Hiến Từ Thái hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lê Thánh hoàng hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hiến Từ hoàng hậu
Hoàng hậu Việt Nam
Hoàng hậu nhà Trần
Tại vị 1323 - 1329
Tiền nhiệm Bảo Từ hoàng hậu
Kế nhiệm Huy Từ hoàng hậu
Hoàng thái hậu nhà Trần
Tại vị 1358 - 1369
Tiền nhiệm Thuận Thánh thái hậu
Kế nhiệm Tá Thánh thái hậu
Thông tin chung
Phu quân Trần Minh Tông
Hậu duệ
Tước hiệu Huy Thánh công chúa
Hoàng hậu
Lệ Thánh Thái thượng hoàng hậu
Tuyên Thánh hoàng thái hậu
Tuyên Thánh Thái hoàng thái hậu
Thụy hiệu Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng hậu
憲慈宣聖皇后
Hoàng tộc nhà Trần
Thân phụ Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn
Thân mẫu Nguyễn phu nhân
Mất 14 tháng 12, 1370
Thăng Long
An táng Mục Lăng

Hiến Từ hoàng thái hậu (chữ Hán: 憲慈皇太后, ? - 14 tháng 12, 1370), là Hoàng hậu của hoàng đế Trần Minh Tông, mẹ ruột của hoàng đế Trần Dụ Tông, Cung Túc vương Trần Nguyên DụcThiên Ninh công chúa Ngọc Tha. Bà được các hoàng đế Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông xem là mẹ đích và kính trọng.

Trong cung đình nhà Trần, bà nổi tiếng với gia thế hiển hách khi thuộc dòng dõi chính thống cai trị Đại Việt thời đó, bà còn nổi tiếng bởi lòng nhân hậu và cách xử thế, được xếp vào hàng Nghiêu Thuấn trong nữ giới.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến Từ Thái hậu xuất thân cao quý, bà là con gái của Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn (陳國瑱), được phong là Huy Thánh công chúa (徽聖公主) từ nhỏ. Huệ Vũ vương là con trai thứ của Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông, bà gọi Nhân Tông thượng hoàng đế là ông nội, Trần Anh Tông là bác, Trần Minh Tông là anh họ.

Bà cùng Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu của Trần Thánh Tông là 2 hoàng hậu có thân thế hiển hách bậc nhất trong các Hoàng hậu nhà Trần, cũng như trong các triều đại về sau khi có họ hàng gần huyết thống với dòng chính thống Hoàng đế nhất.

Năm 1301, Anh Tông đã gả em gái mình là Thiên Trân công chúa (天珍公主) cho Uy Túc công Trần Văn Bích (陳文碧). Năm 1309, công chúa mất, Uy Túc công lại lấy Huy Thánh công chúa về làm phu nhân.

Không rõ quãng thời gian hôn nhân ra sao, có thể là bà ly hôn hoặc bị buộc phải bỏ Uy Túc công mà sau đó, bà lại trở về nhà cha là Huệ Vũ vương, được sắp đặt chọn làm Hoàng hậu cho Minh Tông.

Năm 1323, Minh Tông hoàng đế lúc này đã 23 tuổi. Huy Thánh công chúa được Minh Tông lấy làm Hoàng hậu, phong làm Lệ Thánh hoàng hậu (麗聖皇后).

Cha ruột bị hại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1328, Lệ Thánh hoàng hậu kết hôn với Minh Tông đã lâu mà vẫn chưa sinh hạ Hoàng tử kế thừa đại thống. Minh Tông muốn lập Hoàng tử Trần Vượng (陳旺), con của Anh Tư phu nhân (英思夫人) đang đắc sủng làm Thái tử, nhưng Huệ Vũ vương can ngăn.

Từ trước đến nay, các Hoàng đế nhà Trần đều sinh ra từ các Hoàng hậu có dòng máu trong nội tộc. Tuy Minh Tông không phải con ruột của Bảo Từ hoàng thái hậu (保慈皇太后), mẹ sinh là Chiêu Từ hoàng thái hậu (昭慈皇太后) là con của một người ngoại tộc là Trần Bình Trọng, nhưng mẹ của Chiêu Từ là Thụy Bảo công chúa, con gái của Trần Thái Tông nên huyết thống vẫn còn.

