Lý Nhân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lý Nhân
Địa lý
Huyện lỵ Thị trấn Vĩnh Trụ
Vị trí: đông Hà Nam
Diện tích: 167,8 km²
Số xã, thị trấn: 22 xã, 1 thị trấn
Dân số
Số dân: 195.000 người (năm 2009)
Mật độ: người/km²
Thành phần dân tộc: Người Việt
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Lê Công Khoa
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Trần Văn Hạnh
Bí thư Huyện ủy: Nguyễn Văn Hưởng
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở:
Số fax trụ sở:
Website: http://www.hanam.gov.vn


Lý Nhân là một huyện thuộc tỉnh Hà Nam. Lý Nhân nằm ở phía đông tỉnh Hà Nam, trên hữu ngạn sông Hồng. phía bắc giáp với thành phố Hưng Yên (thành phố), phía đông bắc giáp huyện Tiên Lữ (đều thuộc tỉnh Hưng Yên) với sông Hồng là ranh giới tự nhiên. phía tây và tây bắc giáp huyện Duy Tiên, với sông Châu Giang làm đường phân ranh giới. phía tây nam và nam tiếp giáp với huyện Bình Lục (cùng tỉnh) và phía nam giáp với huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định), cũng với sông Châu Giang làm đường phân ranh giới tự nhiên. Ở phía đông, đối diện với các huyện Hưng HàVũ Thư thuộc tỉnh Thái Bình nằm bên tả ngạn sông Hồng.

Lý Nhân là nơi giàu truyền thống văn hóa cũng như lịch sử. Chính tại nơi đây đã phát hiện được trống đồng cổ, còn nguyên vẹn và có nhiều giá trị nghệ thuật nhất [1], thuộc văn hóa Đông Sơn - đó là trống đồng Ngọc Lũ. Được phát hiện ở xã Như Trác năm 1893-1894[2], nhưng được đem tặng cho xã Ngọc Lũ huyện Bình Lục nên có tên là trống đồng Ngọc Lũ, nơi đây cũng là nơi phát hiện cuốn sách đồng cổ nhất Việt Nam, hiện nay nó vẫn đang được lưu giữ ở nơi đã tìm ra nó ở thôn Văn An xã Bắc Lý.[cần dẫn nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sự hình thành và phát triển huyện Lý Nhân

