Lịch sử Séc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Con người đã di cư đến vùng đất nay là Cộng hòa Séc vào khoảng thế kỉ 3 trước công nguyên. Trong thời kỳ Trung Cổ, Séc là nơi tồn tại nhiều vương triều hùng mạnh và kinh đô Praha là một trong những trung tâm học vấn hàng đầu chầu Âu. Đất nước này bị sáp nhập vào Đế chế Áo năm 1536 rồi sau đó tiếp tục trở thành một bộ phận của Đế chế Áo-Hung. Vào năm 1918, Séc cùng với Slovakia thành lập nước Tiệp Khắc. Đến năm 1989, hai quốc gia này tách ra và Cộng hòa Séc lại trở thành một quốc gia độc lập.

Những sự định cư đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy bằng chứng về về sự định cư của người tiền sử tại vùng đất ngày nay là Séc. Các bằng chứng cho thấy con người xuất hiện tại đây tương đối muộn, vào khoảng cuối thời kỳ đồ đá mới. Trong thời kỳ băng tan, từ thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên, các bộ tộc Celt, Boii đã đến Séc định cư. Đến thế kỉ thứ 1, đến lượt các bộ tộc Giéc-manhMarcomanniQuani cũng đến đây định cư. Suốt trong thời kỳ định cư vào khoảng thế kỉ thứ 5, các bộ tộc Giéc-manh đã di chuyển xuống phía tây và phía nam ra khỏi vùng Trung Âu.

Người Slav đến Séc[sửa | sửa mã nguồn]

Người Slav, bao gồm các bộ tộc Séc là Bohemia và Moravia, đã đến mảnh đất Séc ngày nay vào thế kỉ thứ 6. Những người Slav này có xuất xứ từ Biển Đen và khu vưc dãy núi Carpath. Sự di chuyển của người Slav đến khu vực này càng được kích thích bởi những cuộc tấn công dữ dội của những người đến từ vùng SiberiaĐông Âu như người Hun, người Avar, người Bulgarngười Magyar. Theo chân người Đức trước đó, họ đã di chuyển xuống phía nam để đến các vùng đất là Bohemia, Moravia và vùng ngày nay là nước Áo.

Vương quốc của vua Samo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 560, người Avar từ các thảo nguyên xa xôi của vùng Trung Á đã đến khu vực lòng chảo Carpath. Họ đã chinh phục người Slav và các lãnh thổ của họ. Biên giới của người Avar chạy dài tiếp giáp với Đế chế Byzantine, theo một chuỗi từ nơi ngày nay là Serbia đến hồ Balaton, đông Bratislava, nam Slovakia đến Ruthenia. Tuy nhiên sau khi người Avar bị đánh tan tác tại kinh thanh Constantinopolis vào đầu thế kỉ thứ 7, người Slav ở phía bắc sông Donau bắt đầu nổi dậy chống lại họ.

Samo là một nhà buôn người Frank. Ông đã tham gia cuộc khởi nghĩa của người Slav để chống lại người Avar năm 623. Dưới sự chỉ huy của ông, người Avar đã bị đánh bại. Người Slav đã tôn ông làm vua. Ông đã trở thành người thống trị của vương quốc Slav đầu tiên, được biết đến với cái tên "Đế chế của Vua Samo" hay "Vương quốc của vua Samo" (tiếng Séc: Sámova říše). Đây là tổ chức chính quyền đầu tiên của người Slav, nhưng thực tế đây là một liên minh của các bộ lạc lớn mạnh, chứ không thực sự là một quốc gia quân chủ chuyên chế.

Theo các nhà khảo cổ học, Đế chế của vua Samo trải dài từ nơi ngày nay là Moravia, Slovakia, miền nam nước Áo và Carinthia. Những công quốc của người Moravia và người Nitra thường bị đồng hóa vào đế chế. Những vùng đất ngày này là Bohemia, Sorbia (một vùng ở giữa ĐứcBa Lan ngày nay), Karantania (gắn với lịch sử của Slovenia) cũng được sáp nhập vào đế chế sau năm 630. Tuy đã đánh bại người Avar, song người Slav lại có những xung đột với những thương nhân Frank. Vào năm 631, vua Frank là Dagobert I nhà Merovingian đã gửi 3 đạo quân đến đánh vua Samo. Vua Samo đánh tan tác đạo quân xâm lược lớn nhất trong trận đánh tại pháo đài Wogastiburg (hay Vosgate).

