tư Tề và Hoàng tử Lê Nguyên Long. Sau, phe Lê Sát ủng hộ Nguyên Long thắng thế, Lê Tư Tề bị kết luận là mắc chứng điên cuồng và bị hạ chức từ Quốc vương xuống Quận vương (郡王), Lê Nguyên Long được lập làm Hoàng thái tử.

Năm 1433, Lê Thái Tổ băng hà, Lê Nguyên Long lên nối ngôi, sử gọi là Lê Thái Tông.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Giáng chức quyền thần, mở mang việc học[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thái Tông lên ngôi lúc mới 11 tuổi có Lê Sát làm phụ chính. Bấy giờ mâu thuẫn trong triều nổ ra giữa những khai quốc công thần, đứng đầu là Tư đồ Lê Sát cùng Lê Ngân và bên kia là các quan xuất thân khoa bảng. Dù còn ít tuổi nhưng nhà Thái Tông là người thông minh, quyết đoán, đủ bản lĩnh đối phó với những vấn đề phức tạp của triều đình.

Lê Sát ít học nhưng là công thần nên được Lê Thái Tổ thăng làm Tư đồ, cậy quyền làm nhiều điều trái phép, những ai không hợp ý đều bị Sát tìm cách hãm hại.[2] Các gian thần Trình Hoàng Bá, Lê Quốc Khí, Đinh Bang Bản, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư trước có công về phe với Lê Sát vu cáo Phạm Văn XảoTrần Nguyên Hãn, sau Lê Thái Tổ đã có lệnh cấm những người đó tham dự triều chính và không được tố cáo nhưng Lê Sát vẫn cố tiến cử với Thái Tông. Ông theo lời can của Nguyễn Thiên Tích, Bùi Cầm Hổ, cương quyết giữ phép tắc của Thái Tổ, không phục chức cho những người đó.

Ít lâu sau khi lên ngôi, năm 1434, Lê Thái Tông đã ra chiếu cho bá quan văn võ, nội dung như sau:[3]

Đạo làm tôi cốt yếu ở hai điều. Trên thì yêu vua, dưới thì yêu dân. Yêu vua phải hết lòng trung, yêu dân phải hết lòng thành, thế thôi. Tất cả các quan được trẫm tin dùng, nếu có ai không hết lòng trung thành, bỏ bê phận sự, thì nhà nước đã có luật pháp. Mới rồi, tìm người hiền để giúp việc trị nước, đã có lệnh cho mọi ngưởi tiến cử người mình biết. Nay đã lâu rồi mà chưa có ai theo lệnh tiến cử một người nào để đáp lại lòng trẫm là cớ làm sao.

—Lê Thái Tông

Hơn một tuần sau đó, Lê Thái Tông ra chiếu cho quan lại lập ngay danh sách người của địa phương tới dự thi, ai thi đỗ thì được miễn lao dịch, vào học Quốc Tử Giám, v.v...[3]

Ngày 4 tháng 2 năm 1434, khoa thi đầu tiên được tổ chức.[3]

Năm 1437, Lê Thái Tông ra chiếu chỉ: "Lê Sát tự chuyên giữ quyền bính, ghen người tài, giết Nhân Chú để tự ra oai của mình, truất Trịnh Khả để người ta phục, bãi chức của Ư Đài khiến đình thần không ai dám nói, đuổi Cầm Hổ ra nơi biên thùy để gián quan phải ngậm miệng. Xem những việc làm ấy đều không phải là đạo làm tôi. Nay muốn khép vào luật hình để tỏ rõ phép nước, song vì là đại thần cố mệnh, có công với nhà nước, đặc cách khoan tha, nhưng phải bãi chức tước". Sau đó Thái Tông bắt giam người cùng phe Lê Sát là Đặng Đắc, cho Bùi Ư Đài được phục chức, triệu Bùi Cầm Hổ về kinh, cử Tư khấu Lê Ngân thay Lê Sát chấp chính.

Tháng 7, năm đó, Lê Thái Tông ra lệnh phế truất con gái ông là Nguyên phi Lê Ngọc Dao làm dân thường, rồi ra chiếu kết tội Lê Sát và những người cùng cánh, định xử chém đầu rao ở chợ. Tuy nhiên, do là công thần nên Lê NgânBùi Cầm Hổ khuyên Thái Tông không nên chém, chỉ ban thuốc tự tử, ông nghe theo.