Lý Nhân là vùng đất được hình thành từ rất sớm, ngay từ những buổi đầu dựng nước Văn Lang. Theo các dấu tích lịch sử, các thần tích, ngọc phả…cũng lưu giữ ở các đình đền trong huyện và các truyền thuyết trong dân gian, vào khoảng hơn 2000 năm trước Công nguyên đã có một bộ phận người Việt cổ từ thượng lưu sông Hồng xuôi về hạ lưu, cư trú trên các đồi đất cao ven sông, hình thành các vùng dân cư, trong đó có miền quê Lý Nhân ngày nay.
Dưới thời Văn Lang, Lý Nhân thuộc bộ Giao Chỉ, sau này thuộc huyện Chu Diên, quận Vũ Bình, bộ Giao Chỉ. Thời Lý, Trần thuộc châu Lỵ Nhân, lộ Đông Đô nay thuộc Hà Nội. Thời Lê Sơ, năm Quang Thuận thứ 7 (1466), Lê Thánh Tông chia nước ta thành 12 đạo Thừa Tuyên, Sơn Nam Thượng, đồng thời cho đổi tên huyện Lý Nhân thành huyện Nam Xương (đọc chệch là Nam Xang) cho khỏi trùng với phủ Lỵ Nhân.
Huyện lị trước đây đặt ở Chi Long đến 1829 mới chuyển về Nga Thượng, Nga Khê nay thuộc xã Nguyên Lý.
Năm 1832 huyện Nam Xương và Bình Lục được tách khỏi phủ Lỵ Nhân để thành lập phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nội (tỉnh Hà Nội được thành lập năm 1831). Ngày 21 tháng 3 năm Thành Thái thứ 2 (1890) huyện Nam Xang cùng huyện Bình Lục, Thanh Liêm lập thành phủ Liêm Bình, thuộc tỉnh Nam Định.
Cuối năm 1890, chính quyền thực dân Pháp phân chia lại các đơn vị hành chính, bỏ cấp phủ thành lập các tỉnh mới thì Phủ Lý Nhân được tách khỏi tỉnh Hà Nội và sát nhập thêm mấy tổng của Nam Định, thành lập tỉnh Hà Nam (20/10/1980). Huyện Nam Xang tách khỏi Nam Định trở về với Hà Nam. Ngày 31/3/1923, huyện Nam Xang được lấy tên cũ là Lý Nhân.
Trải qua quá trình phát triển hàng nghìn năm huyện Lý Nhân đã có những đóng góp không nhỏ đến quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1946 – 1954, cùng với cả nước nhân dân huyện Lý Nhân đã tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp giải phóng quê hương góp phần giải phóng đất nước.
Năm 1975- 1985, Đảng bộ huyện Lý Nhân lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ tổ quốc. Tập trung đẩy mạnh sản xuất lúa, rau để có nhiều lương thực đảm bảo yêu cầu cải thiện đời sống nhân dân và đóng góp với nhà nước. Ra sức phát triển mạnh chăn nuôi lợn, cá vịt, trâu, bò nhằm đưa chăn nuôi lên ngành sản xuất chính và phát triển toàn diện. Tích cực sản xuất nhiều hàng tiêu dùng và xuất khẩu, Quyết tâm dẩy mạnh hoàn chỉnh hóa thủy nông tạo điều kiện để cơ giới hóa nông nghiệp và xây dựng cơ bản, phục vụ kịp thời cho sản xuất và đời sống. Thực hiện tốt Tết trồng cây nhớ ơn Bác Hồ, mừng đất nước thống nhất, mừng tỉnh mới Hà Nam Ninh. Tăng cường công tác quốc phòng và trật tự trị an gắn liền với cải thiện đời sống, xây dựng nếp sống văn minh, rèn luyện con người mới xã hội chủ nghĩa.
Năm 1986- 2000, Đảng bộ Lý nhân lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện theo đường lối của Đảng, những thắng lợi quan trọng trên mặt trận sản xuất nông nghiệp và hàng tiêu dùng, đã cải thiện đáng kể đời sống nhân dân và có tác động đến thành phần cơ cấu của nền kinh tế- xã hội, đặt những cơ sở đầu tiên cho sự phát triển mới của cả nước. Lý Nhân coi trọng phát triển lúa và màu nhất là màu lương thực, đồng thời phát triển cây công nghiệp và xuất khẩu, lần đầu tiên Lý Nhân tự túc được lương thực nên có điều kiện phát triển chăn nuôi và mở rộng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, góp phần tháo gỡ khó khăn về hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, bảo đảm ổn định chính trị, ổn định đời sống nhân dân.
Hiện nay huyện Lý Nhân có 22 xã và 01 thị trấn, với 195. 800 nhân khẩu. Là huyện thuần nông, qua nhiều tháng năm lao động vất vả, nhân dân trong huyện đã đóng góp rất nhiều công sức, tiền của để xây dựng các công trình thủy lợi, đê, bối. Hàng trăm km đê bối sông Hồng, sông Châu Giang, sông Long Xuyên, cùng hàng ngàn km mương máng sử dụng tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Trong sản xuất nông nghiệp, cây lúa nước có vị trí đặc biệt quan trọng đến đời sống nhân dân. Từ rất sớm người Lý Nhân đã biết tuyển chọn các loại giống lúa tốt cho năng suất cao phù hợp với vùng đất quê mình như: nếp Cái Hoa Vàng ở Mạc Thượng, Tả Hà, nếp Quýt ở Phú Đa, Tám thơm nổi tiếng. Ở chân ruộng cao có giống lúa Lốc gieo xạ trên cạn, ở ruộng chân trũng thường cấy lúa Rong gạo đỏ, cứng cây chịu ngập, chịu rét, ít sâu bệnh, năng suất lại ổn định rất thích hợp với khu vực đồng chiêm trũng.
Trong vườn nhà, trên đất bãi nhân dân đã lựa chọn trồng những giống cây ăn quả quý có giá trị kinh tế như: Cam chanh, quýt cơm ở xã Văn Lý, Tảo Môn, Hồng Nhân Hậu ở xã Nhân Hậu, chuối tiêu Hồng, chuối ngự Đại Hoàng…
Nhân dân Lý Nhân sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, ngoài ra còn có một số người làm nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Nhiều nghề thủ công truyền thống từ lâu đã phát triển trên mảnh đất này. Nghề mộc với nhiều sản phẩm độc đáo như: Giường, tủ, bàn ghế…phục vụ nhu cầu đời sống của người dân, đặc biệt nhiều công trình kiến trúc khắc từ gỗ vô cùng khéo léo và độc đáo mang bản sắc dân tộc như: đình Văn Xá (Đức Lý), Kiệu Lồng (đình Thọ Chương) nhiều đền chùa, đình đài khác cho đến nay vẫn còn tồn tại. Ngoài ra còn có nghề lụa ở Nga Khê, dệt vải ở Đại Hoàng, nghề nuôi tằm lấy tơ ở Văn Lý, nổi tiếng khắp nơi. Một số mặt hàng đã có mặt ở các tỉnh Nam Bộ.
Không thể không kể đến nghề mây tre đan cũng có từ rất sớm và khá phổ biến ở Lý Nhân đã tạo ra sản phẩm vừa bền vừa đẹp như thúng Quang Ốc, gầu giai chợ Cầu, rổ, rá ở Mạc Thượng, cót ở Vũ Xá (Đạo Lý)…từ cây mây, lũy tre gắn bó với làng quê, người Lý Nhân đã tạo ra nhiều sản phẩm có ích như cây chông, cánh ná, mũi tên giết giặc, đến các đồ gia dụng phục vụ đời sống.
Bên cạnh đó còn có nghề làm bánh ở Tống Ngu Nhuế, tổng Vũ Điện có nghề thêu, nghề dệt, tổng Thổ Ốc có nghề làm may, làm gạch, thợ mộc. Ở các khu vực ven sông Hồng có nghề đánh cá, nuôi cá. Tính chung Lý Nhân có tới hơn 20 ngành nghề thủ công cổ truyền, các nghề thủ công cùng với nghề nông nghiệp trồng lúa trồng màu tạo nên nguồn sống cho nhân dân trong toàn huyện, ngoài những lúc làm đồng ruộng lúc mùa màng thì tất cả người dân đều có thể làm thêm các nghề thủ công phụ để phục vụ nhu cầu sử dụng trong gia đình hoặc bán sản phẩm cải thiện đời sống.