Vào năm 658 (hoặc 659), vua Samo qua đời. Các nhà khảo cổ học cho rằng người Avar đã trở lại những lãnh thổ trước đây của họ (phần lớn miền nam Slovakia) nhưng họ quyết định chung sống hòa bình với người Slav. Nhưng ngược lại, những lãnh thổ ở phía bắc đế chế Avar lại trở thành những lãnh thổ của người Slav. Đến cuối thế kỉ thứ 8, những công quốc Moravia và Nitra đã tấn công người Avar, và chiến bại trước vua Charlemagne nước Frank vào các năm 799 và 802 - 803 đã khiến cho Avar bị xóa tên trên bản đồ thế giới.

Đại Moravia[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Moravia (màu xanh) mở rộng nhất dưới thời vua Svatopluk I

Sau khi Đế chế của vua Samo tan rã, người Moravia và Nitra đã thành lập các công quốc mới hùng mạnh. Năm 833, Mojmir I của Moravia đã tấn công và sáp nhập công quốc Nitra, lập ra một công quốc duy nhất là Đại Moravia (Velká Morava).

Năm 846, Mojmir I nhường ngôi cho một người cháu của mình là Rastislav (846-870). Dưới thời Rastislav, một cuộc cải cách văn hóa lớn đã diễn ra khi hai nhà truyền giáo CyrilMethodius được ông mời đến Đại Moravia để truyền bá đạo Thiên chúa vào đất nước này. Họ cũng góp công lớn trong việc xây dựng bảng chữ cái của người Slav (Bảng chữ cái Cyrill).

Dưới thời vua Svatopluk I, Đại Moravia đạt tới sự mở rộng lớn nhất về diện tích. Lãnh thổ của nó trải dài trên các vùng đất ngày nay là Hungary, Ba Lan, Áo, Đức, Serbia, Slovenia, CroatiaUkraina. Về sau, những cuộc chiến tranh liên miên với Đế chế Frank đã làm cho Đại Moravia suy yếu và những người Magyar xâm lược đã khiên đất nước tan rã vào đầu thế kỉ thứ 10. Những quốc gia sót lại của Đại Moravia bao gồm Vương quốc Hungary, Bohemia, Ba Lan và Đế chế La Mã Thần thánh.

Thời kỳ Trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 995, công quốc Bohemia thành lập dưới sự lãnh đạo của vương triều Premyslid, thành viên của một bộ tộc tên là Séc. Vương triều Premyslid đã thống nhất các vương triều Séc khác và thành lập một chính quyền trung ương vững mạnh.

Đầu thế kỉ 11, công quốc Bohemia đã chinh phục nước Đại Moravia. Tuy Moravia vẫn là một lãnh địa tách biệt của Bohemia song Moravia lại bị cai trị bởi một trong những người con trai của vua Bohemia.

Sang thế kỉ 14 là thời đại hoàng kim của Séc. Vào năm 1306, dòng họ Premyslid không có người kế vị. Sau nhiều cuộc chiến tranh giành quyền lực đẫm máu, dòng họ Luxemburg đã đoạt được ngôi vua Bohemia. Vị vua thứ hai của triều đại Luxemburg là Karel IV (1342-1378, Charles trong tiếng Anhtiếng Pháp, Karl trong tiếng Đức) đã đưa đất nước Bohemia trở nên hùng mạnh. Năm 1344, ông nâng chức giám mục của thành phố Praha lên thành tổng giám mục, không còn bị phụ thuộc tôn giáo vào Mainz và Đế chế La Mã Thần thánh nữa. Tổng giám mục có quyền quyết định ngôi vua của Séc. Ông kiềm chế quyền lực của các quý tộc Séc và đưa Bohemia, Moravia trở thành các quận hành chính, và đưa Brandenburg (tới năm 1415), Lusatia (tới năm 1635), Silesia (tới năm 1742) vào quyền kiểm soát của Séc. Karel IV cũng đã biến Praha trở thành một thủ đô hoa lệ của châu Âu với rất nhiều công trình xây dựng. Ông cũng thành lập Đại học Karlova ở Praha (Univerzita Karlova) năm 1348 với mong muốn biến Praha thành một trung tâm học vấn của châu Âu.

