Lý Nhân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Lý Nhân Tông
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Khong hinh tu do.svg
Vua nhà Lý
Trị vì 1072 - 1127
Tiền nhiệm Lý Thánh Tông
Nhiếp chính Ỷ Lan
Kế nhiệm Lý Thần Tông
Vợ 3 hoàng hậu (Lan Anh, Khâm Thiên, Chấn Bảo)
và 36 cung nhân
Tên húy
Lý Càn Đức
Thụy hiệu Hiếu từ Thánh thần Văn vũ Hoàng đế
Miếu hiệu Nhân Tông
Triều đại Nhà Lý
Thân phụ Lý Thánh Tông
Thân mẫu Linh Nhân thái hậu Ỷ Lan
Sinh 1066
Mất 1127
An táng Thiên Đức Lăng

Lý Nhân Tông (chữ Hán: 李仁宗; 10661127), là vị vua thứ tư của triều Lý. Tên thật của ông là Lý Càn Đức (李乾德). Ông nổi tiếng là một minh quân trong lịch sử Việt Nam, là người đặt nền móng xây nền giáo dục đại học Việt Nam.

Trong thời gian trị vì, ông cùng với mẹ là nhiếp chính Ỷ Lan và thái úy Lý Thường Kiệt hai lần đánh bại quân Tống.

Mục lục

[sửa] Tiểu sử

Lý Càn Đức là con trưởng của vua Lý Thánh TôngNguyên phi Ỷ Lan. Ông được lập làm thái tử khi còn nhỏ. Thánh Tông mất, Càn Đức mới 7 tuổi lên nối ngôi, tức là vua Lý Nhân Tông.

Vua Nhân Tông còn nhỏ, nhờ vào Thái phi Ỷ Lan làm nhiếp chính, lại thêm sự phò tá của Thái sư Lý Đạo Thành và Phụ quốc thái úy Lý Thường Kiệt, những nhân vật lịch sử tên tuổi không chỉ của triều Lý mà cả trong lịch sử Việt Nam, nên nước Đại Việt trở nên hùng mạnh.

Ông làm vua đến năm Đinh Mùi (1127) thì mất, trị vì được 56 năm, hưởng thọ 63 tuổi. Lý Nhân Tông là một trong các vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử Việt Nam.

[sửa] Đối nội

Vua Nhân Tông cho đắp đê Cơ Xá, khởi đầu cho việc đắp đê ngăn ở Việt Nam, nhằm giữ cho kinh thành khỏi ngập lụt.

Năm Ất Mão (1075), vua mở khoa thi tam trường, còn gọi là Minh kinh bác học để chọn người có tài văn học vào làm quan. Khoa thi ấy là khoa thi đầu tiên ở Đại Việt và chọn 10 người, thủ khoaLê Văn Thịnh. Thịnh làm đến chức thái sư (tể tướng), tỏ rõ là người có tài năng xuất chúng. Về sau, vua nghi ngờ Lê Văn Thịnh làm phản, nên Thịnh bị đày lên Thao Giang (Tam Nông, Vĩnh Phú) và đã chết tại đó.

Năm Bính Thìn (1076), vua cho lập Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên ở Đại Việt, chọn những nhà khoa bảng tài giỏi vào dạy. Đến năm Bính Dần (1086), mở khoa thi chọn người có tài văn học vào Hàn lâm viện. Khoa ấy có Mạc Hiển Tích đỗ đầu, được bổ nhiệm làm Hàn lâm học sĩ.

Năm Kỷ Tị (1086), vua Nhân Tông định quan chế, chia văn võ bá quan làm 9 phẩm. Quan đại thần có thái sư, thái phó, thái uýthiếu sư, thiếu uý. Ở dưới những bậc ấy, về văn ban có thượng thư, tả hữu tham tri, tả hữu gián nghị đại phu, trung thư thị lang, bộ thị lang. Về võ ban có đô thống, nguyên suý, tổng quản khu mật sứ, khu mật tả hữu sứ, kim ngô thượng tướng, đại tướng, đô tướng, chư vệ tướng quân v.v...

Ở các châu quận, văn thì có tri phủ, tri châu; võ thì có chư lộ trấn, lộ quan.

[sửa] Chống quân Tống xâm lược

Năm Bính Thìn (1076), nhà Tống cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại binh sang xâm lược Đại Việt. Quân đội nhà Lý dưới sự chỉ huy của Phụ quốc thái úy Lý Thường Kiệt đã đánh bại được đội quân nhà Tống tại trận tuyến trên sông Như Nguyệt.

[sửa] Nhận định

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có nhận xét về Lý Nhân Tông:[1]

Vua trán dô mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo, thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, mình được thái bình, là vua giỏi của triều Lý. Tiếc rằng mộ đạo Phật, thích điềm lành, đó là điều lụy cho đức tốt.

Lý Nhân Tông cũng là một vị vua khổ luyện, phấn đấu đạt đến độ “học thức cao minh, hiểu sao đạo lý” (Phan Huy Chú). Chính vì vậy, đánh giá tổng quát về ông, các sử gia từ Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên đến Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn v.v... đều xem ông là “vị vua giỏi”, “vị anh quân” của vương triều Lý.

[sửa] Xem thêm

[sửa] Chú thích

  1. ^ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản kỷ, Quyển III: Thánh Tông, Nhân Tông, Thần Tông

[sửa] Liên kết ngoài

Ngôn ngữ khác