Lưu Bá Thừa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lưu Bá Thừa
刘伯承
Liu Bocheng.jpg
Nguyên soái Lưu Bá Thừa
Tiểu sử
Biệt danh Hỏa tinh Trung Hoa, Độc nhãn Long
Sinh

1892

Khai huyện, Tứ Xuyên
Mất

1986

Bắc Kinh
Binh nghiệp
Phục vụ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Thuộc Danghui.svg Đảng Cộng sản Trung Quốc
Năm tại ngũ 1892 - 1986
Cấp bậc 中华人民共和国元帅肩章(PRC marshal's epaulet).JPGNguyên soái Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Chỉ huy Sư đoàn trưởng Bát Lộ Quân
Tham mưu Trưởng Lục quân Trung Quốc
Tham chiến Chiến tranh Bắc phạt
Vạn lý Trường chinh
Bách đoàn đại chiến
Quốc Cộng Đại chiến
Khen thưởng Huân chương Độc lập
Công việc khác Chính trị gia, nhà văn, Huấn luyện viên quân sự

Lưu Bá Thừa (giản thể: 刘伯承, phồn thể: 劉伯承, bính âm: Liú Bóchéng, Wade-Giles: Liu Po-ch'eng; 4 tháng 12 năm 1892 - 7 tháng 10 năm 1986) là một lãnh đạo quân đội và là một trong 10 nguyên soái của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Lưu Bá Thừa được biết đến là một trong "Ba và 1/2 nhà chiến lược" của Trung Quốc trong lịch sử hiện đại. (Hai vị kia là Lâm Bưu, chỉ huy quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc, và Bạch Sùng Hi, chỉ huy của Quốc Dân Đảng; còn 1/2 là nói đến chỉ huy quân đội Đảng Cộng sản Trung Quốc Túc Dụ.) Về mặt chính thức, Lưu Bá Thừa được công nhận là một nhà cách mạng, nhà quân sự và nhà lý luận quân sự, và là một trong những người sáng lập của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Tên hiệu của ông là "Sao Hỏa Trung Quốc" và "Độc Nhãn Long", cũng phản ánh tính cách và thành tích quân sự của ông.

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Bá Thừa sinh ra trong một gia đình nông dân ở huyện Khai, Tứ Xuyên. Dù lớn lên trong khốn khó, Lưu vẫn quyết tâm học tập và đã học tốt. Chịu ảnh hưởng của các lý thuyết cách mạng của Tôn Dật Tiên, sau này ông đã cốn hiến đời mình cho sự nghiệp thiết lập một nước Trung Quốc hiện đại và dân chủ.

Năm 1911, Lưu Bá Thừa gia nhập Các đội hướng đạo nam sinh để ủng hộ cho Cách mạng Tân Hợi. Trong năm sau đó, ông vào học Học viện Quân sự Trùng Khánh và sau này gia nhập quân đội chống lại Viên Thế Khải, người có âm mưu phá hoại Cách mạng Tân Hợi và tự xưng hoàng đế. Năm 1914, Lưu gia nhập đảng của Tôn Dật Tiên và đảm nhận nhiều chức vụ trong quân đội, ban đầu là đại đội trưởng, sau đó là lữ đoàn trưởng, và tiếp theo là lên hàng tá. Năm 1916, ông mất con mắt bên phải trong một trận chiến ở huyện Phong Đô, Tứ Xuyên.

Năm 1923, trong một cuộc chiến chống lại quân phiệt Ngô Bội Phu, hưởng ứng chiến dịch Bắc Phạt của Quốc Dân Đảng, Lưu đã được phong làm chỉ huy Đông Lộ, và sau đó được thăng làm tướng chỉ huy ở Tứ Xuyên. Lưu đã thể hiện tài năng quân sự trong các cuộc chiến chống lại nhiều quân phiệt. Chu Đức, người dưới quyến Long Vân, một quân phiệt Vân Nam vào thời điểm đó, đã bị Lưu đánh bại trong một cuộc chiến xáp lá cà.

Cùng năm đó, Lưu đã quen biết Dương Ám Công (杨闇公, anh trai của Dương Thượng Côn) và Ngô Ngọc Chương (吴玉章), cũng là những người cộng sản đầu tiên của Tứ Xuyên. Mối quan hệ của họ đã đánh dấu việc Lưu được tiếp xúc thực tế lần đầu với lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa cộng sản. Tháng 5 năm 1926, Lưu gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc và được phong làm ủy viên quân sự của of Trùng Khánh. Tháng 12 năm 1926, cùng với Chu Đức và Dương Thượng Côn, Lưu Bá Thừa cùng vạch đường lối và chỉ huy cuộc khởi nghĩa Lô ChâuNam Sung, chống lại các quân phiệt địa phương, và ủng hộ Bắc Phạt.

Mùa Đông năm 1927, Lưu đã được Đảng Cộng sản Trung Quốc phái đi Liên Xô để nghiên cứu chiến lược và chiến thuật quân sự. Ban đầu, Lưu theo học tại một học viện quân sự ở Moskva, nhưng sớm chuyển qua trường danh tiếng hơn, Học viện quân sự Frunze để học chiến thuật và chiến lược quân sự chính quy.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]