Trừ được Lê Sát, Lê Thái Tông càng khắt khe trong số các công thần, trong tâm có ý trừ Tư khấu Lê Ngân. Bấy giờ Lê Nhật Lệ, con gái của Lê Ngân được phong làm Huệ phi nhưng không được sủng hạnh, Lê Ngân sai người phù thủy làm lễ ở nhà, đúc tượng vàng Quan Thế Âm để mong con gái được yêu thương. Thái Tông nghe đến, sai người vào nhà ông tra khảo, bắt được bọn phù thủy yếm và tượng vàng. Lê Ngân hoảng hốt vào triều, tâu sớ giải bầy, nhưng Thái Tông quyết xử tử, ban cho ông tự vẫn tại nhà như Lê Sát trước đây. Tuy nhiên cũng như Lê Sát, cả nhà ông chỉ bị lưu đày, con trai Lê Nho Tông bị buộc làm lính giữ cửa, không được trọng dụng.

Đích thân chấp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1438, Lê Thái Tông chỉnh đốn việc thi cử các đạo. Lệ cứ 5 năm một lần thi hương, 6 năm một lần thi hội. Phép thi thì kỳ thứ nhất làm một bài kinh nghĩa, bốn bài tứ thư nghĩa, mỗi bài phải 300 chữ trở lên; kỳ thứ hai làm bài chiếu, bài chế và bài biểu; kỳ thứ ba làm bài thi phú; kỳ thứ tư làm một bài văn sách phải 1.000 chữ trở lên.[2]

Năm 1439, Lê Thái Tông thân chinh dẫn quân đi đánh các châu Phục Lễ (Lai Châu ngày nay). Bấy giờ các tù trưởng họ Cầm quấy nhiễu biên giới, nước Ai Lao nghe theo cũng cử 3 vạn quân theo chúng cướp phá. Lê Thái Tông đích thân dẫn 6 quân đi đánh, thắng lợi rực rỡ. Cùng năm đó, Hà Tông Lai làm loạn ở Tuyên Quang, Thái Tông dẫn quân đánh dẹp, chém đầu Tông Lai cùng con là Tông Mậu.

Năm 1441, phản tặc tên Thượng Nghiễm làm loạn ở châu Thuận Mỗi, Nghiễm trước cậy vào Ai Lao nhiều lần làm loạn, Lê Thái Tông đã từng cất binh nhưng do dâng phương vật nên tha về. Đến nay Thái Tông đem quân đến bắt sống được 1 viên tướng Ai Lao và vợ con; lại bắt được các con trai của Nghiễm là Sinh TượngChàng Đồng. Nghiễm bèn ra hàng. Lê Thái Tông sau đó dâng tú báo thắng trận ở Thái Miếu.

Bấy giờ, sau khi Lê Thái Tổ băng, văn vật, chế độ, sách vở, lễ nhạc đều được khôi phục, điển chương văn vật rực rỡ. Các nước Trảo Oa (Java), Xiêm La, Tam Phật Tề [4], Chiêm Thành, Mãn Lạt Gia (Malacca) vượt biển sang cống, bên trong bọn phản nghịch đều được dẹp yên, giáng đòn phạt đến nỗi không gượng dậy được. Thái Tông lúc đó chưa đầy 20 tuổi, nếu không phải nói thiên tư trời ban thì còn từ nào đủ hình dung.[cần dẫn nguồn]

Năm 1442, ông mở khoa thi tiến sĩ, những người thi đỗ đều được khắc tên vào bia đá. Các tiến sĩ được khắc tên vào bia ở Văn Miếu (nơi thờ Khổng Tử – người sáng lập Nho giáo) bắt đầu từ đó. Ngoài ra, ông còn quy định lại những cách thức tiêu dùng tiền và lụa vải ở trong nước; cứ 60 đồng là một tiền; lụa thì cứ dài 30 thước, rộng 1 thước 5 tấc trở lên là một tấm; giấy thì 100 tờ làm một tập.

