Lịch sử Úc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lịch sử châu Úc)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Úc nhìn qua vệ tinh

Lịch sử Úc đề cập đến lịch sử khu vực và nhân dân Thịnh vượng chung Úc và những cộng đồng bản địa và thuộc địa tiền thân của nó. Người Úc Nguyên trú được cho là lần đầu tiên đến đại lục Úc theo đường biển từ Đông Nam Á hải đảo từ 40.000-70.000 năm trước. Các truyền thống mỹ thuật, âm nhạc, tinh thần mà họ tạo nên nằm trong số những truyền thống tồn tại lâu nhất trong lịch sử nhân loại.

Cuộc đổ bộ đầu tiên được biết đến của người châu Âu tại Úc là của một nhà hàng hải người Hà Lan tên là Willem Janszoon vào năm 1606. Hai mươi chín nhà hàng hải người Hà Lan khác khám phá vùng bờ biển miền tây và miền nam trong thế kỷ 17, và đặt cho lục địa tên gọi "Tân Hà Lan". Những người thu hoạch hải sâm Makassar đến bờ biển miền bắc của Úc sau năm 1720, có thể sớm hơn. Những nhà thám hiểm người châu Âu nối tiếp khám phá lục địa, đến năm 1770 thì Thuyền trưởng James Cook lập bản đồ bờ biển phía đông của Úc cho Anh Quốc và trở về với các báo cáo chủ trương thuộc địa hóa tại vịnh Botany (hiện nằm trong thành phố Sydney).

Một hạm đội của Anh Quốc đến vịnh Botany vào tháng 1 năm 1788[1] nhằm thiết lập một thuộc địa hình sự. Trong thế kỷ tiếp theo, người Anh thiết lập các thuộc địa khác trên lục địa, và các nhà thám hiểm người châu Âu mạo hiểm tiến vào khu vực nội lục. Người Úc bản địa suy yếu đi nhiều và số lượng bị suy giảm do các dịch bệnh lan truyền từ những người thực dân và xung đột với họ trong giai đoạn này.

Các phong trào tìm vàng và các ngành nông nghiệp đem lại sự thịnh vượng cho Úc. Chế độ dân chủ nghị viện tự trị bắt đầu được thiết lập trên toàn bộ sáu thuộc địa của Anh từ giữa thế kỷ 19. Thông qua trưng cầu dân ý, các thuộc địa chấp thuận thống nhất trong một liên bang vào năm 1901, và nước Úc hiện đại xuất hiện. Úc chiến đấu bên cạnh Anh trong hai chiến tranh thế giới và trở thành một đồng minh của Hoa Kỳ trước mối đe dọa từ Đế quốc Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Giao thương với châu Á gia tăng và một chương trình nhập cư hậu chiến tiếp nhận trên 6,5 triệu người nhập cư từ mọi lục địa.

Úc nguyên thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh trên đá tại Ubirr thuộc Công viên quốc gia Kakadu. Bằng chứng về mỹ thuật Nguyên trú tại Úc có thể truy nguyên khoảng 30.000 năm.

Các tổ tiên của người Úc bản địa được cho là đến Úc từ 40.000-70.000 năm trước, và có thể là ngay từ 70.000 năm trước.[2][3] Họ phát triển một phương thức sinh hoạt săn bắn và hái lượm, thiết lập các truyền thống tinh thần và mỹ thuật lâu dài và sử dụng kỹ thuật đồ đá. Tại thời điểm có tiếp xúc lần đầu với người châu Âu, ước tính dân số bản địa ít nhất là 350.000,[4][5] trong khi các phát hiện khảo cổ học gần đây cho thấy rằng có thể từng duy trì dân số 750.000 người bản địa.[6][7] Tồn tại những thảo luận khảo cổ học đáng kể về tuyến đường mà những người định cư tới. Họ dường như đến bằng đường biển trong một thời kỳ băng hà, khi New GuineaTasmania được nối với lục địa. Tuy nhiên, hành trình vẫn cần phải đi qua biển, khiến họ nằm trong các thủy thủ ban đầu của thế giới.[8]

Những hài cốt loài người sớm nhất được biết đến được phát hiện tại hồ cạn Mungo thuộc vùng tây nam của New South Wales.[9] Các hài cốt phát hiện được tại Mungo ám chỉ một trong những sự hỏa táng cổ xưa nhất được biết đến trên thế giới, do đó biểu thị bằng chứng ban đầu về lễ nghi tôn giáo của nhân loại.[10] Theo thần thoại của người Úc Nguyên trú và các khung ảnh vật linh phát triển tại Úc thời nguyên thủy, Mộng tưởng là một thời đại thiêng liêng mà khi đó Linh hồn tổ tiên sáng lập thế gian. Mộng tưởng thiết lập luật lệ và các cấu trúc xã hội và các lễ nghi được thực hiện nhằm đảm bảo tính liên tục của sinh tồn và đất đai. Nó còn là một đặc điểm nổi bật của mỹ thuật dân Úc Nguyên trú. Mỹ thuật Nguyên trú được cho là truyền thống mỹ thuật đang duy trì có niên đại lâu dài nhất trên thế giới.[11] Bằng chứng về mỹ thuật Nguyên trú có thể truy nguyên từ ít nhất là 30.000 năm và được phát hiện trên khắp Úc (đáng chú ý là tại UluruCông viên quốc gia Kakadu tại Lãnh thổ phương Bắc).[12][13] Theo các tiêu chí niên đại và sự phong phú, mỹ thuật hang động tại Úc có thể sánh được với LascauxAltamira tại châu Âu.[14][15]

Manning Clark viết rằng tổ tiên của những người Nguyên trú chậm chạp tiếp cận Tasmania, có lẽ là do một chướng ngại băng tồn tại qua khu vực đông nam của lục địa. Ông lưu ý rằng người Nguyên trú không phát triển nông nghiệp có thể là do thiếu các thực vật có hạt và động vật phù hợp để thuần hóa. Do đó, dân số vẫn ở mức thấp. Clark nhận định rằng ba thế lực định cư và thương nhân tiềm năng thời tiền châu Âu: người Ấn Độ giáo-Phật giáo tại miền nam Ấn Độ, người Hồi giáo tại miền bắc Ấn Độ, và người Hoa đuối dần trong bước tiến về phương nam của họ và không nỗ lực định cư qua các eo biển chia tách Indonesia và Úc. Song các ngư dân bắt hải sâm đã tiếp cận bờ biển phía bắc của lục địa, họ gọi nó là "Marege" hay "vùng đất của hải sâm".[16] Trong nhiều thế kỷ, mậu dịch hưng thịnh giữa người Makassar với dân Nguyên trú tại vùng bờ biển miền bắc của Úc, đặc biệt là với người Yolngu ở đông bắc của Arnhem Land.

Một nam giới Luritja trình diễn cách thức tấn công bằng boomerang với khiên chắn (1920).

Mật độ dân số lớn nhất của người Nguyên trú phát triển tại các khu vực miền nam và miền đông, cụ thể là thung lũng sông Murray. Người Nguyên trú cư trú và sử dụng các tài nguyên trên lục địa một cách bền vững, đồng ý ngưng săn bắn và hái lượm trong các thời gian cụ thể để cho số lượng và tài nguyên có cơ hội bổ sung. "Firestick farming" trong những người Úc miền bắc được sử dụng để kích thích thực vật sinh trưởng và từ đó thu hút động vật.[17] Tuy thế, việc những người Úc đầu tiên đến vẫn có tác động đáng kể đến lục địa, và cùng với biến đổi khí hậu, có thể đã góp phần vào sự tuyệt chủng của các động vật cỡ lớn tại Úc.[18] Việc người Nguyên trú đưa vào chó Dingo khoảng 3.000–4.000 năm trước có thể, cùng với săn bắn của loài người, góp phần vào sự tuyệt chủng của chó sói Tasmania, quỷ Tasmania, và gà bản địa Tasmania khỏi đại lục Úc.[19][20]

Mặc dù tính liên tục văn hóa là đáng kể, song sinh hoạt không phải là không có biến hóa đáng kể. Khoảng 10.000-12.000 năm trước, Tasmania bị cô lập khỏi đại lục, và một số kỹ thuật đồ đá không tiếp cận đến người Tasmania (chẳng hạn các công cụ có cán bằng đá và sử dụng Boomerang).[21] Lãnh thổ không phải luôn hiền hòa; người Nguyên trú tại vùng đông nam Úc phải chịu "hơn một tá vụ phun trào núi lửa...(bao gồm cả) núi Gambier mới chỉ 1.400 năm trước."[22] Tại vùng đông nam Úc, gần hồ Condah ngày nay, các làng bán vĩnh cửu gồm các phòng bằng đá hình tổ ong được phát triển, gần nguồn cung thực phẩm phong phú.[23]

