Lê dương Pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Légion étrangère
Lê dương Pháp
Fanion-et-grenades.jpg
Biểu trưng của Lê dương Pháp: Cờ hiệu và lựu đạn
Hoạt động 9 tháng 3 năm 1831 — nay
Quốc gia  Pháp
Quân chủng Quân đội Pháp
Quy mô 8 trung đoàn, 1 bán lữ đoàn và 1 phân đội
Bộ chỉ huy Aubagne
Khẩu hiệu "Legio Patria Nostra - La Légion est Notre Patrie"
Hành khúc Le Boudin
Lễ kỷ niệm Ngày Camerone (30 tháng 4) và Giáng sinh
Các tư lệnh
Chỉ huy
hiện thời
Louis Pichot de Champfleury

Lê dương Pháp (tiếng Pháp: Légion étrangère) là một đội quân tinh nhuệ của Lục quân Pháp. Được thành lập năm 1831, đây là đơn vị đặc biệt của quân đội Pháp vì các binh sĩ của nó là những người nước ngoài tình nguyện chiến đấu cho nước Pháp (việc tuyển lính nước ngoài cho quân đội Pháp đã bị cấm từ sau năm 1830). Nhiệm vụ ban đầu của Lê dương Pháp là bảo vệ và mở rộng các thuộc địa của Pháp, nhưng sau đó đội quân này đã trở thành một lực lượng quan trọng của quân đội Pháp tham chiến trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới cũng như nhiều cuộc xung đột khác.

Các binh sĩ của đơn vị Lê dương Pháp được gọi là các légionnaire.

Mục lục

[sửa] Thành lập

Thống chế de Bourmont, người thành lập đội Lê dương đầu tiên

Lịch sử của Lê dương Pháp bắt đầu vào ngày 15 tháng 8 năm 1830 khi tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp tại AlgerLouis Auguste Victor de Ghaisne de Bourmont tuyển 500 lính bộ binh người bản địa (những zouave) theo lời đề nghị và một bản ghi nhớ của đại tá Alfred d'Aubignosc. Đội quân người nước ngoài này được chính thức thành lập bởi một sắc lệnh ra ngày 9 tháng 3 năm 1831 của vua Pháp Louis-Philippe, đây là kết quả cuộc vận động của bộ trưởng Bộ chiến tranh Pháp khi đó là thống chế Nicolas Jean-de-Dieu Soult. Nhiệm vụ đầu tiên của Lê dương Pháp là tham chiến trong cuộc xâm lược Algérie, theo nguyên tắc thì đội quân này chỉ được tham gia các nhiệm vụ chiến đấu ở hải ngoại trừ trường hợp mẫu quốc Pháp bị tấn công.

Các địa điểm đồn trú đầu tiên của Lê dương Pháp là ở Langres, Bar-le-Duc, AgenAuxerre. Để thành lập Lê dương, người ta đã tập hợp các đơn vị người nước ngoài trong quân đội Pháp. Các đơn vị của Lê dương bao gồm:

Vào thời điểm ban đầu Lê dương là một đội quân ô hợp nơi tập trung các thành phần "khó ưa" nhất của xã hội Pháp, đó là những tội phạm giết người, tù vượt ngục, người ăn xin, người nhập cư bất hợp pháp,... Binh lính của đơn vị này được huấn luyện tồi, trả lương thấp, thiếu thốn cả về quân trang và quân nhu. Tình trạng này dẫn tới tinh thần của các tiểu đoàn Lê dương cũng xuống rất thấp, binh lính chán nản và đơn vị thì thường xuyên thiệt hại nặng trong các chiến dịch ban đầu. Sau khi tình trạng đào ngũ bắt đầu xuất hiện thì các chỉ huy của Lê dương bắt đầu thiết lập một chế độ kỷ luật thép với mức độ khắc nghiệt vượt xa so với quân đội chính quy của Pháp.

[sửa] Các chiến dịch

[sửa] Algérie

Cuộc xâm lược Algérie của Đế quốc Pháp là chiến dịch đầu tiên Lê dương tham chiến. Tiểu đoàn 4 là đơn vị Lê dương nổ súng đầu tiên vào ngày 11 tháng 11 năm 1832 trong trận chiến ở Sidi-Chabal (gần Oran) chống lại đội quân của Abd El-Kader.

