Lập pháp viện Trung Hoa Dân Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lập pháp Viện
立法院
Lìfǎ Yuàn
Lập pháp Viện nhiệm kỳ 8
Huy hiệu hoặc biểu trưng
Dạng
Mô hình Một viện
Lãnh đạo
Viện trưởng
Lập pháp viện
Vương Kim Bình, Quốc Dân đảng
từ 1 tháng 2 năm 1999
Cơ cấu
Số nghị sĩ 113
8th Legislative Yuan Seat Composition.svg
Các chính đảng      Quốc Dân Đảng
     Đảng Thân Dân
     Liên minh Đoàn kết Đài Loan
     Đảng Dân Tiến
     Liên minh Đoàn kết Vô Đảng
     Độc lập
Bầu cử
Bầu cử vừa qua 12 tháng 1 năm 2008
Trụ sở
中華民國立法院 (議場外) Legislative Yuan of the Republic of China (chamber, exterior).jpg
Tòa nhà Lập pháp viện, khu Trung Chính, Đài Bắc
Trang Web
http://www.ly.gov.tw

Lập pháp Viện (tiếng Trung: 立法院; bính âm: Lìfǎ Yuàn) là cơ quan lập pháp cao nhất của Trung Hoa Dân Quốc, tức Quốc hội Trung Hoa Dân Quốc.

Tôn Trung Sơn từng đề ra thuyết chính quyền "ngũ quyền hiến pháp", tức Giám sát viện, Khảo thí viện, Hành chính viện, Tư pháp viện và Lập pháp viện và người dân có quyền bầu cử Quốc hội để thực thi quyền của mình. Từ năm 1990, hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc đã trải qua 7 lần sửa đổi và cho đến năm 2005, Quốc hội đã bị bãi bỏ, tất cả các chức năng, nhiệm vụ, thành phần của cơ quan này từ nay chuyển cho Lập pháp viện.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1928, Lập pháp viện được thành lập, ban đầu gồm 49 đại biểu do chính quyền Quốc Dân đảng chỉ định. Tại nhiệm kỳ 4, số đại biểu tăng lên con số 194. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc được ban hành và đến năm 1947, trong cuộc bầu cử đầu tiên, tổng cộng 759 đại biểu đã được bầu vào Lập pháp viện.

Năm 1950, Lập pháp viện cũng như chính quyền THDQ rút ra Đài Loan, tuy nhiên trong tất cả số đại biểu chỉ có 380 nhà lập pháp đã di chuyển được đến đảo. Lập pháp viện ban đầu có trụ sở tạm thời tại đường Trung Sơn, đến thập kỷ 1960 thì chuyển đến địa điểm ở đường Trung Sơn Nam, nguyên là trường cao đẳng nữ học Cựu Chế dưới thời Nhật Bản chiếm đóng hòn đảo.

Các nhà lập pháp nhiệm kỳ đầu sau Hiến pháp năm 1946 đã hết hạn nhiệm kỳ vào năm 1951. Tuy nhiên sau cuộc tiếp xúc với đại pháp quan của Tư pháp viện, họ đã tiếp tục được gia hạn là thành viên Lập pháp viện với lý do các đại biểu đến từ khu vực bị chiếm đóng không thể có cơ hội tái cử. Sau năm 1969, theo "điều khoản lâm thời thời kỳ động viên kham loạn" (tức "động viên dẹp loạn (cộng sản)"), 11 đại biểu đã được bầu thêm vào Lập pháp viện, cho đến năm 1989, số lượng thành viên bầu thêm đạt con số 130 đại biểu. Tuy nhiên, phần lớn số đại biểu trong Lập pháp viện vẫn là những người được bầu từ nhiệm kỳ đầu và không cần tái cử theo lý do "pháp thống", và các phương tiện truyền thông thường gọi đây là "quốc hội vạn niên".