Làn sóng ban đầu của các nhà quan sát người châu Âu như William Dampier miêu tả phương thức sinh hoạt săn bắn-hái lượm của dân Nguyên trú tại vùng bờ biển phía tây là gian khổ và "bi thảm". Mặt khác, Thuyền trưởng James Cook tự thuật hành trình của mình rằng "người bản địa tại Tân Hà Lan" (dân Nguyên trú bờ biển phía đông mà ông tiếp xúc) có lẽ thực ra hạnh phúc hơn nhiều so với người Âu.[24] Watkin Tench thuộc Đệ nhất Hạm đội viết ca tụng những người Nguyên trú của Sydney như những người tốt bụng và vui vẻ, song ông cũng tường thuật về thù địch bạo lực giữa người Eora và Cammeraygal, và lưu ý đấu khẩu kịch liệt giữa bạn mình là Bennelong với vợ của ông ta là Barangaroo.[25] Những người định cư trong thế kỷ 19 như Edward Curr quan sát rằng người Nguyên trú "chịu đựng ít hơn và tận hưởng cuộc sống nhiều hơn đa số người văn minh."[26] Sử gia Geoffrey Blainey viết rằng tiêu chuẩn vật chất trong sinh hoạt của người Nguyên trú về đại thể là cao, cao hơn thứ của nhiều người châu Âu sống vào thời người Hà Lan khám phá Úc.[27]

Đến năm 1788, cư dân tồn tại với 250 dân tộc, nhiều dân tộc liên minh với nhau, và trong mỗi dân tộc lại tồn tại một số thị tộc, từ ít như 5-6 hay nhiều như 30-40. Mỗi dân tộc có ngôn ngữ riêng và một vài trong đó phức hợp, do đó tồn tại trên 250 ngôn ngữ, khoảng 200 trong số đó nay đã tuyệt diệt. "Các quy tắc quan hệ họ hàng phức tạp quyết định các quan hệ xã hội của mọi người và các sứ giả ngoại giao và các lễ nghi tụ họp dàn xếp quan hệ giữa các nhóm," giữ cho việc đấu tranh, yêu thuật, và tranh chấp nội bộ giảm đến mức tối thiểu.[28]

Những người châu Âu định cư vĩnh cửu đến Sydney vào năm 1788 và nắm quyền kiểm soát hầu hết lục địa vào cuối thế kỷ 19. Thành lũy của các xã hội Nguyên trú phần lớn không biến đổi vẫn tồn tại, đặc biệt là tại miền bắc và miền tây Úc trong thế kỷ 20, cuối cùng, một nhóm người Pintupitại hoang mạc Gibson trở thành những người cuối cùng tiếp túc với bên ngoài vào năm 1984.[29][29] Trong khi nhiều kiến thức bị mất, mỹ thuật, âm nhạc và văn hóa Nguyên trú thường bị người châu Âu khinh miệt trong giai đoạn đầu tiếp xúc, vẫn tồn tại và hiện thời được cộng đồng Úc nói chung tán dương.

Tác động của người châu Âu định cư[sửa | sửa mã nguồn]

Bức vẽ nhà hám hiểm và nhà ngoại giao Nguyên trú Bungaree trong y phục kiểu Anh tại Sydney vào năm 1826.

Cuộc đổ bộ đầu tiên được biết đến của người châu Âu tại Úc là của nhà hàng hải người Hà Lan Willem Janszoon vào năm 1606. Hai mươi chín nhà hàng hải người Hà Lan khác thám hiểm bờ biển miền tây và miền nam trong thế kỷ 17, đặt tên cho lục địa là Tân Hà Lan.[30] Những người thu hoạch hải sâm Makassar đến bờ biển miền bắc của Úc sau năm 1720, có thể từ trước đó.[31][32] Những nhà thám hiểm người châu Âu khác tiếp tục thám hiểm cho đến khi nhà hàng hải người Anh James Cook yêu sách bờ biển phía đông của Úc cho Anh vào năm 1770, song không tiến hành đàm phán với các cư dân hiện hữu.[33] Ông trở về với các báo cáo chủ trương thuộc địa hóa tại vịnh Botany (nay thuộc Sydney).

Thống đốc đầu tiên là Arthur Phillip được chỉ thị rõ ràng để lập quan hệ hữu nghị và hữu hảo với người Nguyên trú và tác động giữa những người mới đến ban đầu và các chủ đất cổ có khác biệt đáng kể trong thời kỳ thuộc địa- từ biểu hiện hiếu kỳ từ phía những người đàm thoại ban đầu là Bennelong và Bungaree tại Sydney, cho đến hoàn toàn thù địch của Pemulwuy và Windradyne tại khu vực Sydney,[34]Yagan quanh Perth. Bennelong và một người bạn trở thành những người Úc bản địa đầu tiên đi thuyền đến châu Âu, tại đó họ gặp Quốc vương George III. Bungaree đi cùng nhà thám hiểm Matthew Flinders trong hành trình đầu tiên vòng quanh Úc bằng đường biển. Pemulwuy bị buộc tội giết một người định cư da trắng vào năm 1790, và Windradyne kháng cự sự bành trướng của người Anh qua dãy Blue.[35]

Two of the Natives of New Holland Advancing, To Combat (1770), bức vẽ của Sydney Parkinson, người vẽ tranh minh họa của James Cook.

Theo sử gia Geoffrey Blainey, tại Úc trong thời kỳ thuộc địa: "Trong một nghìn địa điểm biệt lập thỉnh thoảng xảy ra bắn súng và xâm xiên. Thậm chí tệ hơn, bệnh đậu mùa, sởi, cúm và các bệnh dịch khác quét từ một trại dân Nguyên trú sang trại khác... Những nhà chính phục chính đối với dân Nguyên trú là dịch bệnh và đồng minh của nó là sự mất tinh thần".[36] Thậm chí trước khi người định cư châu Âu đến các khu vực xa bờ biển New South Wales, dịch bệnh Âu-Á thường có từ trước. Một dịch bệnh đậu mùa được ghi nhận gần Sydney vào năm 1789, tiêu diệt khoảng một nửa số người Nguyên trú quanh Sydney. Có khác biệt về nguồn gốc của dịch bệnh đậu mùa, một số nhà nghiên cứu cho rằng bệnh đậu mùa lan đến do tiếp xúc với ngư dân Indonesia tại cực bắc và sau đó lan truyền xuyên lục địa, tiếp cận khu vực Sydney vào năm 1789.[37][38] Nghiên cứu khác của Craig Mear,[39] Michael Bennett,[40] và Christopher Warren)[41] thì cho rằng có khả năng cao là đợt bùng phát đậu mùa 1789 là một hành động chủ tâm của hải quân Anh khi họ cạn đạn dược và cần khoách trương khu định cư ra đến Parramatta.[42] Đậu mùa đương thời lan truyền ra ngoài giới hạn của khu định cư châu Âu, bao gồm hầu hết miền đông nam Úc, tái xuất hiện vào 1829–30, làm thiệt mạng 40–60% dân số Nguyên trú.[43]

Tuyên cáo được công bố tại Đất Van Diemen vào năm 1816 bởi Phó thống đốc Arthur, giải thích luật của Anh dưới dạng hình ảnh cho người Nguyên trú Tasmania. Tasmania trải qua xung đột ở mức độ cao hơn so với các thuộc địa khác.[44]

Nhiều sự kiện bạo lực phát sinh khi những người Nguyên trú tìm cách bảo vệ đất của mình trước sự xâm lấn và khi những người định cư và người chủ trại chăn nuôi gia súc tìm cách thiết lập sự hiện diện của họ. Trong tháng 5 năm 1804, tại vịnh Risdon, Đất Van Diemen,[45] có thể có 60 người Nguyên trú bị giết khi họ tiếp cận thị trấn.[46] Người Anh thiết lập một tiền đồn tại Đất Van Diemen vào năm 1803. Mặc dù lịch sử Tasmania nằm trong các vấn đề tranh luận cao nhất giữa các sử gia hiện đại, song xung đột giữa những người thực dân và dân Nguyên trú được đề cập đến trong một số tường thuật đương thời với tên gọi Chiến tranh Đen.[47] Tác động cộng hưởng của dịch bệnh, tước đoạt đất đai, hôn nhân dị chủng và xung đột gây một sự suy sụp cho cư dân Nguyên trú Tasmania từ vài nghìn người khi người Anh đến, xuống vài trăm vào thập niên 1830. Ước tính số người bị giết tại Đất Van Diemen trong giai đoạn bắt đầu từ khoảng 300, song xác minh con số chính xác là không thể.[48][49]