Năm 1834, các binh sĩ người Tây Ban Nha của tiểu đoàn 4 được giải ngũ để trở về tổ quốc, phiên hiệu tiểu đoàn 4 được tiểu đoàn 5 tiếp nhận. Ngày 16 tháng 12 năm 1836 vua Louis-Philippe cho thành lập Lê dương thứ 2 để tiếp viện cho quân đội Pháp tại Algérie, 3 tiểu đoàn mới được thành lập để lấp vào chỗ trống của những đơn vị lính Tây Ban Nha đã trở về nước. Năm 1840, hai tiểu đoàn 4 và 5 tiếp tục được thành lập tại PauPerpignan.

[sửa] Chiến tranh Krym (1854-1856)

Ngày 20 tháng 9 năm 1854, 2 trung đoàn Lê dương đã tham chiến ở trận Alma và sau đó tham gia Cuộc bao vây Sevastopol trong mùa đông 1854-1855. Ngày 21 tháng 6 năm 1855, đại đội Lê dương tinh nhuệ của tiểu đoàn 3 cũng rời đảo Corse tới bán đảo Krym. Ngày 8 tháng 9 cùng năm trung đoàn Lê dương số 2 tham chiến trận cuối cùng của chiến tranh Krym.

[sửa] Chiến dịch Ý

Là một bộ phận của quân đội châu Phi, Lê dương Pháp đã tham gia cuộc chiến tranh giành độc lập thứ hai của Ý. Họ đã tham gia vào hai trận đánh lớn là trận Magenta ngày 4 tháng 6trận Solférino ngày 24 tháng 6 năm 1859.

[sửa] Chinh phục Mexico

Ngày 25 tháng 3 năm 1863 trung đoàn Lê dương Pháp đặt chân tới Mexico với nhiệm vụ hộ tống đoàn vận tải từ Veracruz đến Puebla. Tuy vậy đại đội 3 của trung đoàn này đã tham gia nổ súng trong trận Camerone. Năm 1864 trung đoàn Lê dương tại Mexico được tái cơ cấu lại thành 4 tiểu đoàn, toàn bộ đơn vị cũng rời Sidi bel Abbès về Aix-en-Provence để tuyển mộ thêm lính và tiếp viện cho lực lượng Pháp tại Mexico. Từ tháng 12 năm 1864 đến tháng 2 năm 1865, một số đơn vị của Lê dương đã tham gia cuộc bao vây Oaxaca. Ngày 3 tháng 7 năm 1866, đại đội 3 và 5 của tiểu đoàn 4 gồm 125 lính Lê dương dưới sự chỉ huy của đại úy Frenet đã giữ vững trận địa sau 48 giờ tấn công của một lực lượng áp đảo 600 lính Mexico. Sau khi cuộc chinh phục của người Pháp thất bại, các đơn vị Lê dương cũng quay trở lại Pháp.

[sửa] Chiến tranh Pháp-Phổ (1870 - 1871)

Vào ngày 19 tháng 7 năm 1870, Pháp hung hãn gây hấn với nước Phổ, mở ra cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ. Napoléon III xua quân xâm lược kinh kỳ Berlin, nhưng Quân đội Phổ giành lại thế chủ động và truy kích địch đến miền Đông Nam Pháp. Vào ngày 22 tháng 8 năm 1870, Napoléon III cho thành lập Tiểu đoàn Lê dương thứ Năm, bao gồm có lính đánh thuê người Áo, Thụy Sĩ, Bỉ, Ý, Serbia, Tây Ban Nha, Ba Lan nhưng dĩ nhiên là không có người Đức. Trong Tiểu đoàn Lê dương này có sự tham gia của Hoàng tử Karageorgevitch (sau lên làm vua Peter I nước Serbia) dưới ẩn danh là Kara. Không những thế, hai Tiểu đoàn Lê dương khác gồm 2 nghìn tên lính đánh thuê người châu Phi đổ bộ lên Toulon ở miền Nam Pháp. Nhưng quân Lê dương Pháp liên tục bị quân Phổ đập tan nát, phải tháo chạy tơi bời (tỷ như cuộc rút chạy tả tơi của bọn họ sau khi quân Phổ chiếm lĩnh được làng Arthenay vào giữa tháng 10 năm 1870, hoặc là trận thắng lừng lẫy của các chiến binh Phổ tại Loigny vào ngày 2 tháng 12 năm 1870). Quân Phổ cũng đại phá tan tác quân Pháp như là chẻ tre, trong một loạt các trận đánh huy hoàng tại Weissenburg, Wörth, Spicheren, MetzSedan, buộc Napoléon III phải ra đầu hàng và từ bỏ ngai vàng. Chỉ vào ngày 17 tháng 12 năm 1870, trong tổng số 3600 tên lính Lê dương Pháp, chỉ có 1 nghìn tên còn sống sót.[1] Các đơn vị Lê dương Pháp lại tham gia cuộc đàn áp Công xã Paris vào tháng 4 và tháng 5 năm 1871.