Bấy giờ, Lê Thái Tông đã nắm chắc đế vị, nhưng luôn dòm ngó canh chừng người anh cả là Quận vương Lê Tư Tề. Theo sử sách, do có người tố cáo Lê Tư Tề có lời oán vọng, ông ra lệnh giam lỏng Tư Tề, cấm các quan không được lại gần và cấm Tư Tề vào triều, ai vi phạm sẽ bị tội nặng. Năm 1438, sau khi giết Lê Sát và trực tiếp lên nắm quyền, ông lập tức phế anh cả Tư Tề làm dân thường. Không lâu sau đó, Tư Tề qua đời.

Năm 1441, Lê Thái Tông ép Phạm Huệ phi tự sát. Huệ phi Phạm thị là phi tần của Lê Lợi, lúc trước bị quân Minh bắt, được thả về, sau khi ông lên ngôi tôn phong làm Huệ phi. Phạm thị có âm mưu phế bỏ ông[5], bà mưu tư thông với các đại thần, bị để ý và phát hiện. Lập tức bắt Huệ phi đưa khỏi kinh thành về Lam Kinh để coi Vĩnh Lăng - nơi chôn cất Thái Tổ hoàng đế. Về sau, một số cung nữ đến gặp Thái Tông nói Huệ phi buôn lời oán vọng, ông hạ lệnh ép bà tự sát.

Hoàng đế đa tình[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Thái Tông có nhiều phi tần và có tổng cộng 4 người con trai. Trước khi sinh hoàng tử, Thái Tông đã có 2 bà phi là Nguyên phi Lê Ngọc Dao, con gái của Đại tư đồ Lê Sát và Huệ phi Lê Nhật Lệ, con gái của Tư khấu Lê Ngân. Khi Lê Sát và Lê Ngân bị xử tội năm 1437, hai người bị phế. Lê Ngọc Dao xuống làm thứ nhân, còn Lê Nhật Lệ xuống làm Tu dung.

Sau đó Lê Thái Tông sủng ái bà Dương Thị Bí và sinh ra con trai trưởng là Lê Nghi Dân vào năm 1439, không lâu sau lập làm Hoàng thái tử. Dương phi vì có con làm Thái tử, bắt đầu ỷ sủng sinh kiêu, ức hiếp người trong cung, Thái Tông biết được có ý không vui.

Năm 1440, Thái Tông bắt đầu sủng ái bà Nguyễn Thị Anh và lấy cớ Dương Thị Bí kiêu ngạo nên truất làm Chiêu nghi. Một năm sau, người con trai thứ hai là Lê Khắc Xương ra đời, nhưng mẹ là Bùi thị không được Thái Tông yêu nên cũng thất sủng. Cùng năm đó Nguyễn Thị Anh sinh được Lê Bang Cơ. Thái Tông liền truất Nghi Dân làm Lạng Sơn vương và lập Bang Cơ làm Hoàng thái tử, thăng Thị Anh lên làm Thần phi.

Tháng 7 năm 1442, Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao sinh hoàng tử thứ tư là Lê Tư Thành.

Ngoài ra, theo một số nguồn tư liệu, cùng việc trọng dụng Nguyễn Trãi, ông còn hay gần gũi với một người thiếp của Trãi - Nguyễn Thị Lộ, khi đó đã 40 tuổi. Nguyễn Thị Lộ có sắc đẹp, giỏi văn chương nên hay được ra vào cung cấm. Cả sách Đại Việt Sử ký Toàn thư của nhà Hậu Lê và Khâm định Việt Sử thông giám cương mục của nhà Nguyễn đều chép: Nguyễn Thị Lộ người đẹp, hay chữ, vua cho ra vào cung và sàm sỡ với bà.

Vụ án Lệ Chi Viên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vụ án Lệ Chi Viên

Cuối tháng 7 năm 1442, Lê Thái Tông đi tuần phía đông, đầu tháng 8 đến Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8 vua về đến trại Vải (Lệ Chi Viên), có Nguyễn Thị Lộ theo hầu. Sử sách chép: Vua thức suốt đêm hôm đó với Nguyễn Thị Lộ rồi qua đời. Đây chính là Vụ án Lệ Chi Viên nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục ghi thêm rằng: Vua có ở với bà Thị Lộ nhưng cùng lúc đó bị sốt rét nên qua đời.