Năm 1991, tất cả các thành viên của Lập pháp viện nhiệm kỳ đầu được cho nghỉ hưu. Năm 1992, trong một cuộc bầu cử toàn diện, 162 đại biểu đã được bầu vào Lập pháp viện với nhiệm kỳ dự kiến là ba năm. Đến năm 1998, số đại biểu được bầu tăng lên 225 người. Năm 2005, sau khi được Quốc hội và người dân thông qua trong trưng cầu dân ý, Hiến pháp THDQ được sửa đổi, theo đó Quốc hội và Lập pháp viện sap nhập lại và bắt đầu từ Lập pháp viện khóa 7, nhiệm kỳ các đại biểu sẽ kéo dài 4 năm.

Nhiệm vụ và quyền hạn[sửa | sửa mã nguồn]

Căn cứ vào Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc, quyền hành của Lập pháp viện được ghi: "Hành chính viện cần phải được Lập pháp viện thông qua các pháp luật, dự toán, điều ước"

  1. Quyền lập pháp
  2. Đề nghị sửa đổi Hiến pháp và chuyển giao lãnh thổ
  3. Quyền thẩm tra Dự toán, Ngân sách
  4. Ban bố luật giới nghiêm (gồm cả thiết quân luật), quyền ân xá, quyền tuyên chiến, quyền ký điều ước hòa bình, thẩm tra các quyết định quan trọng khác.
  5. Viện trưởng Tư pháp viện, Phó Viện trưởng cùng đại pháp quan; Viện trưởng Giám sát viện, phó Viện trưởng cùng Thẩm kê trưởng; Viện trưởng khảo thí viện, phó Viện trưởng và ủy viên khảo thí; Tổng tưởng Kiểm sát; Chủ nhiệm Ủy ban tuyển cử Trung ương, phó chủ nhiệm cùng ủy viên; Ủy viên Ủy ban Truyền thông Quốc gia; (năm 2012 dự kiến tăng thêm Chủ nhiệm, phó Chủ nhiệm và Ủy viên của Ủy ban Công bằng Thương mại. Tất cả đều phải được sự thông qua của Lập pháp viện.
  6. Quyền thông qua lệnh khẩn cấp
  7. Chất vấn Hành chính viện
  8. Quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm Viện trưởng Hành chính viện
  9. Có quyền bầu phó Tổng thống khi vị trí này bị bỏ trống.
  10. Nếu Tổng thống và phó Tổng thống làm điều sai trái, có quyền đề xuất bãi miễn.
  11. Phúc thẩm các quyết định của Hành chính viện


Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Phân bố Đảng tịch của ủy viên Lập pháp viện theo cuộc bầu cử 2012:

   Quốc Dân đảng

   Đảng Dân Tiến

   Liên minh Đoàn kết Vô Đảng

   Không đảng phái

Trong cuộc bầu cử năm 2012, số đại biểu Lập pháp viện là 113 người. Các đại biểu được bầu theo các phương thức sau:

  • 73 bầu theo phổ thông đầu phiếu ở riêng mỗi khu vực bầu cử.
  • 34 theo hệ thống bổ sung trong một cuộc bỏ phiếu kín lần hai, dựa trên lá phiếu cử tri trong phạm vi toàn quốc, theo đó cử tri bỏ phiếu cho các đảng và dựa vào tỷ lệ số phiếu (trên 5%), các đảng sẽ tự cử đại biểu của mình vào Lập pháp viện. Danh sách này phải có 1/2 là đại biểu nữ.
  • 6 đại biểu do thổ dân Đài Loan bầu theo cá nhân ứng cử viên.

Trong cuộc bầu cử năm 2012 thành phần ủy viên Lập pháp viện như sau:

Ủy ban[sửa | sửa mã nguồn]

Thường trực[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ủy ban Nội chính
  • Ủy ban Ngoại giao và Quốc phòng
  • Ủy ban Kinh tế
  • Ủy ban Tài chính
  • Ủy ban Giáo dục và Văn hóa
  • Ủy ban Giao thông
  • Ủy ban Tư pháp và Pháp chế
  • Ủy ban Phúc lợi xã hội và Vệ sinh môi trường

Đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ủy ban Trình tự
  • Ủy ban Kỷ luật
  • Ủy ban Sửa đổi Hiến pháp
  • Ủy ban Kiểm kê Kinh phí

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]