Năm 1838, có ít nhất hai mươi tám người Nguyên trú bị sát hại tại Myall Creek thuộc New South Wales, dẫn đến việc tòa án thuộc địa kết án chưa có tiền lệ và treo cổ bảy người da trắng định cư.[50] Những người Nguyên trú cũng tấn công những người da trắng định cư—năm 1838 có mười bốn người châu Âu bị sát hại tại sông Broken thuộc khu vực Port Phillip, bởi người Nguyên trú tại sông Ovens.[51] Bảo hộ trưởng dân Nguyên trú khu vực Port Phillip George Augustus Robinson từng được bảo rằng "nếu một thành viên của một bộ lạc phạm tội, tiêu diệt toàn bộ."[52] Bộ trưởng Thuộc địa của Queensland's Colonial A.H. Palmer viết vào năm 1884 "bản tính của người da đen rất xảo trá đến nỗi chỉ có thể chỉ đạo họ bằng sự sợ hãi—trong thực tế đó là cách khả dĩ duy nhất để cai trị...người Úc Nguyên trú...bằng cũ lực tàn bạo"[53]

Từ thập niên 1830, các chính phủ thuọc địa thiết lập các chức vụ Bảo hộ dân Nguyên trú trong một nỗ lực nhằm tránh ngược đãi các dân tộc Bản địa và chỉ đạo chính sách của chính phủ đối với họ. Các giáo hội Cơ Đốc tại Úc nỗ lực cải đạo dân Nguyên trú, và thường được chính phủ sử dụng để tiến hành các chính sách phúc lợi và đồng hóa. Những tăng lữ như Tổng giám mục CÔng giáo đầu tiên của Sydney, John Polding tán thành mãnh liệt các quyền lợi và phẩm giá của dân Nguyên trú[54]

Khủng hoảng vịnh Caledon năm 1932–34 nằm trong số những sự kiện tác động bạo lực cuối cùng trên "biên giới" của người Úc bản địa và phi bản địa. Khi khủng hoảng phát sinh, dư luận toàn quốc đứng sau những người Nguyên trú tham dự, và lần đầu tiên xảy ra chống án nhân danh một người Úc bản địa đến Tòa án Thượng thẩm Úc. Sau khủng hoảng, nhà nhân loại học Donald Thomson được chính phủ phái đi sống cùng người Yolngu.[55]

Người châu Âu di cư[sửa | sửa mã nguồn]

Những nhà thám hiểm ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Những cuộc thám hiểm của người châu Âu cho đến năm 1812
  1616 Dirk Hartog
  1644 Abel Tasman
  1770 James Cook
  1797–99 George Bass
  1801–03 Matthew Flinders

Mặc dù tồn tại một thuyết về việc người Bồ Đào Nha khám phá Úc trong thập niên 1520, song nó thiếu bằng chứng rõ ràng.[56][57][58] Tàu Duyfken của Hà Lan, dưới quyền Willem Janszoon tiến hành cuộc đổ bộ được ghi chép đầu tiên tại Úc vào năm 1606.[59] Trong cùng năm đó, một đoàn thám hiểm của Tây Ban Nha dưới quyền Pedro Fernandez de Quiros đi đến vùng biển lân cận Úc và đổ bộ lên Tân Hebrides, và cho rằng quần đảo này là lục địa phương nam huyền thoại nên đặt cho vùng đất là: "Terra Austral del Espiritu Santo" (Đất Phương Nam của Thánh Linh).[60] Cũng trong năm đó, cấp phó của De Quiros là Luís Vaez de Torres đi qua eo biển Torres và có thể đã trông thấy bờ biển miền bắc của Úc.[61]

Người Hà Lan, theo các tuyến tàu biển đến Đông Ấn Hà Lan, hoặc khi đi tìm vàng, gia vị hoặc cải đạo Cơ Đốc tiếp tục đóng góp một số lượng lớn kiến thức cho người châu Âu về bờ biển Úc.[62] Năm 1616, Dirk Hartog đi chệch hành trình từ Mũi Hảo Vọng đến Batavia, đổ bộ lên một đảo ngoài khơi vịnh Shark, Tây Úc.[62] Trong năm 1622–23, tàu Leeuwin tiến hành vòng quanh góc tây nam lục địa, và đặt tên mình cho Mũi Leeuwin.[63]

Năm 1627, bờ biển miền nam của Úc vô tình được François Thijssen khám phá và được đặt tên là 't Land van Pieter Nuyts, nhằm vinh danh hành khách có cấp bậc cao nhất là Pieter Nuyts,[64] Năm 1628, một đội tàu của Hà Lan do Toàn quyền Đông Ấn Hà Lan Pieter de Carpentier phái đi nhằm khám phá bờ biển miền bắc Úc. Những tàu này khảo sát trên quy mô rộng, đặc biệt là tại vịnh Carpentaria, đặt tên cho vịnh để vinh danh De Carpentier.[63]

Hành trình của Abel Tasman vào năm 1642 là cuộc thám hiểm đầu tiên được biết đến của người châu Âu trong việc tiếp cận Đất Van Diemen (sau là Tasmania) và New Zealand, và trông thấy Fiji. Trong hành trình thứ nhì của mình vào năm 1644, ông cũng có đóng góp đáng kể đến việc lập bản đồ đại lục Úc, tiến hành quan sát lãnh địa và dân chúng tại bờ biển phía bắc bên dưới New Guinea.[65]

Mặc dù có nhiều đề xuất về thuộc địa hóa, đáng chú ý là của Pierre Purry từ 1717 đến 1744, song không đề xuất nào được tiến hành chính thức.[66] Người Úc bản địa ít có năng lực trong việc mậu dịch với người châu Âu so với các dân tộc tại Ấn Độ, Đông Ấn, Trung Quốc, và Nhật Bản. Công ty Đông Ấn Hà Lan kết luận rằng "không có gì hay để làm tại đó", họ bác bỏ kế hoạch của Purry với lý do chi phí cao và không có lợi.

Ngoại trừ các chuyến thăm tiếp tục của người Hà Lan ở phía tây, Úc phần lớn vẫn chưa được người châu Âu ghé đến cho đến khi có những đoàn thám hiểm đầu tiên của Anh. John Callander đưa ra một đề xuất vào năm 1766 cho Anh nhằm thành lập một thuộc địa của các tù nhân bị đày tại Nam Đại Dương hoặc tại Terra Australis để tạo điều kiện cho mẫu quốc khai thác của cải của các khu vực này.[67]

Năm 1769, Thuyền trưởng James Cook chỉ huy HMS Endeavour đi đến Tahiti để quan sát và ghi nhận về sao Kim đi ngang qua Mặt Trời. James Cook cũng thực hiện chỉ thị mật của Hải quân về xác định Lục địa phương Nam giả tưởng.[68] Lục địa này không phát hiện được, Alexander Dalrymple cùng các thành viên đồng chí trong Hội Hoàng gia trở nên thất vọng, họ thúc giục Bộ Hải quân thực hiện sứ mệnh này.[69] Cook quyết định khảo sát bờ biển phía đông của Tân Hà Lan, bộ phận chủ yếu duy nhất chưa được các nhà hàng hải người Hà Lan lập bản đồ.[70]

Ngày 19 tháng 4 năm 1770, Endeavour trông thấy bờ biển phía đông của Úc, và mười ngày sau thì đổ bộ lên vịnh Botany. James Cook lập bản đồ bờ biển về phía bắc, cùng với nhà tự nhiên học trên tàu là Joseph Banks, nhân vật này sau đó báo cáo tán thành khả năng thiết lập một thuộc địa tại vịnh Botany. James Cook chính thức tuyên bố quyền chiếm hữu với bờ biển phía đông của Tân Hà Lan vào ngày 21/22 tháng 8 năm 1770.[71][72]

Năm 1772, một đoàn thám hiển của Pháp dưới quyền Louis Aleno de St Aloüarn trở thành những người châu Âu đầu tiên chính thức tuyên bố chủ quyền dối với bờ biển phía tây của Úc, song không có nỗ lực thuộc địa hóa tiếp sau đó.[73] Tham vọng của Quốc vương Thụy Điển Gustav III về thiết lập một thuộc địa cho nước mình tại sông Swan vào năm 1786 bị chết yểu.[74] Cho đến năm 1788, khi các điều kiện kinh tế, kỹ thuật và chính trị tại Anh khiến việc thuộc địa hóa trở nên có khả năng và có giá trị, nước này mới tiến hành một nỗ lực lớn khi phái Đệ nhất hạm đội đến New South Wales.[75]

Các kế hoạch thuộc địa hóa[sửa | sửa mã nguồn]

James Cook là người châu Âu đầu tiên tiếp xúc với đường bờ biển phía đông của Úc vào năm 1770.