Năm 1972, hợp nhất xã Hồng Lý và xã Chân Lý thành một xã lấy tên là xã Chân Hồng; giải thể xã Nhân Long và sáp nhập thôn Do Đạo của xã Nhân Long vào xã Nhân Thịnh, sáp nhập thôn Thanh Nga của xã Nhân Long vào xã Nhân Phúc.

Năm 1977, hợp nhất xã Chính Lý và xã Hùng Lý thành một xã lấy tên là xã Chính Lý; hợp nhất xã Nguyên Lý và xã Hòa Lý thành một xã lấy tên là xã Nguyên Lý; hợp nhất xã Tân Lý và xã Chân Hồng thành một xã lấy tên là xã Chân Lý; hợp nhất xã Nhân Hòa và xã Nhân hậu thành một xã lấy tên là xã Hòa Hậu.

Tháng 2-1978, hợp nhất xã Nhân Tiến và xã Nhân Thắng thành một xã lấy tên là xã Tiến Thắng.

Tháng 3-1978, hợp nhất xã Nhân Phú và xã Nhân Phúc thành một xã lấy tên là xã Phú Phúc; hợp nhất xã Bảo Lý và xã Chung Lý thành một xã lấy tên là xã Bắc Lý.

Năm 1987, thành lập thị trấn Vĩnh Trụ - thị trấn huyện lỵ huyện Lý Nhân - trên cơ sở 175,84 ha diện tích tự nhiên và 3.518 nhân khẩu của xã Đồng Lý và 3,15 ha diện tích tự nhiên của xã Đức Lý.

Lễ hội đền Trần Thương
Đền Trần Thương thuộc thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, Hà Nam.
Cũng như những nơi thờ Hưng Đạo Đại Vương khác, đền Trần Thương tổ chức lễ hội tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc này vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm. Dân gian có câu: Tháng Tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ là để nói về hai lễ hội lớn về hai vị thánh: Đức thánh Trần (Trần Hưng Đạo), Đức thánh Mẫu (Liễu Hạnh).
Lễ hội theo quy định được tổ chức 3 ngày nhưng trên thực tế có thể dài hơn bởi vì số lượng người về lễ đăng ký dự tế khá đông nên cần thêm ngày để bố trí cho các đội tế. Mỗi ngày có 4 đến 5 đám tế, từ rằm tháng 8 đã có đoàn đến tế ở đền.
Vào ngày chính hội, phần lễ có rước kiệu, dâng hương, tế lễ, phần hội có các trò đánh cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều, tổ tôm điếm… Thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất là tục thi đấu cờ tướng. Tục này diễn ra trước các trò hội. Khi tiếng trống nổi lên báo hiệu cuộc chơi thì các đấu thủ cùng dân làng đến sân đền tham dự. Làng chọn các lão làng, các chức sắc có gia phong tốt vào khai cuộc, trong đó, người cao tuổi nhất được làm chủ tế. Chủ tế làm lề cáo yết Đức Thánh Trần rồi rước bàn cờ từ hậu cung quay ra, đến trước hương án nâng bàn cờ lên vái ba vái. Sau đó, cuộc chơi bắt đầu. Hai đấu thủ mang y phục truyền thống của các tướng lĩnh đời Trần mang thanh long đao vào cuộc. Sau một tuần hương, ai thắng, người đó đoạt giải. Vãn cuộc, quân cờ cùng bàn cờ được rửa bằng nước giếng của đền và nước ngũ quả, lau chùi cẩn thận rồi đặt lên hương án. Tục chơi cờ nhằm tưởng nhớ tài thao lược quân sự của Hưng Đạo Đại Vương, rèn luyện trí tuệ, nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của ông cha ta.

Hồ trước đền Trần Thương Lễ hội đền Trần Thương là một trong ba lễ hội vùng của tỉnh Hà Nam. Lễ hội này có ý nghĩa là một cuộc hành hương về cội nguồn không chỉ đối với người dân địa phương mà đối với người dân cả nước.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Nhân bao gồm thị trấn Vĩnh Trụ và 22 xã:

  1. Xuân Khê
  2. Hợp Lý
  3. Chính Lý, bao gồm xã Hùng Lý cũ
  4. Nguyên Lý
  5. Văn Lý
  6. Công Lý
  7. Đạo Lý
  8. Bắc Lý
  9. Chân Lý
  10. Đức Lý
  11. Đồng Lý
  12. Nhân Khang
  13. Nhân Chính
  14. Nhân Đạo
  15. Nhân Thịnh
  16. Nhân Hưng
  17. Nhân Nghĩa
  18. Nhân Bình
  19. Nhân Mỹ
  20. Tiến Thắng
  21. Hoà Hậu
  22. Phú Phúc

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Các đời chủ tịch huyện[sửa | sửa mã nguồn]

Cụ Trần Hữu Tuynh sinh năm 1914, quê xã Nhân Hòa, nay là Xã Hòa Hậu-Huyện Lý Nhân. Cụ là 1 chiến sĩ cách mạng ưu tú,cụ là một người học rộng,thông thạo nhiều ngoại ngữ.Tổng thời gian cụ giữ chức chủ tịch và phó chủ tịch lên đến gần 40 năm.Cụ mất năm 1995 khi đang phát biểu tại một cuộc họp ở huyện,các bác sĩ chẩn đóa cụ bị đứt mạch máu não.

Di tích[sửa | sửa mã nguồn]

Đình Văn Xá thuộc thôn Văn Xá, xã Đức Lý là ngôi đình có niên đại sớm nhất ở Hà Nam còn lại đến nay[3].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]



Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp huyện thị trực thuộc tỉnh Hà Nam, Việt Nam
Thành phố (1): Phủ Lý (tỉnh lị)
Huyện (5): Bình Lục | Duy Tiên | Kim Bảng | Lý Nhân | Thanh Liêm