Triều đình quy tội cho Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Trãi giết Thái Tông và tru di tam tộc. Đây là nghi án lớn trong lịch sử. Việc oan khuất của vợ chồng Nguyễn Trãi sau này đã được Lê Thánh Tông xác nhận. Riêng về nguyên nhân cái chết của Lê Thái Tông, ngày nay một số nhà nghiên cứu đã nêu ra giả thiết chính bà phi Nguyễn Thị Anh là thủ phạm.

"Yêu mẹ thì bế con", Thái Tông yêu bà Dương Thị Bí nên lập Lê Nghi Dân. Sau đó Nguyễn Thị Anh dù đang được sủng ái nhưng tấm gương mẹ con Dương Thị Bí cùng bị phế truất có lẽ khiến đã bà lo sợ ông thay lòng đổi dạ lần nữa vì Thái Tông lại mới có thêm Tư Thành, ngoài ra có Khắc Xương còn lớn hơn cả Bang Cơ. Câu chuyện về nguồn gốc của Bang Cơ ngày một lớn mà Hoàng đế lại trẻ trung, đa tình, có nhiều khả năng còn được mới nới cũ, sủng ái những người khác, ngôi vị của mẹ con Nguyễn Thị Anh bị đe doạ khiến bà quyết định ra tay trước. Đây là trường hợp tranh chấp trong cung đình tương tự như chuyện nhà Đinh[6].

Ông ở ngôi được 9 năm, hưởng dương 20 tuổi. Ngày 16 tháng 10, năm 1442, ông được táng phía bên trái Vĩnh Lăng ở Lam Sơn gọi là Hựu Lăng (祐陵), thụy hiệuKế Thiên Thể Đạo Hiển Đức Thánh Công Khâm Minh Văn Tư Anh Duệ Triết Chiêu Hiến Kiến Trung Văn Hoàng Đế (繼天體道顯德功欽明文思英睿仁哲昭憲建中文皇帝), miếu hiệuThái Tông (太宗). Chính sử gọi tắt là Thái Tông Văn hoàng đế (太宗文皇帝) hoặc Lê Văn Hoàng (黎文皇), Văn Hoàng (文皇), Văn Đế (文帝).

Bài văn bia Hựu Lăng do Hàn lâm viện thị độc học sĩ kiêm tri ngự tiền học sinh cục cận thị chi hậu Nguyễn Thiên Tích soạn.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Việt sử ký toàn thư nhận định về vua Lê Thái Tông như sau:[7]

Vua thiên tư sáng suốt, nối vận thái bình; bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài đánh dẹp Di Địch. Trọng đạo sùng nho, mở khoa thi chọn hiền sĩ; xử tù, xét án phần nhiều tha thứ khoan hồng. Cũng là bậc vua tài giỏi biết nối giữ cơ đồ. Song đam mê tửu sắc, đến nỗi thình lình băng ở bên ngoài cũng là tự mình chuốc lấy tai họa.

Vua là bậc hùng tài đại lược, quyết đoán chủ động. Khi mới lên ngôi, nghiền ngẫm tìm phương trị nước, đặt chế độ, ban sách vở, chế tác lễ nhạc, sáng suốt trong chính sự, thận trọng việc hình ngục, mới có mấy năm mà điển chương văn vật rực rỡ đầy đủ, đất nước đã đổi thay tốt đẹp. Các nước Trảo Oa, Xiêm La, Tam Phật Tề[8], Chiêm Thành, Mãn Lạt Gia vượt biển sang cống. Sau có tên bề tôi trốn tránh là Tông Lai chiêu tập bọn đi trốn làm phản, đặt niên hiệu ngụy là đứa thổ tù Nghiễm ở châu Thuận Mổi dựa vào Ai Lao dám gây biến loạn. Vua thân chỉ huy sáu quân đi giáng đòn trời phạt. Chỉ một tuần mà Tông Lai nộp đầu, hai lần mà tên Nghiễm bị bắt, thực xứng đáng là bậc vua anh hùng.