Vào thế kỉ 15, một cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu đã diễn ra tại Séc, lịch sử gọi là cuộc Chiến tranh Hussite. Đất nước Séc suy yếu và đến năm 1526, Séc đã bị sáp nhập vào đế chế Habsburg.

Thời kỳ thuộc Đế chế Áo (1526-1648)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi bị sáp nhập vào Đế chế Habsburg, người Séc đã bị mất rất nhiều thứ, trong đó có cả quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ là tiếng Séc. Chính sách tập trung quyền lực của triều đình Áo được bắt đầu dưới thời vua Ferdinand I (1526-1564). Ông ta đã ra sức hạn chế các ảnh hưởng của người Bohemia có thể dẫn đến một cuộc nổi loạn. Tuy nhiên chính người Bohemia lại bị phân chia vì những xung đột tôn giáo của chính họ.

Sự bất hòa ngày càng lớn giữa dân tộc Séc và triều đình Habsburg, giữa những người theo đạo Thiên chúa và tín ngưỡng cải cách (đạo Tin lành) ngày càng lớn đã dẫn đến những xung đột trầm trọng vào đầu thế kỉ 17. Năm 1618, người Bohemia đã nổi dậy chống lại triều đình Habsburg. Họ thành lập lực lượng quân đôi, tuyên bố rằng ngai vàng Bohemia phải được chọn qua bầu cử. Họ đã chọn một người theo đường lối của Jean CalvinFrederick của Palatinate (Fridrich Falcký) lên ngôi vua. Ngày 8 tháng 11 năm 1620, quân đội Séc bị đánh bại tại Trận Núi Trắng (Bitva na Bílé hoře).

Thất bại của Séc tại Trận Núi Trắng đã càng củng cố địa vị quyền lực của triều đại Habsburg và nhà thờ Thiên chúa giáo. Nhiều quý tộc Séc đã đầu hàng và làm tay sai, số còn lại phần lớn bị trục xuất và bị tịch thu tài sản. Rất nhiều người Séc và người Đức theo Đạo Tin lành đã phải chạy trốn. Đại học Karlova bị hợp nhất vào Học viện Dòng tên Jesus, toàn bộ hệ thống giáo dục bị kiểm soát chặt chẽ bởi các linh mục theo Thiên chúa giáo. Sắc lệnh của hoàng gia Áo cũng trục xuất tất cả các linh mục không theo Thiên chúa giáo.

Sắc lệnh quy định lại ruộng đất vào năm 1677 đã tước bỏ tất cả đất đai của người Séc về tay triều đình Habsburg. Tuy Séc đã thất bại tại trận Núi Trắng, nhưng cuộc Chiến tranh Ba mươi năm vẫn tiếp tục. Bohemia trở thành hiến trường ác liệt. Nhiều thành phố, làng mạc bị tàn phá. Đến năm 1648, Hiệp ước Westphalia đã chính thức sáp nhập Vương quốc Bohemia vào hệ thống chính quyền Áo. Nền độc lập của Bohemia bị hủy bỏ.

