Lịch sử Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lịch sử Mỹ)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hoa Kỳ được thành lập vào năm 1776, nhưng có một lịch sử lâu dài hơn, trải qua các thời kỳ từ lúc người Châu Âu chưa khám phá ra Châu Mỹ, thời thuộc địa, thời lập quốc, thời nội chiến, khủng hoảng kinh tế, cho đến nay.

Bài này là một phần của
loạt bài Lịch sử Hoa Kỳ.
1493 – 1776
1776 – 1789
1789 – 1861
1861 – 1865
1865 – 1918
1918 – 1945
1945 – 1964
Sửa

Mục lục

Thời tiền Colombo [sửa]

Các khu vực văn hóa thời tiền Colombo

Lúc đỉnh cao của thời kỳ băng hà vào khoảng giữa năm 34.000 và năm 30.000 trước công nguyên, thì phần lớn lượng nước trên thế giới đều được ẩn chứa trong những lớp băng lục địa bao la. Vì vậy, biển Bering nông hơn cả mực nước biển ngày nay hàng trăm mét, và khi đó có một vùng đất nối mang tên Bering xuất hiện giữa châu Á và Bắc Mỹ. Người ta cho rằng, tại đỉnh của nó, Bering rộng tới 1.500 km. Vùng đài nguyên ẩm ướt và không cây cối được bao phủ bởi thảm cỏ và các loài thực vật đã hấp dẫn các loài thú lớn, mà theo đó con người thời tiền sử săn bắt cho sự sinh tồn của mình.[1]

Những người Mỹ bản xứ đã có mặt tại Hoa Kỳ từ 20.000 đến 11.000 năm trước đây. Phần lớn các nhà khảo cổ đồng ý với giả thuyết rằng họ đến Châu Mỹ qua một cầu băng tại eo biển Bering từ Châu Á. Khi những người Châu Âu đầu tiên đặt chân đến Châu Mỹ, họ (người bản xứ) đã hiện diện khắp lục địa.

Những người thổ dân da đỏ tại Hoa Kỳ không phải thuần nhất, có những thổ dân sinh sống ở bắc Mỹ và số ở nam Mỹ: họ nói bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau và nhiều khi khiêu chiến với nhau. Thức ăn và nhà cửa của những người này khác nhau tùy theo từng vùng. Các bộ lạc gần biển thường ăn cá và các đồ biển khác, trong khi các bộ lạc ở các miền đồng bằng ăn cây cỏ và các thú hoang (đặc biệt là châu Mỹ). Họ cũng trồng ngô, câu cá, săn bắn, và tận dụng các nguồn thực phẩm tại mỗi khu vực.

Khi Christopher Columbus đặt chân đến Châu Mỹ, có khoảng 1.500.000 người da đỏ tại Hoa Kỳ. Sau khi tiếp xúc với người Châu Âu, rất nhiều người da đỏ bị chết vì nhiễm các bệnh mà họ chưa có khả năng chống đỡ.

Trước khi người Âu Châu tới, người Ấn Độ khác người bản địa sống ở vùng đất rộng lớn này. Theo truyền thuyết, tổ tiên của họ cách đây khoảng 10.000 năm qua eo biển Bering qua Siberia đến Bắc Mỹ để tồn tại và nhân lên, và ở đây, họ không sở hữu các văn bản, nhưng có một sự giàu có của văn học truyền miệng. Thổ dân dân số, lịch sử của thống kê là rất khác nhau, theo 1492 (Columbus đến Bắc Mỹ) ước tính tổng số người da đỏ Bắc Mỹ về 8 đến 10 triệu người. Với sự sâu sắc của người định cư châu Âu, sức khỏe của thổ dân và vùng lãnh thổ đang bị đe dọa nghiêm trọng. Châu Âu đã mang đến một loạt các vi khuẩn trong 150 năm, dân số thổ dân giảm 90%, làng của họ đã bị phá hủy, ban đầu được sử dụng trong chăn nuôi hoặc trồng trọt đất đã bị phá hủy.

