Lăng tẩm Huế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lăng tẩm Huế gồm những nơi dùng để an táng các vị vua, chúa của những triều đại đã chọn Huế làm trung tâm quyền lực.

Một phần nội thất Lăng Khải Định

Lăng của các chúa Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm 9 khu lăng mộ: lăng Trường Cơ (chúa Nguyễn Hoàng), lăng Trường Diễn (chúa Nguyễn Phúc Nguyên), lăng Trường Diên (chúa Nguyễn Phúc Lan); Lăng Trường Hưng (chúa Nguyễn Phúc Tần); lăng Trường Mậu (chúa Nguyễn Phúc Thái); Lăng Trường Sanh (chúa Nguyễn Phúc Chu) ; lăng Trường Phong (chúa Nguyễn Phúc Thụ); lăng Trường Thái (chúa Nguyễn Phúc Khoát); lăng Trường Thiệu (chúa Nguyễn Phúc Thuần) đặt ở các thôn phía tây Huế dọc hai bờ sông Hương.[1] Bên cạnh các lăng của mỗi chúa là lăng của các phi (vợ) của các ông, lăng của các bà phi có khoảng 11 lăng.[1] Các lăng đều được xây dựng theo kiểu kiến trúc đơn giản bằng đá Bazan, gạch vồ gồm hai vòng trong ngoài. Trước mộ có hương án, đằng sau mộ có bình phong, trang trí rồng phượng, ghép nổi mảnh vôi vữa hoặc sành sứ.[2]

Thời Tây Sơn các khu lăng tẩm này đã bị tàn phá khá nhiều[2], chỉ còn lại một công trình còn tương đối nguyên hình dạng là lăng mộ bà Chiêu Nghi Trần Thị Xạ.[2]

Lăng mộ ở thời Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Tây Sơn trong thời gian tồn tại ngắn ngủi của mình cũng chọn Huế làm kinh đô và đã có một số lăng tẩm của họ tại Huế. Trong số các lăng có lẽ đáng chú ý nhất là lăng mộ vua Quang Trung; vì bị triều Nguyễn tàn phá[3] nên hiện nay vị trí của lăng mộ này là không xác định được, chỉ có một số giả thuyết nó nằm đâu đó ở một cung điện tên là cung Đan Dương[4], phủ Dương Xuân[4], lăng Ba Vành[3] hoặc núi Khuân Sơn[5] ở Thừa Thiên Huế.

Lăng mộ thời nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Các vua triều Nguyễn đều xây dựng lăng mộ cho mình ngay khi còn sống vì quan điểm sống gởi thác của nhà Nho và triết lý sắc không vô thưởng của nhà Phật.[6] Các khu lăng mộ xây sẵn có hai chức năng: là nơi khi thỉnh thoảng còn sống các vua lui tới để vui chơi và nơi chôn cất khi họ mất.[6] Tất cả các lăng điều được xây dựng, quy hoạch theo đúng triết lý Phong Thủy phương Đông: bất cứ lăng nào cũng tuân thủ các nguyên tắc sơn triều thủy tụ, tiền án hậu chẩm, tả long hữu hổ... đã làm cho các lăng này có được những kiến trúc rất đẹp và thơ mộng.[6][7] Tuy triều Nguyễn có 13 vua, nhưng vì nhiều lý do kinh tế chính trị chỉ 7 lăng được xây dựng.[7]

Lăng Gia Long[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lăng Gia Long

Lăng Gia Long còn gọi là Thiên Thọ Lăng bắt đầu được xây dựng từ năm 1814 và đến năm 1820 mới hoàn tất. Lăng thực ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng quyến. Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi, núi lớn nhỏ, trong đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và là tên gọi của cả quần sơn này.

Lăng Minh Mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lăng Minh Mạng

Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng do vua Thiệu Trị cho xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 để chôn cất vua cha Minh Mạng. Lăng nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km.

Lăng Thiệu Trị[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lăng Thiệu Trị

Lăng Thiệu Trị còn gọi là Xương Lăng nằm ở địa phận thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy. Được vua Tự Đức cho xây dựng vào năm 1847 để chôn cất vua cha Thiệu Trị. So với lăng tẩm các vua tiền nhiệm và kế vị, lăng Thiệu Trị có những nét riêng. Đây là lăng duy nhất quay mặt về hướng Tây Bắc, một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung điện và lăng tẩm thời Nguyễn.