Thời kỳ thuộc Đế chế Áo (1648-1867)[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ hoàng Maria Theresa và con trai bà, vua Joseph II là những người chịu ảnh hưởng của Thời đại Khai sáng và đã cai trị Bohemia tương đối hiệu quả. Nữ hoàng Maria Theresa đã hợp nhất những gì còn lại của Bohemia thành các tỉnh của triều đình Áo Habsburg. Tiếng Đức trở thành ngôn ngữ chính thức. Ngay từ khi mới lên ngôi,[1] bà phải lâm chiến với Vương quốc Phổ láng giềng trong hai cuộc Chiến tranh Silesia từ năm 1740 cho đến năm 1745, và cuộc Chiến tranh Bảy năm từ năm 1756 cho đến năm 1763. Vào năm 1741, sau khi thôn tính tỉnh Silesia và đập tan tác quân Áo trong trận đánh tại Mollwitz thì vua nước Phổ là Friedrich II Đại Đế kéo quân vào xứ Bohemia. Vào năm 1742, ông lại đè bẹp quân Áo trong trận đánh tại Chotusitz và chiếm lĩnh hạt Glatz. Vào năm 1744, vua Phổ lại xua quân chinh phạt xứ Bohemia. Ông vây hãm và lấy được thành Praha. Sau đó, ông thọc sâu vào miền Trung xứ Bohemia để truy kích đám bại quân Áo.[2] Nhưng rồi đồng minh của ông là quân Pháp không thể hỗ trợ ông, và rồi ông phải rút quân về tỉnh Silesia - trước khi ông đại phá quân Áo trong trận đánh lớn tại Hohenfriedberg (1745). Sau đại bại tại Hohenfriedberg, tàn quân Áo tháo chạy về xứ Bohemia. Quân Phổ tiến đánh nhưng rồi không song, lại phải rút về tỉnh Silesia. Sau đó, đại quân Áo vây hãm vua Phổ ở Soor. Tuy đứng trước nguy cơ chiến bại khó thể tránh khỏi, nhưng rồi ông lại một lần nữa đại phá quân Áo trong trận đánh tại Soor này.[2]

Sau khi đẩy lui quân Áo trong trận đánh tại Lobositz (Sachsen) vào năm 1756 thì vua Phổ một lần nữa thân chinh đánh xứ Bohemia vào năm 1757. Ông đánh thắng quân Áo trong trận đánh rất khốc liệt tại cổng thành Praha vào ngày 5 tháng 6 năm ấy, nhưng khi kéo quân vào thì đại bại trong trận đánh tại Kolín, nên phải lui binh - trước khi đánh tan tác liên quân Áo - Pháp trong trận đánh lớn tại Rossbach vào ngày 5 tháng 11 năm 1757.[3][4] Sau khi đè bẹp đại quân Áo trong trận đánh lớn tại Leuthen (1757) thì ông cũng cầm quân đi đánh xứ Moravia vào năm 1758, nhưng không thành, phải rồi bỏ pháo đài Olomouc và kéo quân về phương Bắc, đánh đuổi được đồng minh của quân Áo là quân Nga trong trận đánh rất đẫm máu tại Zorndorf.[4][5] Vào năm 1778, cuộc Chiến tranh Kế vị Bayern bùng nổ, vua Friedrich II Đại Đế lại chinh chiến tại xứ Bohemia.[6] Kết thúc cuộc chiến, ông đạt được thắng lợi và rút quân về tỉnh Silesia.[7] Nữ hoàng Maria Theresia và con trai đã cai trị Séc với những chính sách khác nhau. Họ ra sức xóa bỏ những gì còn sót lại của Bohemia, tiến hành đồng hóa người Séc. Tuy nhiên, họ cũng đã góp phần cải thiện tình hình xã hội, giáo dục cho người dân Séc, đem lại một số cơ hội phát triển kinh tế cho họ. Đầu thế kỉ 19, chủ nghĩa bành trướng của Pháp dưới thời Hoàng đế Napoléon I đã kích động những ý tưởng về phong trào phục hưng dân tộc của người Slav. Ở Bohemia, nơi mà đa phần quý tộc là người Đức hoặc Đức hóa, những người tiên phong trong phong trào phục dân tộc Séc thuộc về tầng lớp tri thức mới, mà lĩnh vực đầu tiên chính là ngôn ngữ. Josef DobrovskýJosef Jungmann đã có công rất lớn trong việc đưa tiếng Séc vào giảng dạy ở trường học và sự phát triển của việc sử dụng tiếng Séc công khai.

Vào năm 1818, Bảo tàng Vương quốc Bohemia được thành lập. Vào năm 1827, bảo tàng này đã xuất bản tờ báo đầu tiên của những người Séc dân tộc chủ nghĩa. Praha trở thành một trung tâm tri thức của người Slav.

Phong trào Cách mạng Tháng Hai bùng nổ tại Pháp năm 1848 đã kéo theo phong trào cách mạng lan khắp châu Âu. Vào ngày 12 tháng 6 năm 1848, cuộc khởi nghĩa vũ trang do những người dân chủ cấp tiến lãnh đạo bùng nổ tại Praha và được sự ủng hộ của nhân dân. Tuy nhiên đến ngày 17 tháng 6, cuộc khởi nghĩa bị đàn áp và dập tắt.