Anh Tư phu nhân vốn là con gái quan viên cấp thấp họ Lê, người Giáp Sơn, Thanh Hóa, dòng máu hoàn toàn khác xa hoàng tộc nên không thể lấy con của phu nhân làm Thái tử, dù đó là con trưởng của Minh Tông. Huệ Vũ vương can ngăn quyết liệt, Minh Tông cũng đành để yên chuyện mà thôi ý định nhưng trong lòng đã sớm buồn bực Huệ Vũ vương.

Lợi dụng hoàn cảnh éo le đó, Cương Đông Văn Hiến Hầu, là con của Tá thánh Trần Nhật Duật muốn đánh đổ Lệ Thánh hoàng hậu để lập Thái tử Vượng, mới đem của đút cho gia thần của Huệ Vũ vương là Trần Nhạc 100 lạng vàng bảo Trần Nhạc vu cáo cho Huệ Vũ có âm mưu làm phản. Minh Tông cả tin cho là thật liền ra lệnh bắt giam ngay Huệ Vũ vương vào chùa Tư Phúc ở kinh sư rồi đem việc ấy hỏi Thiếu bảo Trần Khắc Chung. Khắc Chung vốn là người Giáp Sơn, cùng quê với Anh Tư phu nhân nên sớm có ý thông đồng, xúi giục Minh Tông xử tử Huệ Vũ vương.

Minh Tông truyền bắt Huệ Vũ vương phải tuyệt thực. Lệ Thánh hoàng hậu lúc đó khi vào thăm cha đã lấy áo nhúng nước mặc vào người rồi vắt ra cho cha uống. Trong khi đó, Anh Tư phu nhân muốn cho Huệ Vũ vương chết sớm để con mình được lập làm Thái tử, liền cho người mang nước tẩm độc cho Huệ Vũ vương uống, uống xong thì chết.

Cuối năm đó, Minh Tông lập Hoàng tử Trần Vượng làm Thái tử.

Năm 1329, Minh Tông nhường ngôi cho Hoàng thái tử Trần Vượng, sử gọi là Trần Hiến Tông. Lệ Thánh hoàng hậu được tôn là Lệ Thánh Thái thượng hoàng hậu (麗聖太上皇后).

Con trai được lập[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Hiển Tông làm Hoàng đế được 13 năm thì qua đời, không có con cái. Lúc này, Lệ Thánh hoàng hậu đã sinh ra Cung Túc vương Trần Nguyên Dục (陳元育), Thiên Ninh công chúa Trần Ngọc Tha (陳玉他) và Hoàng tử Trần Hạo (陳暭). Nguyên Dục do ăn chơi quá độ, Minh Tông không vừa ý, còn Hạo thì thông minh, nhanh nhẹn nên Minh Tông chọn làm Hoàng đế kế vị, tức Trần Dụ Tông. Minh Tông vẫn giữ quyền điều hành đất nước.

Năm 1258, Thượng hoàng Minh Tông qua đời, bà được tôn làm Tuyên Thánh hoàng thái hậu (宣聖皇太后). Khi Minh Tông mất, bà muốn đi tu, nhưng nghe theo lời dặn cuối của Minh Tông, không thụ giới nhà Phật [1]. Ở cương vị Thái hậu, bà đã cố gắng kiềm chế bản tính xa hoa, bộc trực của Dụ Tông. Có người đã xàm tấu với ông rằng Thái úy Cung Tĩnh Đại vương Trần Nguyên Trác (陳元卓) đã yểm bùa hại ông. Dụ Tông chút nữa là sát hại Nguyên Trác, nhưng Thái hậu đã can ngăn.