Mười bảy năm sau khi Cook đổ bộ lên bờ biển phía đông của Úc, chính phủ Anh quyết định thiết lập một thuộc địa tại vịnh Botany. Chiến tranh Cách mạng Mỹ (1775–1783) khiến Anh mất hầu hết thuộc địa của mình tại Bắc Mỹ và cân nhắc thiết lập các lãnh thổ thay thế. Năm 1779, Joseph Banks đề xuất vịnh Botany là một địa điểm phù hợp để định cư, nói rằng "Không phải nghi ngờ rằng một vùng đất như Tân Hà Lan, vốn lớn hơn toàn châu Âu, sẽ cung cấp vật chất cho một chuyến trở về có lợi."[76] Theo hướng dẫn của Joseph Banks, một người Mỹ trung thành với Đế quốc tên là James Matra, người cũng từng du hành với Cook, trình "Một đề xuất về thành lập một khu định cư tại New South Wales" (23 tháng 8 năm 1783), đề xuất thành lập một thuộc địa gồm có những người Mỹ trung thành với Đế quốc, người Hoa và các đảo Nam Đại Dương (song không phải cho tù nhân).[77]

James Matra trình bày rằng: quốc gia này thích hợp đối với các đồn điền mía, bông và thuốc lá; gỗ New Zealand và gai hoặc lanh có thể trở thành các hàng hóa có giá trị; nó có thể tạo thành một căn cứ cho mậu dịch Thái Bình Dương; và nó có thể là một sự đền bù phù hợp cho những người Mỹ trung thành với Đế quốc phải chuyển cư.[78] Sau một cuộc gặp mặt với Quốc vụ khanh Thomas Townshend vào năm 1784, James Matra sửa đổi đề xuất của mình để đưa các tù nhân vào thành phần người định cư, cân nhắc rằng điều này sẽ có lợi cho cả "Kinh tế với quần chúng, & Nhân đạo với cá nhân".[79]

Kế hoạch của Matra tạo ra thiết kế ban đầu cho việc định cư.[80] Các ghi chép thể hiện chính phủ cân nhắc nó vào năm 1784.[81] Các báo tại Luân Đôn công bố vào tháng 11 năm 1784 rằng: "Một kế hoạch đã được trình lên Thủ tướng, và nay là trước Nội các, về thành lập một thuộc địa mới tại Tân Hà Lan. Tại vùng đất rộng lớn này....có thể hy vọng".[82] Chính phủ cũng hợp nhất khu định cư đảo Norfolk vào kế hoạch của họ, với sự thu hút của gỗ và lanh trên đảo.[83]

Đồng thời, những người theo chủ nghĩa nhân đạo và cải cách tiến hành vận động tại Anh nhằm chống lại các điều kiện khủng khiếp trong các trại tù và tàu tù của Anh. Năm 1777, nhà cải cách nhà tù John Howard viết The State of Prisons in England and Wales, trình bày các điều kiện khắc nghiệt của hệ thống nhà tù trước "xã hội lịch sự"."[84] Vận chuyển tù nhân đã tồn tại trong luật hình sự Anh và cho đến Cách mạng Mỹ đã có khoảng một nghìn tù nhân mỗi năm được đưa đến MarylandVirginia.[85] Theo sử gia David Hill, "Người châu Âu biết ít về địa lý toàn cầu" và với "các tù nhân tại Anh, đầy đến vịnh Botany là một viễn cảnh khủng khiếp." Lặp lại lời của John Callander, ông nói Úc "có thể như hành tinh khác."[86]

Quyết định định cư được đưa ra khi dường như bùng nổ nội chiến tại Hà Lan có thể dẫn đến một cuộc chiến mà trong đó Anh sẽ phải đối diện với liên minh gồm ba cường quốc hải quân là Pháp, Hà Lan và Tây Ban Nha, thế lực từng khiến Anh thất bại vào năm 1783. Trong hoàn cảnh này, lợi thế chiến lược của một thuộc địa tại New South Wales được mô tả trong đề xuất của James Matra là hấp dẫn.[87] Năm 1790, trong Khủng hoảng Nootka, Anh từng thiết lập các kế hoạch về các cuộc viễn chinh hải quân chống các thuộc địa của Tây Ban Nha tại châu Mỹ và Philippines, trong đó New South Wales được phân vai trò là một căn cứ để "nghỉ ngơi, liên lạc và triệt thoái". Đầu thế kỷ 19, khi có đe dọa hoặc nổ ra chiến tranh giữa Anh và Tây Ban Nha, các kế hoạch này lại được hồi sinh và chỉ vì chiến sự kéo dài ngắn mà chúng không được thực hiện.[88]

Georg Forster là người đi cùng với James Cook trong hành trình Resolution (1772–1775), viết vào năm 1786 về triển vọng tương lai của thuộc địa Anh: "Tân Hà Lan, một hòn đảo có quy mô khổng lồ hoặc có thể bảo nó là một lục địa thứ ba, là quê hương tương lai của một xã hội văn minh mới..."[89] Thương nhân mạo hiểm và muốn lập thuộc địa tại vùng tây nam của Úc dưới quốc kỳ Thụy Điển, William Bolts, nói với Đại sứ Thụy Điển tại Paris là Erik von Staël trong tháng 12 năm 1789 rằng người Anh đã thành lập tại vịnh Botany, "một khu định cư mà theo thời gian sẽ trở nên quan trọng nhất đối với Thương nghiệp Toàn cầu".[90]

Thuộc địa hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập các thuộc địa của Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ mà Anh yêu sách bao gồm toàn bộ lục địa Úc ở phía đông của kinh tuyến 135° Đông và toàn bộ các đảo tại Thái Bình Dương giữa các vĩ độ của Mũi York và cực nam của Đất Van Diemen (Tasmania). Giới hạn 135° Đông được xác định theo phân chia kinh tuyến Tân Hà Lan từ Terra Australis thể hiện trên Complete Map of the Southern Continent của Emanuel Bowen,[91] phát hành trong các phiên bản của John Campbell về ' Navigantium atque Itinerantium Bibliotheca của John Harris (1744–1748, và 1764).[92] Sĩ quan chỉ huy hải quân người Tây Ban Nha Alessandro Malaspina, người đến Sydney trong tháng 3-4 năm 1793 báo cáo với chính phủ của mình rằng "Vận chuyển tù nhân tạo thành phương tiện và không phải là mục đích của sự nghiệp. Khuếch trương lãnh địa, nghiên cứu thương phẩm và khám phá mỏ là các mục đích thực sự".[93] Một người Pháp là François Péron trong đoàn thám hiểm của Nicolas Baudin đến Sydney vào năm 1802 và báo cáo với chính phủ Pháp: "Làm thế nào mà một cuộc xâm lấn khổng lồ như vậy có thể hoàn thành mà không có phàn nàn nào tại châu Âu để kháng nghị điều đó? Sao có thể hiểu được rằng Tây Ban Nha, thế lực trước đó từng đưa ra rất nhiều phản đối trước việc chiếm đóng Malouines (Quần đảo Falkland), lại ngoan ngoãn cho phép một đế quốc ghê gớm xuất hiện để đương đầu với các thuộc địa giàu có của họ...?[94]

Thuộc địa bao gồm New Zealand ngày nay. Đến năm 1817, chính phủ Anh rút lại yêu sách lãnh thổ mở rộng bao trùm Nam Thái Bình Dương. Trên thực tế, các lệnh của Thống đốc thể hiện rằng không điều hành các đảo tại Nam Thái Bình Dương.[95] Tổ chức Tin Lành Church Missionary Society quan ngại về các hành động tàn bạo chống lại người bản địa tại các đảo Nam Đại Dương, và sự thiếu hiệu quả của chính phủ New South Wales trong việc đối phó với tình trạng vô pháp luật. Do vậy, ngày 27 tháng 6 năm 1817, Quốc hội Anh thông qua một đạo luật mà trong đó mô tả Tahiti, New Zealand và các đảo khác tại Nam Thái Bình Dương không nằm trong lãnh địa của quân chủ bệ hạ.[96]

1788: New South Wales[sửa | sửa mã nguồn]

Đổ bộ Melbourne, 1840; tranh màu nước của W. Liardet (1840)

Thuộc địa New South Wales của Anh được thành lập khi Đệ nhất hạm đội gồm 11 tàu đến dưới quyền Thuyền trưởng Arthur Phillip đến vào tháng 1 năm 1788. Ban đầu nó có trên một nghìn người định cư, kể cả 778 tù nhân (192 nữ giới và 586 nam giới).[97] Vài ngày sau khi đến vịnh Botany, hạm đội chuyển đến nơi phù hợp hơn là Port Jackson và tại đây một khu định cư được thành lập tại vịnh Sydney vào ngày 26 tháng 1 năm 1788.[98] Ngày này về sau trở thành ngày quốc khánh của Úc, ngày Úc. Thuộc địa chính thức được Thống đốc Phillip công bố vào ngày 7 tháng 2 năm 1788 tại Sydney. Vịnh Sydney cung cấp một nguồn cung nước ngọt và một bến cảng an toàn.[99]

