Lương (họ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lương là tên một họViệt Nam, Triều TiênTrung Quốc.

Lịch sử hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Tên họ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Trung Quốc hiện đại ghi là “Liáng”, Bạch thoại ghi là “Niû”. Tiếng Nhật ghi là “Ryō”, Yang (양), Ryang (량). Trong cuốn Bách gia tính (百家姓), một văn bản ghi lại các họ phổ biến của người Trung Quốc được soạn vào đầu thời Bắc Tống thì họ Lương xếp thứ 128 (“百家姓第” 128 位) và được chép trong câu: “项 Hạng, 祝 Chúc, 董 Đổng, 梁 Lương”.

Chữ Lương “Lương” thuộc:木部 bộ Mộc; âm đọc 刄聲 Lạng thanh; dạng 會意 Hội ý; 呂張切 (lữ trương thiết); cấu tạo: 从木从水刅聲 (tòng mộc tòng thủy sang thanh) gồm bộ Mộc , chữ Thủy (氵) và chữ Sang ; có nghĩa là: 水橋也 (thủy kiều dã),梁之字用木跨水 (Lương chi tự dụng Mộc khóa Thủy) chỉ cái cầu bắc qua nơi có nước. Chỗ đắp bờ để nuôi cá gọi là ngư lương (魚梁). Còn chữ Lương 涼 có chấm thuỷ (氵) và chữ kinh (京) có nghĩa là mỏng, lạnh được viết chỉ tên châu, nước do người Hồ lập ra thời Ngũ Hồ loạn Hoa (五胡亂華, 304-439).

Nguồn gốc họ Lương tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thuyết họ Lương từ tộc Doanh mà ra:

Theo sách “Danh hiền Thị Tộc Ngôn hành loại Cảo” thì họ Lương thuộc thị tộc Doanh (嬴氏). Tộc này đã lập nên một triều đại nổi tiếng và có công thống nhất Trung Hoa. Đó là nhà Tần (秦朝; Qín Cháo; Wade-Giles:Ch'in Ch'ao, 221 TCN - 206 TCN), triều đại kế tục nhà Chu (周,Zhou, 1122tCn–256 TCN) và trước nhà Hán (漢朝,Han cháo, 206 TCN. - 220) trong lịch sử Trung Quốc.

Họ của hoàng gia Tần là Doanh thị (嬴氏). Theo thông lệ, chỉ ngành trưởng (trưởng tộc - 長族) nối ngôi, mới được mang họ Doanh, còn các ngành khác mang họ là tên đất nơi phong ấp. Người nối ngôi Tần Trọng hiệu là Tần Trang Công (秦莊公, cai trị 822 TCN - 778 TCN) huý là Doanh Dã (嬴也). Một người con khác của ông được ban đất Hạ Dương (贺阳) (ở tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc nay) và phong tước Lương bá (梁伯). Cháu chắt ông nhận tên tước vị Lương bá làm tên họ.

  • Thuyết họ Lương từ họ Bạt Liệt Lan đổi thành:

Một tài liệu khác cho rằng thời Bắc Ngụy, vua Hiếu Văn Đế Nguyên Hoành (孝文帝元宏, 471-499) ra nhiều sắc lệnh cải cách xã hội, đẩy mạnh quá trình Hán hoá trong đó có việc tự đổi họ Thác Bạt (拓拔氏) ra họ Nguyên (元氏). Những người họ Thác Bạt xa thì đổi làm họ Trưởng Tôn, họ Ất Phiên đổi thành Thúc Tôn. Các họ kép (hai chữ) đều đổi thành họ đơn (1 chữ), trong đó 8 họ sang nhất là: Mục, Lục, Hạ, Lưu, Lâu, Vũ, Hệ, Uất và đổi họ ba chữ Bạt Liệt Lan (拔列兰) thành họ đơn là Lương (梁).

Bên Trung Hoa có một số triều đại Lương, nhưng tên triều đại không phải là họ của hoàng gia. Do vậy các triều nhà Lương (凉朝, 梁朝) bên Trung Hoa, vua không phải người họ Lương. Các triều nhà Lương đó bao gồm:

Họ Lương tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng họ Lương Việt Nam có nguồn gốc khởi thủy từ đâu, bao giờ chưa khảo cứu được. Hiện có vài thuyết:

  • Thuyết cho rằng từ Trung Quốc sang:

Một số người thuộc Hán tộc cư ngụ ở miền nam Trung Hoa rồi di cư xuống miền bắc Việt Nam để lập nghiệp. Có lẽ đây là hậu duệ của Lương Long sau khởi nghĩa 178-181 thất bại hay là hậu duệ của Lương Thạc (梁硕), người từng dành quyền và tự lĩnh chức Thứ sử Giao Châu vào năm Mậu Dần (318) thời Đông Tấn. Nếu đúng vậy thì do tổ tiên đều gốc Bách Việt đứng lên chống lại Hán tộc nhưng bị thất bại phải Nam cư[cần dẫn nguồn].

