Hiến Từ Thái hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lê Thánh hoàng hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Thánh hoàng hậu
Hoàng hậu Việt Nam
Hoàng hậu nhà Trần
Tại vị 1323 - 1329
Tiền nhiệm Bảo Từ Nhân Hiếu hoàng hậu
Kế nhiệm Huy Từ Dụ Tông hoàng hậu
Hoàng thái hậu nhà Trần
Tiền nhiệm Thuận Thánh thái hậu
Kế nhiệm Huy Từ thái hậu
Thông tin chung
Phu quân Trần Minh Tông
Hậu duệ
Tước hiệu Huy Thánh Công chúa
Lê Thánh Hoàng hậu
Hiến Từ Thái thượng hoàng hậu
Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng thái hậu
Hiến Từ Tuyên Thánh Thái hoàng Thái hậu
Thụy hiệu Hiến Từ Văn Triết hoàng hậu
Hoàng tộc nhà Trần
Thân phụ Trần Quốc Chẩn
Mất 1370
Thăng Long

Hiến Từ Thái hậu (?-1370), tước hiệu đầy đủ là Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng thái hậu [1], là một Hoàng hậu, Hoàng thái hậu nhà Trần.

Bà là chính cung của hoàng đế Trần Minh Tông, nổi tiếng về lòng nhân hậu và cách xử thế, được xếp vào hàng "Nghiêu Thuấn trong nữ giới".

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Bà là con gái của Huệ võ Đại vương Trần Quốc Chẩn, được phong là Huy Thánh Công chúa từ nhỏ.

Năm Giáp Dần (1314), theo tục tệ nhà Trần, Huy Thánh công chúa được tuyển vào cung, khi Hoàng thái tử Mạnh, lúc đó mới 15 tuổi, lên ngôi Hoàng đế, tức là Trần Minh Tông. Gần 10 năm sau, vào tháng Chạp năm Quý Hợi (1323), bà được phong làm Lê Thánh Hoàng hậu [2].

Tháng Hai năm Kỷ Tỵ (1329), Trần Minh Tông nhường ngôi cho Hoàng tử Vượng (con của một thứ phi) làm vua (về sau được tôn miếu hiệu là Trần Hiến Tông), bà được tôn là Hiến Từ Thái thượng hoàng hậu.

Nhâm Ngọ, năm thứ 2 (1342), Mùa thu, tháng 7, tôn Hiến Từ Thái thượng hoàng hậu làm Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng Thái hậu.

Khi Thái thượng hoàng Minh Tông mất (1357), bà muốn đi tu, nhưng nghe theo lời dặn cuối của Minh Tông, không thụ giới nhà Phật [3] .

Khi con bà là Trần Dụ Tông qua đời, không có con nối dõi. Trong triều, hoàng tộc muốn lập người anh khác mẹ của Dụ Tông là Cung Định vương Trần Phủ[4] lên làm vua nhưng bà nhất định đòi lập người con nuôi của Cung Túc vương Trần Nguyên Dục (người anh ruột của vua Dụ Tông, đã qua đời hồi năm 1363) là Dương Nhật Lễ lên ngôi :[3]

"Dục là con đích trưởng mà không được ngôi vua, lại sớm lìa đời. Nhật Lễ chẳng phải là con của Dục ư ?"

Sau khi lên nối đại thống, Nhật Lễ phong bà làm Hiến Từ Tuyên Thánh Thái hoàng Thái hậu.[3]

Nhưng sau này bà ân hận khi biết Nhật Lễ không phải con ruột của Nguyên Dục. Lo sợ sự việc vỡ lỡ, nên Nhật Lễ ngầm sai người đầu độc giết chết Thái hậu trong cung vào ngày 14 tháng Chạp năm Kỷ Dậu (tức 12 tháng 1 năm 1370).[3]

Tính cách[sửa | sửa mã nguồn]

Bà nổi tiếng về sự nhân ái và cách xử thế, thương yêu các con của vua Minh Tông như con ruột không phân biệt, dù là con của vợ thứ hay cung phi sinh ra, và còn thân thiện với các cung tần trong cung, cũng như hay phát tiền bố thí dân nghèo. Nhiều lần bà bị vu oan hay hiềm khích, nhưng bà đều bỏ qua, không lợi dụng uy tín mình để truy cứu hay trả thù.

Đại Việt Sử ký toàn thư có chép một giai thoại về bà :

Thái hậu vốn người nhân hậu, có nhiều công lao giúp rập [họ Trần]. Trước kia, khi Minh Tông còn ngự ở Bắc Cung, có tên gác cổng bắt được con cá bống trong giếng Nghiêm Quang, trong mồm có ngậm vật gì, moi ra thì thấy có chữ, đó là bùa yểm, có ghi các tên Dục Tông, Cung Túc, Thiên Ninh (đều là các con đẻ của Hiến Từ). Tên gác cổng cầm lá bùa tâu lên vua. Minh Tông sợ lắm, truyền bắt hết các cung nhân, bà mụ, thị tỳ trong cung để tra hỏi.
Thái hậu thưa: "Khoan đã, sợ trong đó có kẻ bị oan, thiếp xin tự mình bí mật xét hỏi đã".
Minh Tông nghe theo. Thái hậu sai người hỏi tên gác cổng rằng:
"Gần đây, phòng nào trong cung mua cá bống?". Tên gác cổng trả lời là thứ phi Triều Môn. Thái hậu nói cho Minh Tông biết. Minh Tông lập tức ra lệnh tra xét cho ra. Thái hậu tâu:
"Đây là việc trong cung, không nên để hở ra ngoài. Thứ phi Triều Môn là con gái của Cung Tĩnh Vương, nếu để hở ra thì Quan gia sẽ sinh hiềm khích với Thái úy. Thiếp xin ỉm việc này đi không xét hỏi nữa!". Minh Tông khen bà là người hiền.
Đến khi Minh Tông băng, tướng quân Trần Tông Hoắc muốn tỏ ra trung thành với Dụ Tông, thêu dệt việc đó ra, làm Thiếu úy suýt nữa bị hại, nhờ Thái hoàng cố sức cứu đỡ mới thoát.
Người bấy giờ ca ngợi bà là đã trọn đạo làm mẹ, tuy là phận con đích, con thứ không giống nhau, mà lòng nhân từ thì đối với con nào cũng thế, làm cho ân nghĩa vua tôi, anh em, cha con không một chút thiếu sót, từ xưa đến nay chưa có ai được như vậy. Người xưa có nói "Nghiêu Thuấn trong nữ giới" , Thái hậu được liệt vào hàng ấy.
Bà từng hối tiếc về việc lập Nhật Lễ. Nhật Lễ ngấm ngầm đánh thuốc độc giết bà. [3]

Các con ruột[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo và chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ có sách chép là Hiển Từ Thái hậu hay Huệ Từ Thái hậu, ở đây ghi theo Đại Việt Sử ký toàn thư, bản dịch của Viện Khoa học xã hội Việt Nam
  2. ^ (Có sách chép khác là Lệ Thánh Hoàng hậu, ở đây ghi theo Đại Việt Sử ký toàn thư, bản dịch của Viện Khoa học xã hội 1992)
  3. ^ a ă â b c Đại Việt Sử ký toàn thư, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch (1985 - 1992).
  4. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên, quyển thứ X, xem năm 1369.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến Từ Thái hậu
Tước hiệu
Tiền vị:
Bảo Từ Nhân Hiếu hoàng hậu
Hoàng hậu Việt Nam
1323-1329
Kế vị
Huy Từ Dụ Tông hoàng hậu