Thống đốc Arthur Phillip được trao toàn quyền đối với các cư dân của thuộc địa. Ý định cá nhân của Arthur Phillip là thiết lập quan hệ hài hòa với những người Nguyên trú bán địa và nỗ lực cải tạo cũng như đưa các tù nhân tại thuộc địa vào kỷ luật. Arthur Phillip và một số nhân viên của mình—đáng chú ý nhất là Watkin Tench—để lại các nhật ký và báo cáo mà trong đó kể về những gian khổ lớn lao trong những năm đầu tiên của khu định cư. Các nhân viên của Phillip thường tuyệt vọng về tương lai của New South Wales, nguồn cung từ hải ngoại thì khan hiếm. Từ năm 1788 đến năm 1792 có khoảng 3546 tù nhân nam giới và 766 tù nhân nữ giới đổ bộ lên Sydney—nhiều người là "tội phạm chuyên nghiệp" có ít kỹ năng cần thiết để thiết lập một thuộc địa. Nhiều người mới đến cũng ốm yếu hoặc thiếu sức khỏe để lao động và các tình trạng sức khỏe của tù nhân chỉ xấu đi do lao động khắc nghiệt và dinh dưỡng kém tại khu định cư. Tình hình dinh dưỡng tiếp cận điểm khủng hoảng vào năm 1790 và Đệ nhị hạm đội cuối cùng đến vào tháng 6 năm 1790 đã mất một phần tư số 'hành khách' do đau yếu, trong khi điều kiện của tù nhân trên Đệ tam hạm đội khiến Phillip kinh hãi. Tuy nhiên, từ năm 1791, các tàu đến thường lệ hơn và mậu dịch khởi đầu làm giảm đi cảm giác bị cô lập và cải thiện tiếp tế.[100]

Arthur Phillip phái các đoàn thám hiểm nhằm tìm kiếm đất tốt hơn, tập trung tại khu vực Parramatta, và chuyển nhiều tù nhân từ cuối năm 1788 đến để thành lập một thị trấn nhỏ, nơi này trở thành trung tâm chính của sinh hoạt kinh tế của thuộc địa. Điều này khiến vịnh Sydney chỉ còn là một cảng quan trọng và tập trung vào sinh hoạt xã hội. Trang thiết bị yếu kém và không quen thuộc với đất, cùng khí hậu tiếp tục cản trở khoách trương nông nghiệp từ Farm Cove đến Parramatta và Toongabbie, song một chương trình xây dựng với sự hỗ trợ của các lao động tù nhân khiến tình hình dần tiến triển. Từ năm 1788 đến năm 1792, các tù nhân và cai tù chiếm phần lớn dân số, song sau đó, số lượng các cựu tù nhân được phóng thích bắt đầu tăng trưởng, họ có thể được cấp đất và đi tiên phong trong lĩnh vực kinh tế tư nhân, gia nhập với họ sau này là các binh sĩ mãn hạn phục vụ quân đội, và cuối cùng là các di dân tự do bắt đầu đến từ Anh. Thống đốc Phillip rời khỏi thuộc địa về Anh vào ngày 11 tháng 12 năm 1792, khu định cư mới tồn tại trước nạn đói và bị cô lập cao độ đã bốn năm[100] Ngày 16 tháng 2 năm 1793, những người định cư tự do đầu tiên đến.[101]

Thành lập các thuộc địa khác[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thành lập thuộc địa New South Wales vào năm 1788, Úc bị phân chia thành một nửa phía đông được đặt tên là New South Wales, dưới thẩm quyền của chính phủ thuộc địa tại Sydney, và nửa phía tây mang tên Tân Hà Lan. Biên giới 135° Đông dựa trên Complete Map of the Southern Continent, phát hành trong Complete System of Geography (London 1747) của Emanuel Bowen, và được sao chép trong các phiên bản của John Campbellvề tác phẩm ' Navigantium atque Itinerantium Bibliotheca (1744–48, và 1764) của John Harris. Bản đồ của Bowen dựa trên một bản đồ của Melchisédech Thévenot và được xuất bản trong Relations des Divers Voyages (1663), trong đó dường như phân chia New Holland ở phía tây với Terra Australis ở phía đông bằng một kinh tuyến nằm tại 135°Đông. Sự phân chia này được mô phỏng trong bản đồ của Bowen, cung cấp một biên giới phía tây thuận lợi cho yêu sách của Anh, vì như Watkin Tench sau đó bình luận trong A Narrative of the Expedition to Botany Bay, "Bằng cách phân chia này, có thể thẳng thắn giả định rằng mọi nguồn tranh chấp tương lai giữa Hà Lan và chúng tôi, sẽ mãi bị cắt đứt, do các khám phá của các nhà hàng hải người Anh chỉ bao gồm trong lãnh thổ này".[102]

Street scene of Klemzig which was the first settlement of German emigrants to Australia in 1837

Miêu tả lãng mạn về vẻ đẹp, khí hậu ôn hòa, và đất đai phì nhiêu về đảo Norfolk tại Nam Thái Bình Dương khiến chính phủ Anh thiết lập một khu định cư phụ của thuộc địa New South Wales tại đây vào năm 1788. Họ hy vọng rằng các cây thông đảo Norfolk to lớn và cây lanh mọc hoang trên đảo có thể cung cấp cơ sở cho một kinh tế địa phương. Tuy nhiên, đảo không có cảng an toàn, điều này khiến thuộc địa bị bỏ rơi và những người định cư di tản đến Tasmania vào năm 1807.[103] Đảo sau đó được tái định cư với tình trạng một khu định cư hình sự vào năm 1824.

Năm 1798, George BassMatthew Flinders đi vòng quanh Đất Van Diemen, chứng thực rằng đây là một đảo. Năm 1802, Flinders thành công trong hành trình vòng quanh Úc lần đầu tiên.

Đất Van Diemen được tiến hành hành định cư từ năm 1803, sau một nỗ lực định cư thất bại tại vịnh Sullivan thuộc Victoria ngày nay. Những khu định cư khác của người Anh xuất hiện sau đó tại các địa điểm khác nhau khắp lục địa, nhiều thuộc địa không thành công. Ủy ban Mậu dịch Đông Ấn đề nghị vào năm 1823 rằng một khu định cư phải được thành lập trên bờ biển miền bắc Úc để chặn trước người Hà Lan, và Thuyền trưởng J.J.G. Bremer, RN, được ủy quyền để lập một khu định cư giữa đảo Bathurstbán đảo Cobourg. Bremer cố định địa điểm khu định cư của mình tại Fort Dundas trên đảo Melville vào năm 1824, và do nơi này ở phía tây biên giới công bố năm 1788, tuyên bố chủ quyền của Anh đối với toàn bộ các khu vực được đẩy về phía tây đến 129° Đông.[104]

Biên giới mới bao gồm các đảo Melville và Bathurst, và phần đại lục liền kề. Năm 1826, người Anh tuyên bố chủ quyền mở rộng ra toàn bộ lục địa Úc khi Edmund Lockyer thiết lập một khu định cư tại King George Sound (nền tảng của Albany ngày nay), song biên giới phía đông của Tây Úc vẫn không thay đổi là 129° Đông Australia. Năm 1824, một thuộc địa hình sự được thành lập gần cửa của sông Brisbane (cơ sở của thuộc địa Queensland về sau). Năm 1829, Thuộc địa sông Swan và thủ phủ Perth của nó được thành lập tại bờ biển phía tây của Úc và cũng được giao quyền kiểm soát King George Sound. Tây Úc ban đầu là một thuộc địa tự do, song sau đó chấp thuận các tù nhân người Anh, lý do là thiếu hụt lao động gay gắt.