Thời kỳ thuộc Đế chế Áo-Hung (1867-1918)[sửa | sửa mã nguồn]

Lá cờ của Đế chế Áo-Hung (1869-1918)
Bản đồ Đế chế Áo-Hung

Năm 1867, nhà nước quân chủ lưỡng hợp Áo-Hung được thành lập (được biết đến với cái tên Đế chế Áo-Hung). Tuy hai phần của đế chế có cùng một người cai trị, các chính sách đối ngoại, song ÁoHungary gần như là hai phần độc lập với nhau. Mỗi phần có chính phủ, quốc hội, hệ thống hành chính và pháp luật riêng.

Ở Áo, những người Đức chiếm nhiều quyền lực trong quốc hội từ năm 1867-1879. Họ ủng hộ việc duy trì các đặc quyền của người Đức tại Áo. Nhưng những người lãnh đạo Séc, thường được gọi là "Séc Già", đã cố gắng liên minh với các quý tộc Bohemia Đức hóa để ủng hộ quyền tự trị của Bohemia. Thực chất, những người Séc Già mong muốn khôi phục lại cả Vương quốc Bohemia (bao gồm cả Moravia và Silesia). Tuy nhiên họ đã thất bại do sự phản đối gay gắt từ người Đức và Hungary.

Dưới thời chính phủ của Eduard Taaffe, đã có một số nhượng bộ đối với người Séc. Năm 1880, tiếng Séc được bình đẳng với tiếng Đức. Năm 1882, Đại học Karlova-Ferdinand phân chia thành hai học viện, một cho người Đức và một cho người Séc. Tuy nhiên những sự nhượng bộ đó là không đủ để mang lại cơ hội phát triển công nghiệp và thương mại cho Séc.

Trong khi mối quan hệ giữa người Đức và người Séc ở Bohemia ngày càng xấu đi thì tình hình lại khá yên ổn tại Moravia. Năm 1905, những sự nhượng bộ cần thiết đã đạt được giữa người Séc đa số và người Đức thiểu số cho tới khi đế chế Habsburg kết thúc vào năm 1918.

Trong thập kỉ cuối cùng của Đế chế Áo-Hung, đế chế ngày càng suy tàn bởi những mâu thuân gay gắt giữa người Đức và người Séc. Năm 1900, Tomáš Masaryk, người sau này trở thành Tổng thống Tiệp Khắc, đã thành lập Đảng Tiến bộ Séc. Chủ trương thành lập một quốc gia kết hợp giữa Séc và Slovakia được ủng hộ rộng rãi.

Tiệp Khắc (1918-1993)[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Tiệp Khắc năm 1928

Vào cuối thế kỉ 19, Séc và Slovakia có ngôn ngữ tương đồng với nhau. Tuy cùng thuộc Đế chế Áo-Hung song hai vùng đất này lại có tình hình khác biệt rõ rệt. Các lãnh thổ Séc chịu sự cai trị của Áo và có trình độ phát triển kinh tế cao hơn, còn Slovakia thì lại chịu sự cai trị của Hungary. Tuy nhiên, hai dân tộc có cùng chung nguyện vọng thoát khỏi đế chế Habsburg, thành lập một quốc gia độc lập. Cuối thế kỉ 19, ý tưởng về một quốc gia kết hợp giữa Séc và Slovakia được nhen nhóm, hai vùng đất ngày càng tăng cường quan hệ với nhau.

Sau khi Thế chiến thứ nhất kết thúc cùng với sự sụp đổ của Đế chế Áo-Hung, ngày 28 tháng 10 năm 1918, Cộng hòa Tiệp Khắc (bao gồm Séc và Slovakia ngày nay) tuyên bố độc lập. Hiệp ước St. Germain được ký kết vào tháng 9 năm 1919 đã chính thức công nhận nền cộng hòa mới của Tiệp Khắc. Sau đó, Ruthenia cũng được sáp nhập vào Tiệp Khắc vào tháng 6 năm 1920. Quốc gia Tiệp Khắc mới thành lập có dân số khoảng 13,5 triệu người, thừa hưởng tới 70-80% các cơ sở công nghiệp của Áo-Hung. Lúc đó Tiệp Khắc là một trong mười nước công nghiệp hóa nhất thế giới.