Thời thuộc địa (1493-1776) [sửa]

Mayflower là loại tàu đã trở những người du hành từ Châu Âu đến vùng đất mới, trong mùa đông đầu tiên tại Plymouth một nửa số người mới đến đã chết

Trong thời thuộc địa Hoa Kỳ có nhiều cuộc chiến với người thổ dân da đỏ, sự thiếu lao động đã dẫn đến việc hình thành các kiểu lao động cưỡng bách như nô lệ và tôi tớ giao kèo. Chính sách hờ hững của chính phủ Anh đã tạo ra một nền văn hóa và tinh thần khác với văn hóa của các người khai hoang châu Âu.

Bắt đầu từ thế kỷ 16, người dân thuộc địa mất hết quyền địa bàn, người Anh tiến hành chiếm các thuộc địa tại Bắc Mỹ. Các nỗ lực ban đầu đã thất bại, nhưng sau này các thuộc địa tồn tại dài lâu được thành lập. Những người nhập cư đầu tiên đến nơi này không phải là đồng nhất: họ gồm có nhiều nhóm người từ nhiều tín ngưỡng và tầng lớp xã hội khác nhau và đã định cư tại nhiều nơi vào bờ biển miền đông. Các tín đồ Quaker tại Pennsylvania, các tín đồ Thanh giáo tại thuộc địa Tân Anh, những người tìm vàng tại Jamestown và những người tù tại Georgia đến lục địa này vì nhiều lý do khác nhau. Họ tạo ra các thuộc địa có nhiều cấu trúc xã hội, tôn giáo, chính trị và kinh tế khác nhau.

Để tóm tắt các diễn biến tại Hoa Kỳ thời thuộc địa, các sử gia thường chia các khu vực sau này là miền đông Hoa Kỳ ra bốn miền. Từ bắc vào nam, các miền này là: Tân Anh (New England), các Thuộc địa miền trung, Vịnh Chesapeake và các thuộc địa miền nam. Một số sử gia thêm một miền thứ năm - miền biên giới. Đến cuối thế kỷ 18, các thuộc địa này đã đoàn kết hơn trước để chống lại chính phủ Anh trong các vấn đề thuế má và đại diện.

Có hai sự kiện đáng chú ý trong thời kỳ này. Sự kiện thứ nhất là Cuộc Đại Tỉnh thức, một phong trào để làm thức tỉnh lại lòng mộ đạo trong các giáo phái Tin lành, thể hiện sự sùng đạo trong các thuộc địa và vẫn còn ảnh hưởng tới xã hội Hoa Kỳ cho đến ngày nay. Sự kiện thứ hai là Chiến tranh Pháp và Người da đỏ, kết quả khiến nhiều người định cư bất mãn với chính phủ tại Anh và cuối cùng dẫn đến cách mạng, tách rời thuộc địa này ra khỏi Đế quốc Anh. Thế là người dan thuộc địa

Những thuộc địa đầu tiên [sửa]

Những năm đầu thế kỷ XVII đã chứng kiến sự mở đầu cơn sóng nhập cư khổng lồ từ châu Âu sang Bắc Mỹ. Kéo dài suốt hơn ba thế kỷ, dòng nhập cư này từ sự nhỏ giọt chừng vài trăm người Anh đến lập nghiệp tại thuộc địa đến cơn lũ hàng triệu người mới tới. Bị thúc ép, bị bắt buộc bởi nhiều động cơ, lý do mạnh mẽ và khác nhau, họ tới Tân Thế giới và xây dựng một nền văn minh mới ở phần phía bắc của lục địa này.

Những dân nhập cư người Anh đầu tiên tới miền đất ngày nay là Hoa Kỳ đã vượt Ðại Tây Dương mãi lâu sau khi các thuộc địa Tây Ban Nha thịnh vượng đã được lập ra ở México, ở vùng Tây ẤnNam Mỹ. Giống như tất thảy những người phiêu lưu trước đây tới Tân Thế giới, họ đến đây trên những chiếc tàu nhỏ, chật cứng người. Trong suốt các chặng hành trình kéo dài từ 6 tới 12 tuần, họ phải sống bằng những khẩu phần ăn rất đạm bạc. Nhiều người chết vì bệnh tật, các con tàu thường xuyên bị các cơn bão tấn công và một số tàu đã mất tích ngoài biển.

