Lưu Ly Minh Vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lưu Ly Minh Vương
Vua Cao Câu Ly
Trị vì  19 TCN - 18 CN
Đăng quang 19 TCN
Tiền nhiệm Đông Minh Thánh Vương
Kế nhiệm Đại Vũ Thần Vương
Vương tộc Dòng họ Cao
Thân phụ Đông Minh Thánh Vương
Sinh 38 TCN
Mất 19 CN (57 tuổi)
Lưu Ly Minh Vương
Hangul
유리왕 hoặc 유리명왕
Hanja (Hán tự)
瑠璃王 hoặc 瑠璃明王
Hán-Việt Lưu Ly Vương hoặc Lưu Ly Minh Vương
McCune-Reischauer Yuri-wang hoặc Yurimyŏng-wang
Romaja quốc ngữ Yuri-wang hoặc Yurimyeong-wang or Yuria

Lưu Ly Vương (phiên âm từ các chữ Hán 瑠璃王[1] hoặc 琉璃王[2]), hay Nho Lưu Vương (phiên âm từ 儒留王[3]), tại thế 38 TCN - 18 CN, trị vì 19 TCN - 18 CN (37 năm), là vị vua thứ 2 của Cao Câu Ly - một trong ba quốc gia thời kỳ Tam quốc Triều Tiên. Phần lớn cuộc đời và sự nghiệp của vua Lưu Ly được biết từ sách Tam quốc sử ký. Húy của ông được một số tư liệu chữ Hán cổ ghi là 類利 hoặc 孺留.

Mục lục

Bối cảnh [sửa]

Lưu Ly là con của Đông Minh Vương, vua sáng lập của nước Cao Câu Ly. Ông được nuôi dạy bởi mẹ là Duệ Tố Gia và đến năm 19 TCN thì đến Cao Câu Ly để gặp cha mình.

Đông Minh Vương phong cho Lưu Ly là Thái tử của Cao Câu Ly. OnjoBiryu (hai người con trai của So Sŏno) bị đe đọa nên So Sŏno đưa họ xuống phía nam để sáng lập vương quốc Bách Tế. Lưu Ly lên ngôi sau khi cái chết của Đông Minh Vương.

Cai trị [sửa]

Lưu Ly Vương được mô tả là một vị vua hùng mạnh và là một nhà chỉ quân sự thành công. Ông đã chinh phạt người Hung Nô năm 9 TCN. Năm 3 TCN, ông dời đô về thành Quốc Nội thành (國內城, 국내성, Kungnae-sŏng). Năm 12 CN, Vương Mãng sai sứ mời Lưu Ly tham gia liên minh tấn công người Hung Nô. Song, Lưu Ly không những từ chối mà còn tấn công nhà Tân.[4]

Lưu Ly có 6 người con trai, trong đó có Hae-Myung và Muhyul. Hae-Myung được phong làm thế tử sau khi người con cả của Lưu Ly là Dojul mất, nhưng Lưu Ly nhận thấy người này quá hấp tấp, liều lĩnh, ương bướng, vì vậy ông lập Muhyul, con của ông với con gái của Tùng Nhượng làm thế tử từ năm 14 CN.

Tương truyền, Lưu Ly có làm thơ và một bài nổi tiếng đến tận ngày nay là bài Hoàng điểu ca (黃鳥歌, 황조가, Hwangchoka, có nghĩa là "Bài ca chim Hoàng Điểu") nhằm tặng cho người thiếp Chihui của mình.

Kế thừa [sửa]

Lưu Ly Vương qua đời năm 18 sau khi cai trị trong hơn 37 năm. Ông được nối ngôi bởi Muhyul, người trở thành Đại Vũ Thần Vương.

Thông tin cá nhân [sửa]

  • Cha:
  • Mẹ:
    • Duệ Tố Gia.
  • Vợ:
    • Con gái của Songyang.
  • Phi tần:
    • Hwahui.
    • Chihui.
  • Con:
    • Dojeol, Thế tử (mất năm 1).
    • Hae-myeong, Thế tử (phong năm 1, phế truất năm 14).
    • Muhyul, Thế tử (phong năm 14), sau này là Đại Vũ Thần Vương, (lên nôi khoảng năm 18).
    • Yeojin, Hoàng tử (mất năm 18).
    • Hae Se-ryu/Yeo-rang, Công chúa.
    • Hae Saek-ju (?-48), sau này là Mẫn Trung Vương.
    • Go Jae-sa, người đứng đầu họ Cao của nhánh Gyeru, cha của Thái Tổ Đại Vương.

Ghi chú [sửa]

  1. ^ Theo Tam quốc sử ký.
  2. ^ Theo Tam quốc di sự.
  3. ^ Theo bia Quảng Khai Thổ Vương.
  4. ^ 《三国史记》:“三十三年 春正月 立王子无恤为太子 委以军国之事 秋八月 王命乌伊・摩离 领兵二万 西伐梁貊 灭其国 进兵袭取汉高句丽县”.