Chính quyền phát xítĐức bắt đầu đe dọa tiến hành xâm lược Trung Âu. Sau khi sáp nhập Áo vào lãnh thổ Đức, Tiệp Khắc trở thành mục tiêu tiếp theo của phát xít Đức. Tháng 4 năm 1938, Đức nêu yêu sách đòi vùng đất Sudentenland của Tiệp Khắc. Ngày 29 tháng 9 năm 1938, Hiệp ước München được ký kết. Anh, Pháp vì không muốn chiến tranh với Đức đã quyết định vứt bỏ liên minh quân sự với Tiệp Khắc. Đến ngày 16 tháng 3 năm 1939, Đức đã chiếm được toàn bộ Tiệp Khắc. Trong những năm Thế chiến thứ hai, khoảng 390.000 người dân thành thị, trong đó có 83.000 người Do Thái đã bị giết hại hoặc bị hành quyết. Hàng trăm ngàn người đã bị đưa vào các nhà tù và các trại tập trung để làm công việc khổ sai. Chiến tranh kết thúc vào ngày 9 tháng 5 năm 1945 với việc cuộc khởi nghĩa Praha lật đổ ách thống trị của phát xít Đức thành công và quân đội Liên XôMỹ tiến vào Tiệp Khắc.

Từ năm 1945-1946, hầu như toàn bộ người Đức thiểu số (khoảng 2,7 triệu người) đã bị trục xuất khỏi Tiệp Khắc sang Đức và Áo. Sau Thế chiến thứ hai, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc nhanh chóng phát triển do sự thất vọng của người Tiệp Khắc đối với phương Tây vì đã vứt bỏ họ trong Hiệp ước München và ảnh hưởng của Liên Xô. Trong cuộc bẩu cử năm 1946, Đảng Cộng sản đã giành được tỉ lệ phiếu 38%, trở thành chính đảng lớn nhất và chính thức cầm quyền từ tháng 2 năm 1948. Sau đó, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã xây dựng một chính quyền toàn cộng sản.

Những người biểu tình trong phong trào Mùa Xuân Praha 1968

Sau khi nắm quyền, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã quốc hữu hóa các ngành kinh tế, xây dựng một nền kinh tế tập trung. Kinh tế tăng trưởng nhanh trong thập niên 1950thập niên 1960, sau đó bắt đầ giảm sút từ thập niên 1970 và rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Chính quyền ngày càng thiếu dân chủ. Năm 1968, phong trào Mùa Xuân Praha bùng nổ đòi mở rộng tự do dân chủ và thực hiện đa nguyên chính trị, song sau đó bị quân đội Liên Xô đàn áp và dập tắt.

Tháng 11 năm 1989, cuộc Cách mạng Nhung lụa diễn ra trong hòa bình, đưa đất nước Tiệp Khắc trở lại quá trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, Tiệp Khắc diễn ra cuộc "chia li trong hòa bình". Hai dân tộc Séc và Slovakia tách ra, thành lập hai quốc gia mới là Cộng hòa Séc và Cộng hòa Slovakia.

Cộng hòa Séc[sửa | sửa mã nguồn]

Một tòa nhà chọc trời ở Praha ngày nay

Quốc hội Cộng hòa Séc quyết định giữ lá cờ của Tiệp Khắc làm lá cờ của nước Cộng hòa Séc. Sau khi độc lập, Cộng hòa Séc đã gia nhập NATO vào ngày 12 tháng 3 năm 1999. Năm 2004, cùng với 9 nước Đông và Nam Âu khác, Cộng hòa Séc đã trở thành một thành viên của Liên minh Châu Âu. Từ đó đến nay, Cộng hòa Séc đi theo nền kinh tế thị trường và đang phát triển nhanh chóng. Ngày nay, Cộng hòa Séc là một địa điểm du lịch nổi tiếng trên thế giới và là một đất nước khá yên bình.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 3
  2. ^ a ă Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 5
  3. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 6
  4. ^ a ă Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 7
  5. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 242
  6. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 373
  7. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 11