Phần lớn dân di cư châu Âu rời bỏ quê hương bản quán để tránh các cuộc đàn áp chính trị, để đi tìm tự do thực hành tôn giáo của họ hoặc để tìm kiếm phiêu lưu và những vận may mà họ đã không có được ở quê hương. Vào khoảng giữa năm 1620 và 1635, những khó khăn kinh tế tàn phá nước Anh. Nhiều người không thể tìm được việc làm. Thậm chí có những thợ thủ công tài khéo, tay nghề cao cũng chỉ có thể kiếm được rất ít tiền, khó bảo đảm được một cuộc sống dù là chật vật. Nông dân thất thu mùa màng đã thêm phần tai hoạ cho cảnh gieo neo khốn cùng ấy. Thêm nữa, cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra ngành công nghiệp dệt. Ngành dệt mới nảy sinh này đã đòi hỏi sự cung cấp gia tăng chưa từng có về lông cừu để duy trì các cỗ máy dệt hoạt động. Các địa chủ đã rào các khu đất canh tác và sa thải nông dân để dành đất chăn nuôi cừu. Cuộc bành trướng thuộc địa đã trở thành lối thoát cho đám nông dân bị đuổi việc đó.

Cái nhìn thoáng qua đầu tiên của những kẻ bỏ quê đi lập nghiệp dõi tới vùng đất mới là viễn cảnh của những cánh rừng rậm rạp. Những người định cư chắc không thể nào sống sót nếu như không có sự giúp đỡ của người da đỏ thân thiện, họ dạy cho người định cư cách trồng những giống cây bản địa như bí ngô, bí, đậu và ngô. Hơn nữa, những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn kéo dài đến gần 2.100 km dọc miền ven biển phía đông đã minh chứng về một nguồn phong phú các loài thú săn và củi đốt. Các khu rừng này cũng cung cấp rộng rãi nguyên liệu dùng để dựng nhà, đóng đồ, đóng tàu thuyền và chế tạo những loại hàng hoá sinh lợi để xuất khẩu.

Tuy miền lục địa mới được thiên nhiên ban phát cho những nguồn sản vật giàu có, nhưng mối giao thương với châu Âu vẫn quan trọng sống còn vì là nguồn cung cấp hàng hoá mà những người định cư không thể sản xuất được. Miền bờ biển đã phục vụ những người nhập cư thật đắc lực. Toàn bộ chiều dài của bờ biển đã cung cấp vô số những luồng lạch và hải cảng. Chỉ có hai vùng: Bắc Carolina và Nam New Jersey là thiếu các cảng cho tàu viễn dương tới neo đậu.

Những dòng sông Kennebec, Hudson, Delaware, Susquehanna, Potomac và rất nhiều con sông khác nối các vùng giữa bờ biển và dãy núi Appalachian với biển. Tuy nhiên chỉ một con sông là St. Lawrence do người Pháp quản lý ở Canada chảy vào vùng Hồ lớn và miền trung tâm của lục địa. Những cánh rừng rậm, sự chống đối của một số bộ lạc da đỏ và những cản trở khó vượt qua của dãy núi Appalachian đã làm nản lòng những người muốn lập khu định cư ở xa hơn miền đồng bằng ven biển. Chỉ có những người đặt bẫy thú lấy da và các nhà buôn mới mạo hiểm tiến vào khu vực hoang sơ. Suốt trong một trăm năm đầu tiên, những người định cư xây dựng các khu ở của mình một cách chặt chẽ dọc bờ biển.

Những lý do, suy tính về chính trị đã ảnh hưởng tới nhiều người khiến họ di cư tới Mỹ. Vào những năm 1630, vai trò trọng tài của vua Anh Charles I đã tạo động lực cho việc di cư tới Tân Thế giới. Cuộc khởi nghĩa và những thắng lợi tiếp theo của những kẻ đối lập với Charles I dưới sự lãnh đạo của Oliver Cromwell vào những năm 1640 đã đưa những người ủng hộ vua Charles đệ Nhất trong nội chiến Anh quốc - "Những thần dân của nhà vua" - được giao nhiệm vụ tới thử vận may ở Virginia. Tại các vùng nói tiếng Ðức ở châu Âu, mọi chính sách đàn áp của các vị hoàng thân hẹp hòi khác nhau, đặc biệt là lý do tôn giáo - cùng sự tàn phá gây ra bởi một loạt các cuộc chiến tranh lâu dài đã gây sự bùng nổ của phong trào di cư sang Mỹ vào các thế kỷ XVII và XVIII sau đó.