Bị giết hại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1369, Trần Dụ Tông qua đời, không có con nối dõi. Trong triều, hoàng tộc muốn lập người anh khác mẹ của Dụ Tông là Cung Định vương Trần Phủ (陳暊) [2] lên kế thừa nhưng bà nhất định đòi lập người con của Cung Túc vương Trần Nguyên Dục là Trần Nhật Lễ (陳日禮) lên ngôi kế thừa. [1]

Sau khi lên nối đại thống, Nhật Lễ phong bà làm Tuyên Thánh Thái hoàng thái hậu (宣聖太皇太后).

Nhưng sau này bà ân hận khi biết Nhật Lễ không phải con ruột của Nguyên Dục. Lo sợ sự việc vỡ lỡ, nên Nhật Lễ ngầm sai người đầu độc giết chết Thái hậu trong cung vào ngày 14 tháng Chạp năm Kỷ Dậu (tức 12 tháng 1 năm 1370).[1]

Tính cách[sửa | sửa mã nguồn]

Bà nổi tiếng về sự nhân ái và cách xử thế, thương yêu các con của vua Minh Tông như con ruột không phân biệt, dù là con của vợ thứ hay cung phi sinh ra, và còn thân thiện với các cung tần trong cung, cũng như hay phát tiền bố thí dân nghèo. Nhiều lần bà bị vu oan hay hiềm khích, nhưng bà đều bỏ qua, không lợi dụng uy tín mình để truy cứu hay trả thù.

Đại Việt Sử ký toàn thư có chép một giai thoại về bà:

Thái hậu vốn người nhân hậu, có nhiều công lao giúp rập [họ Trần]. Trước kia, khi Minh Tông còn ngự ở Bắc Cung, có tên gác cổng bắt được con cá bống trong giếng Nghiêm Quang, trong mồm có ngậm vật gì, moi ra thì thấy có chữ, đó là bùa yểm, có ghi các tên Dục Tông, Cung Túc, Thiên Ninh (đều là các con đẻ của Hiến Từ). Tên gác cổng cầm lá bùa tâu lên vua. Minh Tông sợ lắm, truyền bắt hết các cung nhân, bà mụ, thị tỳ trong cung để tra hỏi.
Thái hậu thưa: "Khoan đã, sợ trong đó có kẻ bị oan, thiếp xin tự mình bí mật xét hỏi đã".
Minh Tông nghe theo. Thái hậu sai người hỏi tên gác cổng rằng:
"Gần đây, phòng nào trong cung mua cá bống?". Tên gác cổng trả lời là thứ phi Triều Môn. Thái hậu nói cho Minh Tông biết. Minh Tông lập tức ra lệnh tra xét cho ra. Thái hậu tâu:
"Đây là việc trong cung, không nên để hở ra ngoài. Thứ phi Triều Môn là con gái của Cung Tĩnh Vương, nếu để hở ra thì Quan gia sẽ sinh hiềm khích với Thái úy. Thiếp xin ỉm việc này đi không xét hỏi nữa!". Minh Tông khen bà là người hiền.
Đến khi Minh Tông băng, tướng quân Trần Tông Hoắc muốn tỏ ra trung thành với Dụ Tông, thêu dệt việc đó ra, làm Thiếu úy suýt nữa bị hại, nhờ Thái hoàng cố sức cứu đỡ mới thoát.
Người bấy giờ ca ngợi bà là đã trọn đạo làm mẹ, tuy là phận con đích, con thứ không giống nhau, mà lòng nhân từ thì đối với con nào cũng thế, làm cho ân nghĩa vua tôi, anh em, cha con không một chút thiếu sót, từ xưa đến nay chưa có ai được như vậy. Người xưa có nói "Nghiêu Thuấn trong nữ giới", Thái hậu được liệt vào hàng ấy.
Bà từng hối tiếc về việc lập Nhật Lễ. Nhật Lễ ngấm ngầm đánh thuốc độc giết bà. [1]

Tham khảo và chú thích[sửa | sửa mã nguồn]


Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến Từ Thái hậu
Tước hiệu
Tiền vị:
Bảo Từ hoàng hậu
Hoàng hậu Việt Nam
1323-1329
Kế vị
Huy Từ hoàng hậu