  • Do quan lại cai trị gán họ:

Ngoài số này còn có những cư dân Việt tộc khác, đến khi người Hán hoàn thành việc chiếm Âu Lạc vẫn chưa có họ nên bắt chước hay bị quan lại nhà Hán ép mang họ sẵn có từ Bắc quốc sang, trong đó có họ Lương. Đây là tình trạng chung của nhiều họ cũng như một số họ dân thiểu số tại Việt Nam sau này.

  • Khởi từ làng Hội Trào:

Cũng có thông tin cho biết từ lâu đời đã có một dòng họ cư ngụ tại miền Trung Việt Nam: làng Hội Triều (Hội Trào), huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, gần bãi biển Sầm Sơn. Nơi đây, hiện nay vẫn còn đền thờ cụ Lương Đắc Bằng, được coi là Thủy tổ của dòng họ.

Vào khoảng cuối thế kỷ 17, một số người trong họ di cư ra Hà Nội (Bắc Việt Nam), thành lập một chi hội mới và thành lập một làng mới: làng Nam Phổ (phố Hàng Bè, Hà Nội). Trên mộ bia của cụ Lương Ngọc Thụ ở Ngã tư Sở (Hà Nội) có ghi chữ Hán "Thanh-Hà Đệ Lục Đại" (đời thứ sáu Thanh Hóa - Hà Nội) - và chính Cụ cũng đã tự đặt bút hiệu là Triều Nam (Hội Triều, Nam Phổ) để ghi rõ sự liên hệ giữa 2 chi họ...

Phân bố hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời vua Lê Đại Hành (thứ 6), trong tập "Bắc Địa Tấu Từ" có ghi như sau: các tỉnh miền Bắc Việt Nam có rất nhiều tộc họ sinh sống, riêng tộc Lương chỉ thấy ở 2 tỉnh :

  • Tỉnh Sơn Tây có: Thủy tổ tộc Lương: Lương Trọng Lịch
  • Tỉnh Hà Tĩnh có: Thủy tổ tộc Lương: Lương Công Anh

Từ đời Tiền Lê, tộc Lương phát triển đến nhiều tỉnh khác nhau. (Ở Xã Hoà Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có dòng họ Lương với hàng nghìn con cháu, thấy các cụ bảo họ Lương nhà ta xuất thân từ Sơn Tây, Hà Nội về đây lập nghiệp)

Hiện nay, có nhiều người, nhiều gia đình họ Lương trên khắp 3 miền Bắc-Trung-Nam, miền xuôi và miền ngược, trong cộng đồng người Kinh, người Tày, người Mường, người Thái... và ở hải ngoại.

Trong đó có nhiều dòng mang những tên đệm khác nhau hoặc có dòng chữ lót đặt tùy ý không theo một quy luật nào[cần dẫn nguồn]. Một số dòng họ Lương người Hoa đặt tên con cháu với tên đệm là chữ trong một bài thơ do họ tự quy định (trong thời kì loạn lạc và chạy nạn từ Trung Quốc sang Việt Nam) để nhận biết được thứ tự, cấp bậc của nhau.

Với các dân tộc thiểu số, một vài nơi họ Lương được gọi là họ Lường nhưng xem các bài cúng bằng chữ Nôm thấy vẫn ghi là 梁, tức Lương[cần dẫn nguồn]. Một số người Hoa cũng ghi là họ Lường trong tiếng Việt, do cách dịch từ tiếng Hoa sang Việt theo cách đọc của tiếng Bạch Thoại (百话) chứ không phụ thuộc vào tiếng Hán Việt.Họ Lương hay Lường ở các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam như Lạng Sơn,Cao Bằng,Lào Cai..v.v được cho là di cư từ Trung Quốc từ hàng ngàn năm trước.

Trong khi đó một số chi nhánh họ Lương ở miền Nam không thuộc dạng này bởi đó là những di dân có nguồn gốc từ Phúc Kiến, Triều Châu sang hồi thế kỷ XVII sau sự sụp đổ của nhà Minh. Đó là những người Minh Hương (明鄉人), tự nhận và nhà nước công nhận họ là Hoa Kiều.

Một vài nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]