Thuộc địa Nam Úc được định cư vào năm 1836, biên giới phía tây và phía đông của nó dược chế định là tại 132° và 141° Đông, và biên giới phía bắc theo vĩ tuyến 26° Nam.[105] Điểm biên giới phía tây và phía đông nay được lựa chọn do chính đáng dấu phạm vi đường bờ biển được khảo sát lần đầu tiên bởi Matthew Flinders vào năm 1802. Biên giới phía bắc được Quốc hội Anh chế định theo vĩ tuyến 26° Nam do đó được nhìn nhận là giới hạn kiểm soát hiệu quả lãnh thổ từ một khu định cư thành lập trên bờ vịnh St Vincent; Công ty Nam Úc từng đề xuất lấy vĩ tuyến 20° Nam, sau đó giảm xuống Chí tuyến Nam).[106]

Tù nhân và xã hội thuộc địa[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1788 đến năm 1868, xấp xỉ 161.700 tù nhân (25.000 trong đó là nữ) được vận chuyển đến các thuộc địa New South Wales, Đất Van Diemen và Tây Úc.[107] Sử gia Lloyd Robson ước tính rằng có thể hai phần ba là kẻ trộm đến từ tầng lớp lao động thành thị, đặc biệt là từ miền trung và miền bắc xứ Anh. Phần lớn là người tái phạm tội.[108] Không rõ việc vận chuyển có đạt được mục tiêu cải tạo hay không, song một số tù nhân có thể rời khỏi hệ thống nhà tù tại Úc; sau năm 1801 họ có thể lấy được "vé rời đi" do có thái độ tốt và được phân công lao động cho những người tự do để lấy lương.

Tranh mô tả Nổi loạn Castle Hill năm 1804
Biếm họa tuyên truyền bắt giữa Thống đốc William Bligh trong Nổi loạn Rum năm 1808.

Một số tù nhân, đặc biệt là tù nhân Ireland, được vận chuyển đến Úc vì các tội chính trị hoặc do nổi loạn xã hội, vì vậy nhà cầm quyền nghi ngờ người Ireland và hạn chế việc hành đạo Công giáo tại Úc. Nổi loạn Castle Hill do người Ireland lãnh đạo vào năm 1804 góp phần làm tăng nghi ngờ và đàn áp.[109] Tăng lữ Giáo hội Anh trong khi đó làm việc chặt chẽ với các thống đốc và giáo sĩ Richard Johnson trong việc cải thiện "đạo đức công cộng" tại thuộc địa và cũng tham dự nhiều trong y tế và giáo dục.[110] Mục sư Samuel Marsden (1765–1838) có trách nhiệm quan tòa, và do đó bình đẳng với nhà cầm quyền trước các tù nhân, ông được mệnh danh là "mục sư đòn roi" do trừng phạt nghiêm khắc.[111]

Quân đoàn New South Wales hình thành tại Anh vào năm 1789 trong vai trò trung đoàn thường trực để giúp đỡ những binh sĩ hải quân đi theo Đệ nhất hạm đội. Các sĩ quan trong quân đoàn nhanh chóng dính líu đến hủ bại và buôn rượu rum sinh lợi tại thuộc địa. Trong Nổi dậy Rum năm 1808, Quân đoàn cộng tác chặt chẽ với thương nhân len mới nổi John Macarthur, tổ chức tiếp quản vũ trang chính phủ thành công duy nhất trong lịch sử Úc, phế truất Thống đốc William Bligh và chủ mưu một giai đoạn quân quản ngắn ngủi tại thuộc địa trước khi Thống đốc Lachlan Macquarie từ Anh đến vào năm 1810.[112]

Macquarie phục vụ trong vai trò Thống đốc New South Wales chuyên quyền cuối cùng, từ năm 1810 đến năm 1821 và có một vai trò hàng đầu trong phát triển xã hội và kinh tế của New South Wales, thuộc địa biến đổi từ một thuộc địa hình sự thành một xã hội tự do đang nảy nở. Ông thiết lập các công trình công cộng, một ngân hàng, các nhà thờ, và các tổ chức từ thiện và mưu cầu quan hệ hữu hảo với dân Nguyên trú. Năm 1813, ông phái Blaxland, Wentworth và Lawson vượt qua Vùng núi Blue, nơi họ phát hiện các bình nguyên rộng lớn của nội lục.[113] Tuy nhiên, trung tâm trong chính sách của Macquarie là đối đãi của ông với những người mãn hạn tù, ông ra lệnh cần phải đối đãi với họ bình đẳng về xã hội như những người định cư tự do tại thuộc địa. Bất chấp phản đối, ông bổ nhiệm những người mãn hạn tù vào các vị trí trọng yếu trong chính phủ, bao gồm Francis Greenway giữ chức kiến trúc sư thuộc địa và William Redfern trở thành một quan tòa. Luân Đôn đánh giá các công trình công cộng của ông là quá đắt và xã hội bị xúc phạm do cách đối đãi của ông với những người mãn hạn tù.[114] Chủ nghĩa bình đẳng sẽ xuất hiện để rồi được nhận định là một đức tính trung tâm của người Úc.

Năm thống đốc New South Wales đầu tiên nhận thấy nhu cầu cấp thiết trong việc khuyến khích người định cư tự do, song chính phủ Anh vẫn phần lớn lãnh đạm. Đến thập niên 1820 thì các nhóm người định cư tự do bắt đầu đến và các kế hoạch của chính phủ bắt đầu được tiến hành nhằm khuyến khích người định cư tự do. Các nhà nhân ái Caroline Chisholm và John Dunmore Lang phát triển các kế hoạch di cư riêng của mình. Các thống đốc tiến hành cấp đất của quân chủ, và các kế hoạch định cư như của Edward Gibbon Wakefield đem lại một số ảnh hưởng trong việc khuyến khích những người di cư thực hiện hành trình dài đến Úc, thay vì Hoa Kỳ hay Canada.[115]

Các chính phủ thuộc địa ban đầu phải lo lắng nhằm giải quyết mất cân bằng giới tính trong dân số, bắt nguồn từ việc nhập một số lượng lớn nam tù nhân. Từ năm 1788 đến năm 1792, có khoảng 3.546 nam tù nhân so với 766 nữ tù nhân đổ bộ tại Sydney.[116] Nữ giới đóng một vai trò quan trọng trong giáo dục và phúc lợi trong thời thuộc địa. Phu nhân của Thống đốc Macquarie là Elizabeth Macquarie quan tâm đến phúc lợi của nữ tù nhân.[117] Người cùng thời với bà là Elizabeth Macarthur trở nên nổi tiếng do 'sức mạnh nữ tính' của bà trong việc giúp đỡ gây dựng ngành công nghiệp len merino Úc khi chồng bà là John Macarthur buộc phải rời khỏi thuộc địa sau Nổi dậy Rum.[118] MacKillop du hành khắp Australasia và lập trường học, nữ tu viện và và các tổ chức từ thiện, bà được Benedict XVI phong thánh vào năm 2010, trở thành người Úc đầu tiên được Giáo hội Công giáo vinh danh như vậy.[119]

Từ thập niên 1820, ngày càng nhiều người chiếm đất tiến hành chiếm giữ vùng đất vượt ra ngoài rìa của khu định cư người châu Âu. Những người chiếm đất thường chăn cừu trên các mục trường lớn với chi phí tương đối ít, có thể tạo ra lợi nhuận đáng kể. Đến năm 1834, gần 2 triệu kg len được xuất khẩu từ Úc sang Anh.[120] Đến năm 1850, chỉ 2.000 người chiếm đất đã giành được 30 triệu ha đất, và họ thành lập các nhóm lợi ích hùng mạnh và "đáng kính" tại một vài thuộc địa.[121]

Năm 1835, Bộ Thuộc địa Anh ban hành Tuyên ngôn của Thống đốc Bourke, thi hành học thuyết pháp lý lãnh thổ vô chủ mà các khu định cư của người Anh dựa vào, củng cố quan điểm rằng đất đai không thuộc về ai trước khi Quân chủ Anh đoạt quyền sở hữu nó và bác bỏ bất kỳ khả năng thỏa thuận với người Nguyên trú, bao gồm thứ từng được John Batman ký kết. Việc công bố điều này có nghĩa là từ đó về sau, "toàn bộ" những người bị phát hiện chiếm đoạt đất mà không được chính phủ ủy quyền sẽ được cho là kẻ xâm lấn phi pháp.[122]

Các khu định cư riêng biệt, và sau là các thuộc địa, được tách từ các bộ phận của New South Wales: Nam Úc vào năm 1836, New Zealand vào năm 1840, Khu vực Port Phillip vào năm 1834, sau đó trở thành thuộc địa Victoria vào năm 1851, và Queensland vào năm 1859. Lãnh thổ phương Bắc được hình thành vào năm 1863 với vị thế là bộ phận của Nam Úc. Vận chuyển tù nhân đến Úc bị loại bỏ từ năm 1840 đến năm 1868.