Những người định cư đến ồ ạt vào thế kỷ XVII đã đòi hỏi việc quy hoạch và quản lý chặt chẽ cũng như những chi phí đáng kể và có rủi ro. Dân định cư phải di chuyển gần 5.000 cây số băng qua biển cả. Họ cần đồ dùng, quần áo, hạt giống, dụng cụ, vật liệu xây dựng, gia súc, vũ khí và đạn dược. Khác với các chính sách thực dân hoá của các quốc gia khác và các giai đoạn khác, việc di tán từ nước Anh không trực tiếp được chính phủ bảo trợ, mà do các nhóm những cá nhân riêng rẽ cung cấp tiền với động cơ chính là lợi lộc.

Thời lập quốc (1776-1789) [sửa]

Washington vượt sông Delaware, một trong những thắng lợi đầu tiên của quân nổi dậy trong cuộc chiến giành độc lập

Trong thời kỳ này các thuộc địa Mỹ tuyên bố độc lập từ Anh, đấu tranh chống quân Anh trong Chiến tranh Cách Mạng và được công nhận làm một quốc gia có chủ quyền. Sau khi được độc lập những nhà lập quốc bàn luận về thể chế của quốc gia mới này. Sau một cuộc hội nghị có nhiều đại biểu từ mỗi tiểu bang, Hiến pháp Hoa Kỳ được soạn thảo và trở thành luật pháp tối cao tại quốc gia này.

Sau khi những thư cầu khẩn của họ không được nhà vua Anh chú ý, các đại biểu thuộc địa viết Tuyên ngôn độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Trong một cuộc chiến kéo dài từ 1776 đến 1783, những người thuộc địa nhận sự giúp đỡ của Pháp. Chính quyền Anh công nhận chính quyền Hoa Kỳ trong Hiệp ước Paris 1783.

Trong khi giành độc lập, Hội nghị lục địa thứ nhì đã soạn thảo Các điều khoản liên bang, lập lên một chính quyền liên bang yếu (hiểu đơn giản là quyền lực tập trung chủ yếu vào chính quyền bang hơn chính quyền trung ương). Sau khi độc lập, một số vấn đề nảy sinh giữa các bang (đặc biệt là vấn đề ngoại thương) đã khiến nhiều người tin rằng chính quyền này không đủ khả năng lãnh đạo quốc gia. Một hội nghị khác với đại biểu từ mọi cựu thuộc địa được dựng lên để sửa đổi các điều khoản này. Trong một mùa hè oi bức, các đại biểu thương lượng với nhau và viết ra một hiến pháp mới, với một chính quyền cân bằng quyền lực giữa trung ương và chính quyền bang. Sau một thời gian tranh luận, số bang phê chuẩn hiến pháp này là 9 bang, số cần thiết để hiến pháp có hiệu lực.

Thời tiền chiến (1789-1861) [sửa]

Thời Nội chiến (1861-1865) [sửa]

Bài chi tiết: Nội chiến Hoa Kỳ
Abraham Lincoln

Nội chiến Hoa Kỳ là cuộc tranh chấp quân sự giữa Chính phủ Liên bang và 11 tiểu bang phía nam Hoa Kỳ. Khi những tiểu bang miền nam muốn tiếp tục phát triển chế độ nô lệ và không được chính phủ chấp thuận, các đại diện miền nam quyết định thành lập chính phủ riêng. Tổng thống Hoa Kỳ Abraham LincolnĐảng Cộng Hòa từ chối công nhận chính phủ ly khai này. Các tiểu bang phía nam (confederate - Liên bang miền Nam) bầu cho mình một tổng thống là Jefferson Davis và khởi phát cuộc nội chiến vào ngày 12 tháng 4 năm 1861 bằng cuộc tấn công căn cứ quân sự của quân Liên Bang tại đồn Sumter, Nam Carolina. Cuộc phân tranh Nam-Bắc kéo dài 4 năm và chấm dứt khi quân miền Nam đầu hàng năm 1865.

Jefferson Davis

Thời hậu chiến (1865-1918) [sửa]

Thời thế chiến (1918-1945) [sửa]

Thời cận đại (1945-nay) [sửa]

Tham khảo [sửa]

  1. ^ “New Ideas About Human Migration From Asia To Americas”. ScienceDaily. 29 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2011. 

Liên kết ngoài [sửa]