—Đại Việt Sử Ký Toàn Thư

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Tuyên Từ hoàng hậu Nguyễn Thị Anh (宣慈皇后 阮氏英), người làng Bố Vệ, Thanh Hóa.
  2. Quang Thục hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao (光淑皇后 吳氏玉瑤), người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa. Con gái Thái bảo Ngô Từ.
  3. Nguyên phi Lê Ngọc Dao (黎玉瑤), con gái Đại tư đồ Lê Sát. Ban đầu được phong Nguyên phi (元妃), đứng đầu trong cung, rất được sủng ái. Sau khi Tư đồ Lê Sát chết, bà bị phế làm thứ nhân.
  4. Tu dung Lê Nhật Lệ (黎日厲), con gái Tư khấu Lê Ngân. Ban đầu phong làm Huệ phi (惠妃), sau Lê Ngân bị phác giác làm bùa phép cho con gái được sủng ái, bị ép tự sát vào năm 1437, Huệ phi bị giáng xuống làm Tu dung (修容).
  5. Chiêu nghi Dương Thị Bí (楊氏賁), ban đầu phong làm Phi (妃), sau tính kiêu ngạo bị giáng làm Chiêu nghi (昭儀). Về sau bị đuổi làm thứ nhân, giam vào lãnh cung.
  6. Quý nhân Bùi thị (貴人裴氏), con gái của Ngự sử trung thừa Bùi Cầm Hổ.
  7. Cung tần Ngô Thị Ngọc Xuân, người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa. Con gái Thái bảo Ngô Từ, chị gái Ngô Thị Ngọc Dao.
  • Con cái:
  1. Lê Nghi Dân, ban đầu là Thái tử, sau phế làm Lạng Sơn Vương, sau phế Lê Nhân Tông lên ngôi, bị giết, truy tôn là Lệ Đức hầu (厲德侯), mẹ là Dương Thị Bí.
  2. Lê Khắc Xương (黎克昌), ban đầu phong Tân Bình Vương (新平王), sau cải làm Cung vương (恭王), tự sát năm 1476, mẹ là Bùi Quý nhân.
  3. Lê Bang Cơ, lập làm Thái tử năm 1441, sau lên ngôi lức Lê Nhân Tông, mẹ là Nguyễn Thị Anh.
  4. Lê Tư Thành, ban đầu được ẩn giấu, năm 1445 phong Bình Nguyên Vương (平原王), sau cải làm Gia vương (嘉王), phế Lê Nghi Dân sau được tôn lên ngôi, tức Lê Thánh Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao.
  5. Vệ Quốc công chúa (衛國公主), công chúa cả, gả cho Lê Quát, con trai Thái úy Lê Thụ.
  6. An Nam công chúa (安南公主), tên là Ngọc Lan (玉蘭), gả cho Trịnh Bá Nhai, con trai Nhập nội thiếu phó Trịnh Khắc Phục.
  7. Đà Quốc công chúa (沱國公主), gả cho Lê Bộc, con trai của Nhập nội thiếu úy Lê Lăng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ nay là một phần của huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc
  2. ^ a ă Việt sử toàn thư, Phạm Văn Sơn, tr. 272
  3. ^ a ă â CAND.COM - Vua Lê Thái Tông và những lời phải
  4. ^ tên Trung Quốc chỉ một vương quốc trung đại Palembang ở Sumatra, người ta cũng thường đồng nhất Tam Phật Tề với vương quốc Srivijaya (Thất Lợi Phật Thệ) được biết đến từ cuối thế kỷ VII ở vùng này.
  5. ^ Sử sách không chép rõ việc Huệ phi muốn phế Lê Thái Tông lập Tư Tề hay lập ai khác
  6. ^ Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ, sách đã dẫn, tr 1083-1084
  7. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Quyển XI: Kỷ nhà Lê: Thái Tông, Nhân Tông
  8. ^ tên Trung Quốc chỉ một vương quốc trung đại Palem bang ở Sumatra, người ta cũng thường đồng nhất Tam phật Tề với vương quốc Srivijaya (Thất Lợi Phật Thệ) được biết đến từ cuối thế kỷ VII ở vùng này.