Trong 100 năm đầu từ khi người châu Âu đến định cư, các khu vực đất đai rộng lớn bị phát quang để phục vụ hoạt động nông nghiệp và các mục đích khác. Điều này kết hợp với nhập khẩu các động vật móng cứng đã có tác động hiển nhiên lên hệ sinh thái tại các khu vực cụ thể, chúng có tác động nghiêm trọng đến người Úc bản địa do làm suy giảm tài nguyên mà họ dựa vào để kiếm thực phẩm, nơi ẩn náu và các nhu yếu phẩm khác. Tình trạng này tăng dần buộc họ phải đến các khu vực nhỏ hơn và suy giảm về số lượng do phần lớn chết vì các bệnh dịch mới được đưa đến và thiếu tài nguyên. Kháng cự của người bản địa chống lại người định cư lan rộng, và giao tranh kéo dài từ năm 1788 đến thập niên 1920 khiến cho ít nhất 20.000 người bản địa và 2.000-2.500 người châu Âu thiệt mạng.[123]

Tiếp tục thám hiểm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1798–99, George BassMatthew Flinders lên đường từ Sydney trên một thuyền và đi vòng quanh Tasmania, do đó chứng minh đây là một đảo.[124] Năm 1801–02, Matthew Flinders dẫn đầu hành trình đầu tiên vòng quanh Úc. Trên tàu có nhà thám hiểm người Nguyên trú Bungaree của khu vực Sydney, ông trở thành người đầu tiên sinh tại lục địa Úc đi vòng quanh lục địa này.[124]

Matthew Flinders dẫn đầu hành trình thành công đầu tiên vòng quanh Úc vào năm 1801–02.

Năm 1813, Gregory Blaxland, William Lawson và William Wentworth vượt qua chướng ngại khắc nghiệt gồm các vực sâu có rừng bao phủ và các vách thẳng đứng của Dãy núi Blue, phía tây của Sydney. Tại Núi Blaxland, họ tìm ra nơi "đủ cỏ nuôi gia súc của thuộc địa trong ba mươi năm", và quá trình khuếch trương khu định cư của người Anh vào nội lục có thể bắt đầu.[125]

Năm 1824, Thống đốc Thomas Brisbane ủy quyền cho Hamilton Hume và William Hovell dẫn đầu một đoàn thám hiểm để tìm đất đồng cỏ mới tại phía nam của thuộc địa, và cũng tìm được một câu trả lời cho điều bí ẩn về việc các sông miền tây của New South Wales chảy đi đâu. Trong vòng 16 tuần vào năm 1824–25, Hume và Hovell thực hiện hành trình đến Port Phillip và trở lại. Họ tiến hành nhiều khám phá quan trọng, trong đó có sông Murray, nhiều chi lưu của nó, và các vùng đất tốt cho nông nghiệp và chăn thả nằm giữa Gunning, New South Wales và vịnh Corio Bay, Port Phillip.[126]

Charles Sturt dẫn đầu một đoàn thám hiểm dọc sông Macquarie vào năm 1828 và khám phá sông Darling. Một thuyết được phát triển rằng các sông nội lục của New South Wales chảy vào một biển nội địa. Dẫn đầu một đoàn thám hiểm thứ nhì trong năm 1829, Sturt theo sông Murrumbidgee vào sông Murray, ông đặt tên cho sông này theo tên Bộ trưởng Thuộc địa Anh George Murray. Đội của ông sau đó theo sông này đến nơi nó hợp lưu với sông Darling. Sturt tiếp tục xuôi dòng sông đến hồ Alexandrina, nơi sông Murray đổ ra biển tại Nam Úc. Đội lại chèo thuyền hàng trăm km ngược dòng trong hàng trình trở về.[127]

Tổng Thanh tra Thomas Mitchell tiến hành một loạt cuộc thám hiểm từ thập niên 1830 nhằm lấp đầy các khoảng trống để lại từ các chuyến thám hiểm trước đây. Ông tỉ mỉ trong việc tìm cách ghi lại các địa danh Nguyên trú nguyên bản khắp thuộc địa, nhờ vậy mà phần lớn các địa danh ngày nay duy trì tên Nguyên trú của chúng.[128]

Nhà khoa học/thám hiểm người Ba Lan Paweł Strzelecki tiến hành công tác khảo sát tại dãy Alps Úc vào năm 1839 và trở thành người châu Âu đầu tiên trèo lên đỉnh cao nhất của Úc, ông đặt tên cho nó là núi Kosciuszko nhằm vinh danh nhà ái quốc người Ba Lan Tadeusz Kościuszko.[129]

Tranh của John Longstaff, Burke, Wills và King đến trại bị bỏ hoang tại sông Cooper, buổi tối Chủ Nhật, 21 tháng 4 năm 1861, 1907, Nhà triển lãm Quốc gia Victoria.

Các nhà thám hiếm châu Âu thực hiện các cuộc thám hiểm vĩ đại cuối cùng của họ, thường gặp khó khăn và đôi khi là chịu bi thảm tại vùng nội địa của Úc trong nửa cuối của thế kỷ 19, một số được nhà cầm quyền thuộc địa tài trợ chính thức, và một số do các nhà đầu tư tư nhân ủy quyền. Đến năm 1850, các khu vực rộng lớn của vùng nội lục vẫn chưa được người châu Âu biết đến. Những người tiên phong như Edmund Kennedy và nhà tự nhiên học người Phổ Ludwig Leichhardt gặp phải kết thúc bi thảm khi nỗ lực lấp đầy lỗ trống kiến thức, song các nhà thám hiểm vẫn có nhiều tham vọng để khám phá các vùng đất mới cho nông nghiệp hoặc để trả lời các câu hỏi khoa học. Những nhà khảo sát cũng hành động như những nhà thám hiểm và các thuộc địa phái các đoàn thám hiểm đi khám phá các tuyến đường tốt nhất để đặt dây thông tin.

Năm 1860, Burke và Wills dẫn đầu hành trình xuyên bắc-nam lục địa đầu tiên, từ Melbourne đến vịnh Carpentaria. Thiếu kinh nghiệm và không muốn học hỏi từ người Nguyên trú bản địa, Burke và Wills mất năm 1861, khi trở về từ vịnh Carpentaria.

Năm 1862, John McDouall Stuart thành công khi đi đi qua trung tâm Úc từ nam đến bắc. Chuyến thám hiểm của ông vạch ra tuyến đường mà sau đó đường dây điện thoại xuyên lục địa Úc đi qua.[130]

UluruKata Tjuta được người châu Âu lần đầu vẽ lên bản đồ vào năm 1872 trong thời kỳ thám hiểm trở nên thuận lợi do xây dựng tuyến đường dây điện thoại xuyên lục địa Úc. trong các chuyến thám hiểm riêng rẽ, Ernest Giles và William Gosse là các nhà thám hiểm người châu Âu đầu tiên đến các khu vực này. Trong khi thám hiểm khu vực vào năm 1872, Giles trông thấy Kata Tjuta từ một địa điểm gần Kings Canyon và gọi nó là núi Olga, vào năm sau thì Gosse quan sát Uluru và đặt tên cho nó là Đá Ayers, nhằm vinh danh Thủ tướng Nam Úc Henry Ayers. Những vùng đất hoang mạc cằn cỗi của miền trung Úc làm thất vọng những người châu Âu do chúng không có triển vọng khoách trương chăn thả gia súc.

Từ tự trị đến liên bang hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Thuộc địa tự quản và phong trào tìm vàng[sửa | sửa mã nguồn]

Việc phát hiện được vàng tại Úc theo truyền thống được quy cho Edward Hammond Hargraves, ở gần Bathurst, New South Wales trong tháng 2 năm 1851[131] Tuy vậy, vết tích của vàng được nhà khảo sát James McBrien phát hiện tại Úc ngay từ năm 1823. Theo pháp luật Anh, tất cả khoáng vật thuộc về Quân chủ, do đó vào ban đầu ít có động lực cho nỗ lực tìm kiếm mỏ vàng tại một thuộc địa đang thịnh vượng nhờ kinh tế chăn thả gia súc.[132] Richard Broome cũng lập luận rằng phong tào tìm vàng California ban đầu áp đảo các phát hiện tại Úc, cho đến khi "tin tức về núi Alexander đến Anh vào tháng 5 năm 1852, không lâu sau là sáu tàu chở tám tấn vàng."[133]

Một quặng vàng từ Hill End, đào được vào năm 1872

Phong trào tìm vàng đưa nhiều người nhập cư đến Úc từ Anh, Ireland, lục địa châu Âu, Bắc Mỹ và Trung Quốc. Dân số của Thuộc địa Victoria tăng trưởng nhanh chóng, từ 76.000 vào năm 1850 lên đến 530.000 vào năm 1859.[134] Bất mãn phát sinh hầu như lập tức giữa những người đào vàng, đặc biệt là trong các mỏ đông đúc tại Victoria. Nguyên nhân của tình trạng này là quản lý của chính phủ thuộc địa đối với những người đào vàng và hệ thống giấy phép vàng. Sau một số kháng nghị và thỉnh nguyện cải cách, bạo lực nổ ra tại Ballarat vào cuối năm 1854.