[sửa] Xâm lược Việt Nam (1883)

Ngày 18 tháng 11 năm 1883, 600 lính Lê dương Pháp đổ bộ xuống Bắc Kỳ của Việt Nam. Họ là lực lượng bổ sung cho quân đội viễn chinh Pháp do đô đốc Amédée Courbet chỉ huy lúc này đang xung đột với quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc. Ngày 16 tháng 12 năm 1883, Lê dương Pháp nổ súng lần đầu tiên trên đất châu Á trong cuộc đánh chiếm thành Sơn Tây. Được tiểu đoàn 2 tiếp viện tháng 2 năm 1884, các đơn vị Lê dương đã tiếp tục chiếm thành Bắc Ninh, các đơn vị này cũng tham gia trận chiến tại thành Tuyên Quang từ 26 tháng 1 đến 3 tháng 3 năm 1885. Ngày 1 tháng 2 năm 1885, các tiểu đoàn 3 và 4 của trung đoàn nước ngoài số 1 tiếp tục đổ bộ vào Việt Nam. Tiểu đoàn 3 đã tham gia cuộc đánh chiếm thành Lạng Sơn ngày 4 tháng 2. Riêng tiểu đoàn 4 của trung đoàn 2 đã tiến sang đảo Đài Loan vào tháng 1 năm 1885 để tham chiến chống lại các lực lượng Trung Quốc, họ ở lại đây cho đến khi Hòa ước Pháp-Thanh được ký ngày 21 tháng 6 năm 1885 thì quay trở lại Bắc Kỳ. Sau khi Bắc Kỳ hoàn toàn rơi vào tay quân Pháp, các lực lượng Lê dương bắt đầu phải tham gia dẹp các cuộc khởi nghĩa vũ trang nổ ra liên tiếp tại đây.

[sửa] Thế chiến thứ nhất

Khi Thế chiến thứ nhất nổ ra, bắt đầu từ tháng 8 năm 1914, hàng nghìn người nước ngoài đã tham gia chiến đấu vì nước Pháp. Tổng cộng đã có 42.883 người tình nguyện thuộc 52 quốc tịch khác nhau trong đó phần đông là người Nga, Ý, Thụy Sĩ, Bỉ và Anh. Họ đã được tập hợp trong 5 trung đoàn bộ binh. Tuy vậy do những thiệt hại lớn trong giai đoạn đầu của cuộc chiến cũng như nhiều binh sĩ trở về chiến đấu cho tổ quốc của họ, ngày 11 tháng 11 năm 1915 bộ chỉ huy quân đội Pháp đã quyết định thành lập Trung đoàn bộ binh Lê dương (Régiment de marche de la Légion étrangère - RMLE). Đơn vị này đã tham chiến trong các trận đánh lớn nhất ở Thế chiến như trận Somme, trận Verdun và trở thành một trong những đơn vị có nhiều danh hiệu nhất của quân đội Pháp.

Bên cạnh đó, một đơn vị Lê dương khác cũng được thành lập ở châu Phi, đó là Trung đoàn bộ binh Algérie (Régiment de Marche d'Algérie - RMA) gồm những người zouave và lính bản xứ người Algérie. Đơn vị này đã tham gia trận Dardanelles (1915) và chiến đấu trong quân đội Viễn Đông Pháp trên mặt trận Salonique giai đoạn 1916-1918.

Tổng cộng đã có trên 6.000 légionnaire tử trận trên chiến trường Pháp và Balkan. Tính riêng RMLE đã có 115 sĩ quan bị giết, bao gồm 2 đại tá, 12 thiếu tá và 21 đại úy.

