Lưu Chí Hàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lưu Chí Hàn
刘至翰
Johnny Liu
Sinh 4 tháng 2, 1975 (39 tuổi)
Đài Bắc, Đài Loan
Tên khác Johnny Liu, Ryu
Nghề nghiệp Diễn viên
Hoạt động 1986 - nay
Vai diễn đáng chú ý Tấm lòng của cha mẹ (2009)(vai Trần Chí Huy)

Nữ nhân hương (1999)
Tay trong tay (vai Lý Khánh Hồng)
Văn phòng hôn nhân (vai Lưu Thanh Vân)

Lưu Chí Hàn (4 tháng 2 năm 1975; giản thể: 刘至翰; phồn thể: 劉至翰; bính âm: Liú Zhìhàn; tiếng Anh: Johnny Liu) là một nam diễn viên Đài Loan, sinh trưởng trong gia đình có truyền thống nghệ thuật, ngay từ nhỏ đã được xem là ngôi sao nhí của màn ảnh Đài Loan. " Scent of a Woman " là bộ phim đầu tiên dọn đường để anh trở thành một ngôi sao. Anh phải cố gắng rất nhiều sau nhiều năm gia nhập làng giải trí, và có một vị trí vững chắc, một diễn viên chuyên nghiệp nổi tiếng với danh hiệu "Ladykiller". Trong năm 2008, Lưu Chí Hàn đã bị ra lệnh cấm xuất hiện trên truyền hình vì đã mở cuộc họp báo để phản đối việc khai thác các quyền của các nghệ sĩ, kêu gọi cho việc bảo vệ lợi ích của nhân viên giải trí Truyền hình. Tuy nhiên, nhờ sự cống hiến ngoan cường của mình và diễn xuất tuyệt vời cuối cùng anh đã được hoạt động nghệ thuật trở lại khi tham gia diễn xuất trong các bộ phim truyền hình của ngành công nghiệp giải trí Đài Loan[1] [2] [3].

Sơ yếu lý lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ: tiếng phổ thông,tiếng Đài Loan, tiếng Nhật Bản

Nhóm máu: O

Chiều cao: 187 cm

Cân nặng: 78 kg

Tính cách: vui vẻ, đơn giản, lãng mạn

Sở thích: chơi cá cảnh, câu cá, xem phim, đọc sách

Con số may mắn: 2,4

Thể thao yêu thích: bóng rổ, bơi lội, trượt băng

Điều muốn làm nhất: đóng rất nhiều phim...

Điều không muốn làm: Không muốn làm một ngôi sao giấy [1][4]

Xuất thân gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình ly dị từ lúc lên ba, Anh phải sống với mẹ và bà ngoại từ nhỏ. Cha đẻ của Lưu Chí Hàn là một diễn viên ngôi sao Lưu Thượng Khiêm, nhưng anh không muốn dựa vào cha mình. Lưu Chí Hàn cho biết, "Cho dù con đường nghệ thuật của tôi có khó khăn đến mấy, dù thành công hay không, tôi cũng cảm thấy mãn nguyện. Xuất thân từ gia đình nghệ thuật, nên ngay từ nhỏ đã đam mê diễn xuất, tham gia nhiều bộ phim, sau đó anh đến Nhật Bản du học về ngành nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn. Và cứ thế anh trở thành một ngôi sao một cách tự nhiên[1][4].

Nói về bà của mình, sát thủ tuổi teen Đài Loan Lưu Chí Hàn rất khó khăn khi nghĩ đến tuổi thơ ấu đau buồn của anh, và anh thường làm bà lo lắng vì những trò nghịch ngợm của mình,Lưu Chí Hàn cười và nói: "Tôi là đứa trẻ rất nghịch ngợm và luôn làm cho người lớn phiền lòng, và người lo lắng cho tôi nhất là bà ngoại, tôi là người khiến mọi người đau đầu, thường dẫn đầu bọn nhóc trong các trò quậy phá. Bà tôi chỉ đơn giản là người đối đầu với tôi, giọng nói chậm rãi nhưng rất nghiêm khắc, tôi chỉ có thể trả lời một từ duy nhất có." Bà sống nhiều năm ở Hoa Liên, trong tâm trạng buồn, Lưu Chí Hàn nghĩ về bà ngoại vừa khóc và cười nói: "Mối quan hệ giữa tôi và bà ngoại của tôi rất nhiều rắc rối, bà bí ẩn và gần như đều biết suy nghĩ của tôi, bây giờ cuối cùng tôi không thể được chia sẻ với bà ngoại,đó là điều đáng tiếc nhất! "Ngay cả khi ngoại bệnh một thời gian dài, đạo diễn hô diễn cảnh tiếp theo, Anh vẫn còn như một người mất hồn, chưa bình tĩnh lại, và những giọt nước mắt không ngưng lại được[1][4].

Các phim điện ảnh đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1986 - Tiểu tử Cương Thi[1]
  • 1987 - Ha la Cương Thi[1]
  • 1988 - Đạo sĩ U huyễn vai Tây Qua Bì[1]
  • 1990 - Tân thập nhị sinh tiếu vai Tuần Thành Mã[1]
  • 2000 - Thiên công kim[1]
  • 2011 - Biên thành sinh tử luyến vai Ô Sa[1]
  • 2011 - Xán lạn đinh hương vai Phương Chí Lương (Thẩm Đại Kiều)[1]
  • 2011 - Mai phục vai Hồng Triết[1]
  • 2012- Vi quang thiểm lượng đệ nhất cá thanh thần[1]
  • 2013- Tay trong tay

Drama đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Donghuajun barbershop (2012)

Thiên hạ phụ mẫu tâm (2009)

Khiên thủ (2011)

Nữ nhân hương (1999)

Cương thi phiến hệ liệt 5 bộ

U-Touch cảm ứng phách đương (2001)

Tái kiến a lang

Thần cơ diệu toán lưu bá ôn (2007)

Thân thân nâm thị ngã đích bảo bối

Siêu nhân khí học viên(2002)

Ái tình phong vị ốc

Ý nan vong

Khi người ta yêu(2007)

Cát tường như ý niên niên lai(2000)

Nữ sinh hướng tiền tẩu

Truy phu tam nhân hành

Ái thượng tổng kinh lý

Thiên kim bách phân bách

Khai phong hữu cá bao thanh thiên(2009) Quế hoa lộng

Hoàn quân minh châu

Ngã nhất định yếu thành công

Vi tiếu PASTA

[5]

MV đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2000: Trịnh Tú Văn trong "Trầm mặc"
  • 2005: Vương Thức Hiền trong "Một đời có anh làm bạn"

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]