Lưu Ly Minh Vương
Lưu Ly Vương (phiên âm từ các chữ Hán 瑠璃王[1] hoặc 琉璃王[2]), hay Nho Lưu Vương (phiên âm từ 儒留王[3]), tại thế 38 TCN - 18 CN, trị vì 19 TCN - 18 CN (37 năm), là vị vua thứ 2 của Cao Câu Ly - một trong ba quốc gia thời kỳ Tam quốc Triều Tiên. Phần lớn cuộc đời và sự nghiệp của vua Lưu Ly được biết từ sách Tam quốc sử ký. Húy của ông được một số tư liệu chữ Hán cổ ghi là 類利 hoặc 孺留.
Bối cảnh [sửa]Lưu Ly là con của Đông Minh Vương, vua sáng lập của nước Cao Câu Ly. Ông được nuôi dạy bởi mẹ là Duệ Tố Gia và đến năm 19 TCN thì đến Cao Câu Ly để gặp cha mình. Đông Minh Vương phong cho Lưu Ly là Thái tử của Cao Câu Ly. Onjo và Biryu (hai người con trai của So Sŏno) bị đe đọa nên So Sŏno đưa họ xuống phía nam để sáng lập vương quốc Bách Tế. Lưu Ly lên ngôi sau khi cái chết của Đông Minh Vương. Cai trị [sửa]Lưu Ly Vương được mô tả là một vị vua hùng mạnh và là một nhà chỉ quân sự thành công. Ông đã chinh phạt người Hung Nô năm 9 TCN. Năm 3 TCN, ông dời đô về thành Quốc Nội thành (國內城, 국내성, Kungnae-sŏng). Năm 12 CN, Vương Mãng sai sứ mời Lưu Ly tham gia liên minh tấn công người Hung Nô. Song, Lưu Ly không những từ chối mà còn tấn công nhà Tân.[4] Lưu Ly có 6 người con trai, trong đó có Hae-Myung và Muhyul. Hae-Myung được phong làm thế tử sau khi người con cả của Lưu Ly là Dojul mất, nhưng Lưu Ly nhận thấy người này quá hấp tấp, liều lĩnh, ương bướng, vì vậy ông lập Muhyul, con của ông với con gái của Tùng Nhượng làm thế tử từ năm 14 CN. Tương truyền, Lưu Ly có làm thơ và một bài nổi tiếng đến tận ngày nay là bài Hoàng điểu ca (黃鳥歌, 황조가, Hwangchoka, có nghĩa là "Bài ca chim Hoàng Điểu") nhằm tặng cho người thiếp Chihui của mình. Kế thừa [sửa]Lưu Ly Vương qua đời năm 18 sau khi cai trị trong hơn 37 năm. Ông được nối ngôi bởi Muhyul, người trở thành Đại Vũ Thần Vương. Thông tin cá nhân [sửa]
Ghi chú [sửa]
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||