[sửa] Thế chiến thứ hai

Lính Lê dương trong chiến tranh Đông Dương (năm 1954)

Khi Thế chiến thứ hai nổ ra ngày 3 tháng 9 năm 1939, do những xung đột chính trị ở nhiều nước châu Âu, số lượng tình nguyện tham gia Lê dương tăng vọt lên tới 48.924 người (tính đến ngày 9 tháng 5 năm 1940). Số lượng người tình nguyện lớn đã cho phép đội quân Lê dương Pháp thành lập thêm các đơn vị mới, các đơn vị này tham chiến chủ yếu ở chiến trường châu Phi, bọn họ đã phòng thủ Bir Hakeim trong cuộc tấn công của Quân đoàn Phi châu (Đức Quốc Xã) và người Ý. Kết thúc trận đánh này, quân Pháp thiệt hại te tua, quân nhu cũng cạn sạch, nên phải lui binh ra khỏi Bir Hakeim. Quân Lê dương Pháp cũng tham chiến cùng phe Đồng Minh trong trận El Alamein thứ hai, trong đó bọn họ được quân Đồng Minh giao nhiệm vụ cho cướp cứ điểm của Quân đội Ý. [2]

[sửa] Chiến tranh Đông Dương

Trong Chiến tranh Đông Dương từ năm 1946 đến năm 1954, đã có khoảng 72.833 tên lính Lê dương tham chiến tại chiến trường Đông Dương, trong số này hơn 10.283 người đã chết bao gồm 309 sĩ quan, 1.082 Hạ Sĩ quan và 9092 tên lính Lê dương. Phần lớn thiệt hại của lực lượng Lê dương là tại trận Điện Biên Phủ. Trong trận đánh kịch liệt này, lực lượng Việt Minh giành chiến thắng hào hùng và tiêu diệt được 1500 tên lính Lê dương Pháp. Đồng thời, 4 nghìn tên khác bị thương. Đại bại thê lương tại Điện Biện Phủ đã chấm dứt cuộc xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp. Từ đó, ảnh hưởng của Pháp tại Đông Nam Á bị xua tan tành.

Cuộc chiến tranh Đông Dương là sự mất mát lớn nhất của quân đội Pháp và của quân đoàng Lê dương kể từ khi thành lập. Trong cuộc chiến tranh Đông Dương và đặc biệt trong trận Điện Biên Phủ, các quân đoàn Lê dương đã được thấy vào hàng ngũ một ấn tượng lính của Đức, bao gồm rất nhiều cựu binh sĩ SS trên chạy sau khi đánh bại nghiền của mình trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Có những tiểu đoàn toàn là người Đức dến nổi mà các huy chương được đưa ra trong hai ngôn ngữ (tiếng Pháp và tiếng Đức). Nhiều người trong số đó chết ở Đông Dương. Cái bài hát của Trung đoàn bộ binh nước ngoài số 2 là vì lý do này một bài hát bằng tiếng Đức. [3]

[sửa] Chiến tranh Algérie

Sau thất bại trong Chiến tranh Algérie, người Pháp buộc phải rút khỏi đất nước Bắc Phi này, kéo theo đó đội quân Lê dương cũng mất đi một trong những căn cứ chính của họ là Sidi-Bel-Abbès vốn được thành lập từ năm 1842.

[sửa] Từ năm 1962

Sau Chiến tranh Algérie, lực lượng của Lê dương Pháp giảm từ 40.000 xuống còn khoảng 8.000 người. Đơn vị này đã tham gia một số cuộc xung đột tại Tchad (1969-1971), giải cứu con tin tại Kolwezi (Battle of Kolwezi) (Zaire, năm 1978), giải cứu Yasser Arafat tại Beyrouth đầu thập niên 1980, hỗ trợ người Pháp sơ tán trong các cuộc Chiến tranh vùng Vịnh (1991), Chiến tranh Bosnia (1993), xung đột ở Rwanda (1995), Côte d’Ivoire (2002), chiến tranh Afghanistan lần thứ 2 (War in Afghanistan (2001–present))

[sửa] Tổ chức

[sửa] Các đơn vị

Cờ danh dự của 1erRE và 2eREI tại cuộc diễu binh ở Paris năm 2003

Các đơn vị của Lê dương Pháp bao gồm:

  • Bộ chỉ huy và nhân viên Lê dương Pháp (Commandement de la Légion étrangère - COMLE) đóng tại Aubagne
  • Trung đoàn nước ngoài số 1 (1er régiment étranger - 1er RE) đóng tại Aubagne (800 người). Đây là trung tâm vùng chọn Lê dương
  • Trung đoàn nước ngoài số 4 (4e RE) đóng tại Castelnaudary (570 người). Đây là một trung đoàn đào tạo của Lê dương
  • Trung đoàn nhảy dù nước ngoài số 2 (2e régiment étranger de parachutistes - 2e REP) đóng tại Calvi (Corse) (1.234 người)
  • Trung đoàn kỵ binh nước ngoài số 1 (1er régiment étranger de cavalerie - 1er REC) đóng tại Orange (950 người)
  • Trung đoàn công binh nước ngoài số 1 (1er régiment étranger de génie - 1er REG) đóng tại Laudun (Gard) (1000 người)
  • Trung đoàn công binh nước ngoài số 2 (2e REG) đóng tại Saint-Christol (Vaucluse) (870 người)
  • Trung đoàn bộ binh nước ngoài số 2 (2e régiment étranger d’infanterie - 2e REI) đóng tại Nîmes (1.300 người)
  • Trung đoàn bộ binh nước ngoài số 3 (3e REI) đóng tại Kourou (Guyane) (250 légionnaire và 380 lính quay vòng). Đây là đơn vị kế thừa của Trung đoàn bộ binh Lê dương (RMLE) nổi tiếng trong Thế chiến thứ nhất.
  • Bán lữ đoàn Lê dương số 13 (13e demi-brigade de Légion étrangère - 13e DBLE) đóng tại Djibouti đến năm 2011, và từ 2011 đóng lại Abu Dhabi (United Arab Emirates) (khoảng 740 người trong đó có 580 légionnaire)
  • Phân đội Lê dương tại Mayotte (Détachement de Légion étrangère de Mayotte - DLEM) đóng tại Dzaoudzi (240 người trong đó có 80 légionnaire)
  • Đơn vị tuyển quân của Lê dương Pháp (Groupement du recrutement de la Légion étrangère - GRLE) đóng tại Nogent-sur-Marne

[sửa] Thành phần

Légionnaire ở Djibouti
Légionnaire ở Ả Rập Saudi

Dưới đây là danh sách các quốc gia có người tình nguyện tham gia Lê dương Pháp trong giai đoạn 1831-1961 (với tổng cộng khoảng 600.000 légionnaire). Rất nhiều người trong số này tình nguyện tham gia Lê dương vì các lý do chính trị hoặc chiến tranh ở Tổ quốc họ. Chính vì điều này mà danh sách có sự áp đảo của những người Đức vốn gia nhập Lê dương rất nhiều sau Thế chiến thứ hai do bản thân họ đã là cựu chiến binh của lực lượng Waffen-SSWehrmacht[cần dẫn nguồn]:

Thứ tự Quốc gia Số lượng
1 Đức 210000
2 Ý 60000
3 Bỉ 50000
4 Pháp 50000
5 Tây Ban Nha 40000
6 Thụy Sĩ 30000
7 Ba Lan 10000
8 Nga 6000
9 Áo 5000
10 Hungary 4000
11 Hy Lạp 4000
12 Tiệp Khắc 4000
13 Hà Lan 3000
14 Nam Tư 3000
15 Luxembourg 2300
16 Đảo Anh 1500
17 Romania 1500
18 Bồ Đào Nha 1300
19 Đan Mạch 1000
20 Thổ Nhĩ Kỳ 1000
21 Hoa Kỳ 700
22 Bulgaria 500
23 Phần Lan 500
24 Thụy Điển 500
25 Algérie 500
26 Việt Nam 200
27 Maroc 200
28 Tunisia 200
29 Argentina 100
30 Brasil 100
31 Nhật Bản 100
32 Canada 100
33 Litva 100
34 Latvia 100
35 Na Uy 100
36 Ai Cập 100

[sửa] Các truyền thống

Trang phục điển hình của légionnaire

Muốn gia nhập vào Lê Dương bạn chỉ cần đến một đồn lính Lê Dương và xin xung phong. Không cần có quốc tịch Pháp, vì đối với Lê Dương, Lê Dương là 1 "quốc tịch", một thế giới riêng biệt. Bạn cũng có thể yêu cầu Lê Dương cho bạn 1 giấy tờ khác, với tên khác ...Lê Dương chấp nhận điều này ngay cả với những người phạm pháp luật ("không chấp nhận những phạm tội có liên quan đổ máu", crime de sang) và muốn chính quyền "quên đi" mình.


Được thành lập từ binh lính của nhiều quốc gia, vì vậy bên cạnh yếu tố huấn luyện, yếu tố tinh thần của Lê dương cũng rất được chú trọng để đảm bảo sự thống nhất và sức mạnh trong hành động của toàn đơn vị. Điều này được thể hiện qua các truyền thống đa dạng của Lê dương Pháp. Các truyền thống này được ấn định chính thức thông qua quyển sách "Truyền thống của Lê dương Pháp" (Recueil des traditions de la Légion étrangère) và thường xuyên được lặp lại trong quá trình huấn luyện.

