Lý Tòng Bá

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lý Tòng Bá
200px
Tiểu sử
Sinh


Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Việt Nam Cộng hòa Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1951-1975
Cấp bậc Chuẩn tướng
Chỉ huy Chỉ huy Binh chủng thiết giáp
Tham chiến Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam

Lý Tòng Bá (1931) là môt Tướng lĩnh trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Xuất thân từ một Trường Võ Bị thời Quân đội Quốc gia. sau khi tốt nghiệp ông được chọn vào Binh chủng Thiết Giáp (TG) và ông đã phục vụ ở Binh chủng này hầu hết thời gian tại ngũ. Xen vào đó, ông đã từng làm Tiểu khu trưởng, rồi Tư lệnh Sư đoàn Bộ binh. Ông có gần 25 năm thâm niên quân vụ.

Tiểu sử & gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 14-11-1931 tại Làng Bình Đức, Tỉnh Long Xuyên, miền Nam VN, thuộc quê ngoại (quê nội: Quận Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng).

  • -Học sinh Trường Tiểu học Long Xuyên và Trung học tại Trường Collège de Can Tho (sau cải danh thành Trường Trung học Phan Thanh Giản) (1937-1947). Tốt nghiệp bằng Thành chung.
  • -Theo học Trường Thiếu sinh quân Đông dương ở Cap Saint Jacques, Vũng Tàu (1948-1950). Tốt nghiệp Tú tài phần 1.
  • Phu nhân: Bà Chung Bạch Vân. Ông bà có 3 người con: 2 trai, một gái.

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1951: Nhập ngũ vào Quân Đội Quốc Gia (QĐQG), mang số quân: 51/121.307. Theo học khoá 6 Đinh Bộ Lĩnh Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (khai giảng: 1-12-1951, mãn khoá: 1-10-1952). tốt nghiệp Thủ khoa với cấp bậc Thiếu uý. Ngay sau đó tình nguyện vào Binh chủng Thiết giáp (TG), Theo học khoá căn bản TG tại Trung tâm Huấn luyện TG Viễn đông của Quân Đội Pháp ở Cap Saint Jacques từ 1-10-1952 đến 1-4-1953.

  • Cùng theo học khoá này còn có các tân Thiếu uý, sau này lên Tướng, Tá sau đây:
  • Hoàng Xuân Lãm. Nguyễn Văn Toàn. Phan Hoà Hiệp. Trần Quang Khôi.
  • Nguyễn Văn Tồn (sinh 1923 tại tỉnh Tam Cần (Thành lập tạm thời tách một số quận thuộc các tỉnh: Vĩnh Long, Cần Thơ và Trà Vinh, sau giải thể, nhập vào lại các tỉnh mà trước đó đã tách ra), tốt nghiệp khoá 3 VBLQĐL, sau là Đại Tá, từ trần trong trại tù cải tạo 1977).
  • Nhan Nhật Chương (sau là Đại Tá Tỉnh trưởng & Tiểu khu trưởng An Xuyên (Cà Mau), sau 1975 định cư tại California, Hoa Kỳ).

Năm 1953: Ra trường, giữ chức Trung đội trưởng Trung đội Thám thính M8 thuộc Tiểu đoàn 7 Thám thính ở Hà Đông, Bắc Việt.

Năn 1954: Thăng Trung uý, làm Sĩ quan tuỳ viên của Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Mưu Trưởng QĐQG.

Quân Đội VNCH[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955: Học khoá cao cấp TG tại Trường TG Kỵ binh Saumur ở Pháp, mãn khoá (1956), trở về nước.

  • Cùng du học khoá cao cấp TG còn có các Sĩ quan sau này lên Tướng, Tá sau đây:
  • Các Đại uý: Nguyễn Duy Hinh, Lê Đức Đạt.
  • Các Trung uý: Phan Hoà Hiệp, Trần Quang Khôi.
  • Trung uý Thẩm Nghĩa Bôi (sinh 1923 tại Hà Nội, tốt nghiệp khoá 5 VBLQĐL, sau cùng là Đại tá Chỉ huy Phó Bộ Chỉ huy BCH) TG. Sau 30-4-1975, tù cải tạo từ 1975-1988, từ trần tại SG 11-4-2005).

Năm 1956: Chi đoàn trưởng (CĐT) Chi đoàn (CĐ) Chiến xa (CX) M8 (sau đổi thành CĐ CX M.24) thuộc Trung đoàn (TRĐ) 1 TG ở Gò Vấp, Gia Định do Thiếu tá Hoàng Xuân Lãm làm Trung đoàn trưởng (TRĐT).

Năm 1958: Thăng Đại uý. Cuối năm, bàn giao chức vụ CĐT CĐ 1 CX M24 lại cho Đại uý Kha Vãng Huy để đi du học khoá căn bản và Cơ khí TG tại Trường TG Lục quân Fort Knox, Kentucky, Hoa Kỳ.

Năm 1959: Mãn khoá về phục vụ tại Ban Tu thư, rồi giữ chức SQ phụ tá tiếp vận của BCH TG tại Trại Trần Hưng Đạo, Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM).

Năm 1960: Chỉ huy Phó Trường huấn luyện TG ở Thủ Đức, do Thiếu tá Vĩnh Lộc làm CHT. Giữa năm, đi làm Phó Tỉnh trưởng Nội An kiêm CHT (sau gọi là Tiểu khu trưởng) cơ quan Quân sự Tỉnh Phước Long. Cuối năm, được Thiếu tá Đỗ Văn Diễn (tốt nghiệp khoá 5 VBLQĐL, sau giải ngũ ở cấp Đại tá). Tỉnh trưởng Phước Long, trả ông trở lại Quân đội, vì bị nghi ngờ ủng hộ cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960 do Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu. Sau đó làm CH Phó Trung tâm Huấn luyện Cơ giới Bảo an ở Vũng Tàu do Thiếu tá Lê Đức Đạt làm CHT.

Năm 1961: Đại đội trưởng đại đội 7 Cơ giới M113 tân lập thuộc Sư đoàn (SĐ) 7 Bộ Binh (BB) ở Mỹ Tho (năm 1962 Đơn vị này cải danh thành CĐ 4 Thiết vận xa (TVX) M113 thuộc TRĐ 2 TG ở Mỹ tho. Cuối năm thăng Thiếu tá đặc cách, được cử giữ chức TRĐT TRĐ 2 TG thay thế Trung tá Lâm Quang Thơ. Năm 1963: làm Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 6 TVX tân lập tại Mỹ Tho.

Năm 1964: Thăng Trung Tá, Tháng 9 tham gia cuộc biểu dương lực lượng (thật ra là đảo chính) do Trung Tướng Dương Văn Đức cầm đầu. Sau đó bị bắt và bị giam giữ tại Quân Lao Gò vấp, sau cùng là trại giam Chí hoà. Tháng 10, sau khi bị đưa ra Toà án binh và Hội đồng Kỷ luật, ông được tha bổng và tháng 11, làm TRĐT TRĐ 1 TG ở Gò Vấp thay thế Thiếu tá Huỳnh Ngọc Diệp B (sinh: 1930 tại Gia Định, tốt nghiệp khoá 1 SQTBTĐ, sau cùng là Đại Tá Đổng Lý Văn Phòng Bộ Nội Vụ).

Năm 1965: Bàn giao chức TRĐT TRĐ 1 TG lại cho Trung Tá Huỳnh Ngọc Diệp A (sinh 1928 tại Long An, tốt nghiệp khóa 3 SQTBTĐ, sau cùng là Đại Tá Tỉnh Trưởng Phong Dinh). Tháng 10, Làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bình Dương và sau đó được đặc cách thăng cấp Đại Tá.

Năm 1968: Tháng 4, Chánh sở Thanh Tra Tổng Nha Thanh Tra QL VNCH. Năm 1971: Tư lệnh phó Quân Đoàn II Đặc trách Chương trình Bình định & Phát triển của Quân khu 2 tại Nha Trang.

Năm 1972: Đầu năm, Tư lệnh SĐ 23 BB thay thế Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh đi làm CHT Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Lam Sơn. Tháng 5, Vinh thăng Chuẩn Tướng đăc cách tại mặt trận do chiến tích của SĐ 23 đã lập được tại chiến trường Kontum trong "Mùa Hè Đỏ Lửa". Tháng 10, bàn giao chức TL SĐ 23 lại cho Đại Tá Trần Văn Cẩm (nguyên TMT QĐ II). Cùng ngày đi nhận chức CHT BCH TG tại Trại Phù Đổng, Gò Vấp thay thế Đại Tá Phan Hoà Hiệp. Năm 1973: Sĩ quan Tuỳ viên TT Thiệu công du thăm viếng các Quốc gia Hoa Kỳ, Ý, Anh, Trung Hoa Quốc Gia và Đại Hàn trong vòng thời gian 2 tuần lễ.

Năm 1974: Bàn giao chức CHT BCH TG lại cho Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, đảm nhận chức TL SĐ 25 BB (bản doanh đặt tại Căn cứ Đồng Dù thuộc Tỉnh Hậu Nghĩa), thay thế Đại Tá Nguyễn Hữu Toán đi làm CHT Trung tâm Huấn luyện QG Lam Sơn.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sáng ngày 30-4, bị bắt tại Làng Tân Thạnh Đông, Quận Củ Chi, Tỉnh Hậu Nghĩa và ở tù cải tạo qua các trại giam:

  • Trại Quang Trung (tháng 5-1975).
  • Trại Yên Bái, Hoàng Liên Sơn (tháng 6-1976).
  • Trại Hà Tây (tháng 4-1978).
  • Trại Nam Hà, Hà nam Ninh (tháng 3-1982), cho đến tháng 3-1988 được trả tự do.
  • Năm 1990: Được phép xuất cảnh theo chương trình H.O. Đến phi trường Los Algeles ngày 27-1. Sau đó xum họp với gia đình tại Las Vegas, Nevada, Hoa Kỳ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lược sử QL VNCH, Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân (2011).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]