Lăng Tự Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lăng Tự Đức
Xung Khiêm Tạ, Lăng Tự Đức

Lăng Tự Đức được chính vua Tự Đức cho xây dựng khi còn tại vị, là một quần thể công trình kiến trúc, trong đó có nơi chôn cất vua Tự Đức tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (cũ), nay là thôn Thượng Ba, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Lúc mới xây dựng, lăng có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc nổi loạn Chày Vôi, Tự Đức bèn đổi tên thành Khiêm Cung. Sau khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng. Lăng có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn.

Lăng Đồng Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lăng Đồng Khánh

Lăng Ðồng Khánh còn gọi là Tư Lăng tọa lạc giữa một vùng quê thuộc làng Cư Sĩ, xã Dương Xuân ngày trước (nay là thôn Thượng Hai, phường Thủy Xuân, thành phố Huế). Nguyên trước đây là Ðiện Truy Tư được vua Đồng Khánh xây dựng để thờ cha mình là Kiên Thái Vương. Khi Ðồng Khánh mắc bệnh và đột ngột qua đời. Vua Thành Thái (1889-1907) kế vị trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, kinh tế suy kiệt nên không thể xây cất lăng tẩm quy củ cho vua tiền nhiệm, đành lấy điện Truy Tư đổi làm Ngưng Hy để thờ vua Ðồng Khánh.

Lăng Dục Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lăng Dục Đức

Lăng Dục Ðức tên chữ An Lăng tọa lạc tại thôn Tây Nhất, làng An Cựu, xưa thuộc huyện Hương Thủy, nay thuộc phường An Cựu, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố chưa đầy 2 km; là nơi an táng của 3 vua nhà Nguyễn: Dục Ðức, Thành TháiDuy Tân. Dục Đức lên ngôi năm 1883 được 3 ngày thì bị phế trất và mất, sau này con ông là vua Thành Thái (lên ngôi năm 1889) cho xây lăng để thờ cha đặt tên là An Lăng. Năm 1954, khi vua Thành Thái mất, thi hài được đưa về chôn tại địa điểm hiện nay trong khu vực An Lăng và được thờ ở ngôi điện Long Ân. Năm 1987, hài cốt vua Duy Tân được đưa về an táng cạnh lăng Thành Thái.

Lăng Khải Định[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lăng Khải Định

Lăng Khải Định còn gọi là Ứng Lăng toạ lạc trên triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế là lăng mộ của vua Khải Định, vị vua thứ 12 của triều Nguyễn. Lăng được xây dựng từ năm 1920 ngay sau khi Khải Định lên ngôi. Về kiến trúc lăng Khải Định được người đời sau thường đặt ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi sự pha trộn kiến trúc Đông Tây Kim Cổ lạ thường, với các tác phẩm nghệ thuật ghép tranh sành sứ độc đáo.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Phan Thanh Hải (11 tháng 9 năm 2006). “Hệ thống lăng mộ”. NetCoDo. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  2. ^ a ă â Phan Thanh Hải. “HỆ THỐNG DI TÍCH, DI VẬT THỜI CHÚA NGUYỄN TRÊN ĐẤT THỪA THIÊN HUẾ”. Trung Tâm Bảo Tồn Di Tích Cố Đô Huế. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  3. ^ a ă Bảo Huy (17 tháng 1 năm 2006). “Những bí ẩn về lăng mộ Vua Quang Trung sắp được giải mã ?”. Báo Bình Định. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  4. ^ a ă Thanh Tùng (31 tháng 3 năm 2007). “Đi tìm lăng mộ vua Quang Trung”. Việt Báo. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  5. ^ Hồng Phi - Hương Nao (8 tháng 8 năm 2006). “Bài thơ chữ Hán "Nhìn thấy linh cữu Quang Trung" mới tìm thấy”. Báo điện tử Sân khấu Việt Nam. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  6. ^ a ă â Phan Thuận An, Tr. 223
  7. ^ a ă Phan Thuận An, Tr. 224

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phan Thuận An (2005). Quần thể di tích Huế. Nhà xuất bản Trẻ.