[sửa] Khẩu hiệu

Để thể hiện tinh thần chiến đấu vì đơn vị trên hết, Lê dương Pháp có khẩu hiệu:

Legio Patria Nostra - La Légion est Notre Patrie

có nghĩa: "Lê dương là Tổ quốc của chúng ta".

Từng trung đoàn của Lê dương cũng có khẩu hiệu riêng. Ví dụ Trung đoàn công binh nước ngoài số 1 là Ad unum (Đến người cuối cùng - tiếng Latin), Trung đoàn công binh nước ngoài số 2 là Rien n'empêche (Không gì ngăn cản - tiếng Pháp).

[sửa] Trang phục

Hai màu truyền thống của Lê dương Pháp là màu xanh lá cây và màu đỏ. Loại mũ truyền thống của binh lính Lê dương Pháp là mũ kê-pi trắng. Các hạ sĩ quan và sĩ quan đội mũ kê-pi đen. Trong điều kiện chiến đấu kê-pi được thay bằng mũ nồi xanh lá cây. Từ năm 1868 lính Lê dương bắt đầu đeo ngù vai đặc trưng gồm hai màu đỏ và xanh lá cây. Lính Lê dương tại châu Phi bắt đầu dùng loại thắt lưng len xanh lam từ năm 1862. Thắt lưng này dài tới 4,2 m, rộng 40 cm có tác dụng giữ ấm và bảo vệ vùng bụng. Từ năm 1946 lính Lê dương thống nhất dùng loại cà vạt màu xanh lá cây đồng màu với tất.

[sửa] Truyền thống khác

Trong các cuộc diễu binh ngày 14 tháng 7, Lê dương Pháp luôn là đơn vị bộ binh diễu hành cuối cùng, đơn vị này cũng được phép diễu hành với nhạc hiệu riêng của Lê dương Pháp và không phải tách ra khi đến trước lễ đài của tổng thống, việc này bắt nguồn từ truyền thống là đơn vị không thể bị chia cắt của Lê dương. Nhịp diễu binh của Lê dương Pháp cũng nhanh hơn các đơn vị bình thường với 88 bước/phút, đặc điểm này thừa hưởng từ thói quen của các đơn vị nước ngoài từ thời Đệ nhất đế chế.

Bản hành khúc chính thức của Lê dương Pháp là Le Boudin (sáng tác năm 1870).

Mã danh dự của lính Lê dương (le code d'honneur du légionnaire), viết trong năm 1980 :

1- Lính Lê dương, bạn là một tình nguyện viên phục vụ nước Pháp với trung thành và danh dự

2- Mỗi lính Lê dương là anh trai của bạn trong chiến đấu, bất kể tôn giáo, quốc tịch, chủng tộc nào, bạn luôn luôn đoàn kết chặt chẽ với anh ta như các thành viên của một gia đình

3- Tôn trọng truyền thống, danh dự cấp trên của bạn, đồng chí và kỷ luật là sức mạnh của bạn, can đảm và lòng trung thành là đức tính của bạn

4- Tự hào về tình trạng của bạn, bạn xem ở vị trí của bạn luôn luôn thanh lịch, hành vi của bạn luôn luôn khiêm tốn và các điểm của bạn luôn sạch sẽ

5- Người lính ưu tú, bạn đào tạo nghiêm ngặt, bạn duy trì vũ khí của bạn là tài sản có giá trị nhất của bạn, bạn có sự chăm sóc liên tục về tập thể dục của bạn

6- Nhiệm vụ là thiêng liêng, bạn sẽ để kết thúc nó và nếu cần thiết, trong lúc hoạt động, mạo hiểm cuộc sống của bạn

7- Trong chiến đấu bạn không có niềm đam mê hay thù hận, bạn tôn trọng những kẻ thù bị đánh bại, bạn không bao giờ bỏ cuộc

hoặc bạn chết

hoặc bạn bị thương

hoặc vũ khí của bạn

[sửa] Tài liệu tham khảo

  1. ^ Jean-Denis G. G. Lepage, The French Foreign Legion: An Illustrated History, các trang 57-58.
  2. ^ Jean-Denis G. G. Lepage, The French Foreign Legion: An Illustrated History, các trang 151-153.
  3. ^ Jean-Denis G. G. Lepage, The French Foreign Legion: An Illustrated History, các trang 189-193.

[sửa] Liên kết ngoài

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác