Lý Nhân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lý Nhân Tông
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Lý Nhân Tông.JPG
Tượng Lý Nhân Tông tại Văn miếu-Quốc tử giám
Vua nhà Lý
Trị vì 1072 - 1127
Tiền nhiệm Lý Thánh Tông
Nhiếp chính Ỷ Lan
Kế nhiệm Lý Thần Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Lan Anh hoàng hậu
Khâm Thiên hoàng hậu
Chấn Bảo hoàng hậu
Chiêu Thánh hoàng hậu
Không xác định...
Tên húy Lý Càn Đức
Niên hiệu Xem văn bản
Thụy hiệu Hiếu Từ Thánh Thần Văn Vũ hoàng đế
孝慈聖神文武皇帝
Miếu hiệu Nhân Tông
Triều đại Nhà Lý
Thân phụ Lý Thánh Tông
Thân mẫu Linh Nhân hoàng hậu
Sinh 22 tháng 2, 1066
Mất 15 tháng 1, 1128 (61 tuổi)
An táng Thiên Đức Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Lý Nhân Tông (chữ Hán: 李仁宗; 22 tháng 2, 106615 tháng 1, 1127), là vị hoàng đế thứ 4 của triều Lý. Tên húy (thật) của ông là Lý Càn Đức (李乾德). Ông nổi tiếng là một minh quân trong lịch sử Việt Nam, là người đặt nền móng xây nền giáo dục đại học Việt Nam, cũng như sự thịnh trị lâu dài của triều Lý.

Trong thời gian trị vì, ông cùng với mẹ là Linh Nhân hoàng thái hậu và thái úy Lý Thường Kiệt hai lần đánh bại quân Tống.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Càn Đức là con trưởng của vua Lý Thánh Tông và Nguyên phi Ỷ Lan. Ông sinh ngày 25 tháng Giêng năm Bính Ngọ (tức 22 tháng 2 năm 1066) tại kinh đô Thăng Long, Hà Nội. Ngay hôm sau, ông được vua cha Lý Thánh Tông lập làm thái tử.

Năm 1072, Thánh Tông mất, Càn Đức mới 7 tuổi lên nối ngôi, tức là vua Lý Nhân Tông.

Vua Nhân Tông còn nhỏ, nhờ vào Thái phi Ỷ Lan làm nhiếp chính, lại thêm sự phò tá của Thái sư Lý Đạo Thành và Phụ quốc thái úy Lý Thường Kiệt, những nhân vật lịch sử tên tuổi không chỉ của triều Lý mà cả trong lịch sử Việt Nam, nên nước Đại Việt trở nên hùng mạnh.

Ông làm vua đến năm Đinh Mùi (1127) thì mất, trị vì được 55 năm, hưởng thọ 62 tuổi. Lý Nhân Tông là vị vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử Việt Nam.

Chiến tranh chống Tống[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Nhân Tông lên ngôi, nhà Tống muốn nhân lúc vua Lý còn nhỏ để mang quân đánh chiếm. Nhờ vào khả năng quân sự của Lý Thường Kiệt, nước Đại Việt đã đứng vững trong cuộc chiến với Bắc Tống.

Năm 1075, ngay khi nhà Tống đang tập kết lực lượng ở Ung châu chuẩn bị tiến sang, Lý Thường Kiệt chủ động mang quân đánh sang đất Tống trước. Sang đầu năm 1076, quân Lý hạ thành Ung châu.

Năm Bính Thìn (1076), nhà Tống cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại binh sang xâm lược Đại Việt. Quân đội nhà Lý dưới sự chỉ huy của Phụ quốc thái úy Lý Thường Kiệt đã đánh bại được đội quân nhà Tống tại trận tuyến trên sông Như Nguyệt. Năm 1077, Quách Quỳ chấp nhận cho Đại Việt giảng hòa và rút quân trở về.

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Nhân Tông rất quan tâm đến nông nghiệp. Ông cho đắp đê chống lũ lụt, nổi tiếng nhất là đê Cơ Xá, khởi đầu cho việc đắp đê ngăn ở Việt Nam, nhằm giữ cho kinh thành khỏi ngập lụt.

Năm 1117, Nhân Tông còn ra quy định cấm giết trâu bò bừa bãi: ai mổ trộm trâu bị phạt 80 trượng và tội đồ làm người hầu trong quân đội; người giết trâu và ăn trộm trâu đều phải bồi thường; hàng xóm biết mà không tố cáo cũng bị phạt 80 trượng[1].

Khoa cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ất Mão (1075), vua mở khoa thi tam trường, còn gọi là Minh kinh bác học để chọn người có tài văn học vào làm quan. Khoa thi ấy là khoa thi đầu tiên ở Đại Việt và chọn 10 người, thủ khoaLê Văn Thịnh. Thịnh làm đến chức thái sư (tể tướng), tỏ rõ là người có tài năng xuất chúng. Về sau, vua nghi ngờ Lê Văn Thịnh làm phản, nên đày lên Thao Giang (Tam Nông, Vĩnh Phú) đến hết đời.

Năm Bính Thìn (1076), vua cho lập Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên ở Đại Việt, chọn những nhà khoa bảng tài giỏi vào dạy. Đến năm Bính Dần (1086), mở khoa thi chọn người có tài văn học vào Hàn lâm viện. Khoa ấy có Mạc Hiển Tích đỗ đầu, được bổ nhiệm làm Hàn lâm học sĩ.

Quan chế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bính Dần (1086), vua Nhân Tông định quan chế, chia văn võ bá quan làm 9 phẩm. Quan đại thần có thái sư, thái phó, thái uýthiếu sư, thiếu uý. Ở dưới những bậc ấy, về văn ban có thượng thư, tả hữu tham tri, tả hữu gián nghị đại phu, trung thư thị lang, bộ thị lang. Về võ ban có đô thống, nguyên suý, tổng quản khu mật sứ, khu mật tả hữu sứ, kim ngô thượng tướng, đại tướng, đô tướng, chư vệ tướng quân v.v...

Ở các châu quận, văn thì có tri phủ, tri châu; võ thì có chư lộ trấn, lộ quan.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng Chạp năm Đinh Mùi, Lý Nhân Tông ốm nặng. Ông gọi các đại thần Lưu Khánh Đàm và Lê Bá Ngọc vào giao việc giúp thái tử Dương Hoán. Về việc tang lễ, ông dặn:

"Việc tang thì chỉ 3 ngày bỏ áo trở, nên thôi thương khóc; việc chôn thì nên theo Hán Văn Đế, cốt phải kiệm ước, không xây lăng mộ riêng, nên để ta hầu bên cạnh tiên đế"[2]

Trong thời gian cầm quyền, ông đã đặt 8 niên hiệu:

  • Thái Ninh (太寧 1072 - 1076)
  • Anh Vũ Chiêu Thắng (英武昭勝 1076 - 1084)
  • Quảng Hựu (廣祐 1085 - 1092)
  • Hội Phong (會豐 1092 - 1100)
  • Long Phù (龍符 1101 - 1109)
  • Hội Tường Đại Khánh (會祥大慶 1110 - 1119)
  • Thiên Phù Duệ Vũ (天符睿武 1120 - 1126)
  • Thiên Phù Khánh Thọ (天符慶壽 1127 - 1127)

Ngày Đinh Mão (tức 15 tháng 1 năm 1128), ông mất ở điện Vĩnh Quang, ở ngôi 56 năm, thọ 63 tuổi. Thái tử Lý Dương Hoán - con của Sùng Hiền hầu và là cháu gọi Nhân Tông bằng bác - lên nối ngôi, tức là Lý Thần Tông.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của vua Lý Nhân Tông hiện chỉ còn ba bài thơ, một vài bức thư gửi triều đình nhà Tống, bốn bài hịchchiếu. Tất cả đều viết bằng chữ Hán.

  • Ba bài thơ tứ tuyệt đều thuộc loại thơ thù tặng, gồm: "Truy tán Vạn Hạnh Thiền sư" (Truy khen Thiền sư Vạn Hạnh), "Tán Giác Hải Thiền sư, Thông Huyền Đạo nhân" (Khen Thiền sư Giác Hải và Đạo sĩ Thông Huyền), "Truy tán Sùng Phạm Thiền sư" (Truy khen Thiền sư Sùng Phạm).
  • Bức thư có giá trị nhất có tên là "Thỉnh hoàn Vật Dương, Vật Ác nhị động biểu". Đây là bức thư gửi cho vua Tống, nhân hội nghị Vĩnh Bình giữa hai nước, nhằm đòi lại hai động là Vật Dương và Vật Ác. Lời lẽ trong thư mềm mỏng, khiêm nhượng, nhưng vẫn khôn khéo vạch được mưu mô chiếm đất và sự dối trá của nhà Tống.
  • Bài chiếu có nhiều nét ý vị là bài "Lâm chung di chiếu" (Chiếu để lại lúc mất). Đây là bài văn biểu lộ rõ phong cách của người viết, đã hé mở cho thấy một tấm lòng nhân hậu, cao cả, không muốn lạm dụng địa vị cao sang để phiều nhiễu dân; chỉ muốn trước sau lúc nào cũng giữ được ý nguyện "trăm họ được yên", "bốn bể yên vui, biên thùy ít loạn"[3].

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có nhận xét về Lý Nhân Tông:[4]

"Vua trán dô mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo, thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, mình được thái bình, là vua giỏi của triều Lý. Tiếc rằng mộ đạo Phật, thích điềm lành, đó là điều lụy cho đức tốt."

Lý Nhân Tông cũng là một vị vua khổ luyện, phấn đấu đạt đến độ "học thức cao minh, hiểu sao đạo lý" (Phan Huy Chú). Chính vì vậy, đánh giá tổng quát về ông, các sử gia từ Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên đến Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn v.v... đều xem ông là "vị vua giỏi", "vị anh quân" của vương triều Lý[5].

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Lan Anh hoàng hậu (蘭英皇后).
  2. Khâm Thiên hoàng hậu (欽天皇后).
  3. Chấn Bảo hoàng hậu (震寶皇后).
  4. Thánh Cực hoàng hậu (聖極皇后, ? - 1095).
  5. Chiêu Thánh hoàng hậu (昭聖皇后. ? - 1108).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Vũ Ngọc Khánh, sách đã dẫn, tr 73
  2. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 3
  3. ^ Lược theo GS. Nguyễn Huệ Chi, mục từ "Lý Càn Đức" in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nxb Thế giới, 2004, tr. 910-911.
  4. ^ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản kỷ, Quyển III: Thánh Tông, Nhân Tông, Thần Tông
  5. ^ Vũ Ngọc Khánh, sách đã dẫn, tr 69.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]