Nổi loạn Eureka, tranh màu nước của J. B. Henderson (1854)

Sáng sớm Chủ Nhật ngày 3 tháng 12 năm 1854, các binh sĩ và cảnh sát tấn công một chiến lũy được các thợ mỏ bất bình tại Eureka xây dựng. Trong một thời gian giao tranh ngắn ngủi, có ít nhất 30 thợ mỏ thiệt mạng và không rõ số người bị thương.[135] O'Brien liệt kê 5 chiến sĩ thiệt mạng và 12 người bị thương[136] Lo ngại trước nguy cơ kích động tư tưởng dân chủ, Ủy viên Hội đồng địa phương Robert Rede cảm thấy "hoàn toàn cần thiết ra một đòn" chống những người thợ mỏ.[137] Tuy nhiên, vài tháng sau, một Ủy ban Hoàng gia tiến hành thay đổi sâu rộng sự cai quản tại các mỏ vàng của Victoria. Khuyến nghị này gồm có bãi bỏ giấy phép, cải cách lực lượng cảnh sát và quyền bỏ phiếu cho các thợ mỏ nắm giữ một quyền thợ mỏ.[138]

Các phong trào tìm vàng sau đó xuất hiện tại sông Palmer, Queensland, trong thập niên 1870, và Coolgardie cùng Kalgoorlie tại Tây Úc trong thập niên 1890. Đối đầu giữa các thợ mỏ người Hoa và người châu Âu phát sinh tại sông Buckland tại Victoria và Lambing Flat tại New South Wales, vào cuối thập niên 1850 và đầu thập niên 1860. Theo sử gia Geoffrey Serle, bắt nguồn từ sự đố ky của người châu Âu trước các nỗ lực thành công của người Hoa khi sa khoáng vàng cạn kiệt, cảm tình ủng hộ một chính sách Úc da trắng đang nổi lên trong người Úc được củng cố.[139]

Năm 1855, New South Wales là thuộc địa đầu tiên đạt được chính phủ trách nhiệm, quản lý hầu hết sự vụ, những phận sự còn lại là của Đế quốc Anh. Victoria, Tasmania, và Nam Úc tiếp bước vào năm 1856; Queensland ngay từ khi được hình thành vào năm 1859; và Tây Úc vào năm 1890. Bộ Thuộc địa tại Luân Đôn duy trì kiểm soát trên một số sự vụ, đáng chú ý là sự vụ đối ngoại, quốc phòng, và vận chuyển hàng hải quốc tế.

Kỷ nguyên vàng dẫn đến một giai đoạn thịnh vượng kéo dài, đôi khi được gọi là "the long boom."[140] Điều này bắt nguồn từ đầu tư của Anh và tiếp tục tăng trưởng trong các ngành chăn thả và khai mỏ, thêm vào đó là sự phát triển của giao thông hiệu quả theo đường sắt, sông, và biển. Đến năm 1891, số lượng cừu tại Úc được ước tính là 100 triệu. Sản lượng vàng suy giảm từ thập niên 1850, song trong cùng năm vẫn có giá trị 5,2 triệu bảng.[141] Cuối cùng, khuếch trương kinh tế kết thúc: thập niên 1890 là một giai đoạn kinh tế suy thoái, cảm giác mạnh nhất là tại Victoria, và thủ phủ Melbourne của thuộc địa.

Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ 19, các thành phố miền đông nam Úc tăng trưởng cao. Dân số Úc (không bao gồm người Nguyên trú) vào năm 1900 là 3,7 triệu, gần 1 triệu trong số đó cư trú tại Melbourne hay Sydney.[142] Trên hai phần ba dân số cư trú trong các thành thị khi kết thúc thế kỷ 19, khiến Úc trở thành một trong các xã hội đô thị hóa nhất trong thế giới phương Tây.[143]

Thảo khấu[sửa | sửa mã nguồn]

Bushrangers on the St Kilda Road (1887) của William Strutt, quang cảnh thường thấy trong phong trào tìm vàng Victoria.

Bushranger (thảo khấu) nguyên chỉ các tù nhân bỏ trốn trong những năm đầu người Anh định cư tại Úc, họ có các kỹ năng sinh tồn cần thiết để sử dụng thảm cây bụi tại Úc làm nơi ẩn náu khỏi các nhà chức trách. Thuật ngữ "bushranger" sau đó tiến hóa để chỉ những người từ bỏ quyền lợi xã hội và các đặc quyền để chọn cách sống "cướp có vũ trang", sử dụng bụi cây làm căn cứ của mình.[144] Trên 2.000 thảo khấu được cho là lang thang trên vùng nông thôn của Úc, bắt đầu khi tù nhân bỏ trốn và kết thúc sau khi Ned Kelly bị bắt tại Glenrowan vào năm 1880.[145]

Jack Donahue được ghi nhận là thảo khấu tù nhân cuối cùng.[145] Ông được đưa tin trên các báo vào khoảng năm 1827 do phải chịu trách nhiệm về một đợt bùng phát thảo khấu trên đường giữa Sydney và Windsor. Trng suốt thập niên 1830, ông được xem là thảo khấu nổi tiếng nhất tại thuộc địa.[146] Donahue lãnh đạo một băng đảng gồm các tù nhân chạy trốn, trở thành trung tâm của văn học dân gian Úc với biệt danh Wild Colonial Boy (cậu bé thuộc địa hoang dã).[145]

Thời kỳ hoàng kim của thảo khấu là những năm diễn ra phong trào tìm vàng trong thập niên 1850 và 1860. Thảo khấu phổ biến tại đại lục, song tại Đất Van Diemen sản sinh các đợt bùng nổ thảo khấu tù nhân bạo lực và nghiêm trọng nhất.[145] Có rất nhiều hoạt động thảo khấu tại thung lũng Lachlan, xung quanh Forbes, YassCowra tại New South Wales.[145] Frank Gardiner, John Gilbert và Ben Hall lãnh đạo các băng đảng nổi tiếng nhất trong giai đoạn này. Những thảo khấu tích cực khác gồm có Dan Morgan với căn cứ tại sông Murray, và Captain Thunderbolt.[145]

Phát triển chế độ dân chủ Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Người phụ nữ đòi quyền bầu cử Catherine Helen Spence (1825–1910). Năm 1895, phụ nữ tại Nam Úc nằm trong số những phụ nữ đầu tiên trên thế giới giành được quyền bỏ phiếu và lần đầu tiên có thể ứng cử nghị viện.

Xã hội Nguyên trú truyền thống được quản lý thông qua các hội đồng trưởng lão và các quyết định dưa trên ý kiến đoàn thể, song các chính quyền kiểu châu Âu đầu tiên được thành lập sau năm 1788 mang tính chất chuyên quyền và do các thống đốc được bổ nhiệm điều hành. Dẫu vậy, pháp luật Anh được truyền đến các thuộc địa Úc thông qua giá trị của học thuyết tiếp đãi, do đó các quan điểm về quyền lợi và tố tụng được thiết lập theo Magna CartaDự luật Quyền lợi 1689 được những người thực dân đưa đến từ Anh. Cổ động cho chính phủ trách nhiệm bắt đầu ngay sau khi tiến hành định cư tại các thuộc địa.[147]

Cơ cấu lập pháp xưa nhất tại Úc là Hội đồng Lập pháp New South Wales, hội đồng này được thành lập vào năm 1825 với vai trò là cơ cấu được bổ nhiệm để khuyến nghị cho Thống đốc New South Wales. William Wentworth thành lập Hiệp hội Ái quốc Úc (chính đẩng đầu tiên của Úc) vào năm 1835 nhằm yêu cầu chính phủ dân chủ cho New South Wales. Tổng chưởng lý theo chủ nghĩa cải lương John Plunkett cố gắng áp dụng các nguyên tắc Khai sáng để quản trị thuộc địa, theo đuổi việc xác lập tính bình đẳng trước pháp luật, đầu tiên là mở rộng quyền bồi thẩm cho những người mãn hạn tù, sau đó mở rộng bảo hộ pháp lý cho tù nhân, người hầu được ấn định và dân Nguyên trú. Plunkett hai lần buộc tội các thủ phạm thực dân trong Thảm sát Myall Creek đối với dân Nguyên trú tội giết người, Đạo luật Giáo hội năm 1836 của ông tách Giáo hội Anh khỏi chính phủ và tạo bình đẳng pháp lý giữa Anh giáo, Công giáo, Trưởng Lão, Giám Lý.[148]

Năm 1840, Hội đồng Thành phố Adelaide và Hội đồng Thành phố Sydney được thành lập. Nam giới sở hữu tài sản giá trị 1.000 bảng có thể ứng cử trong bầu cử và các địa chủ giàu có được phép có bốn phiếu trong mỗi cuộc bầu cử. Các cuộc bầu cử nghị viện đầu tiên của Úc được tiến hành để hình thành Hội đồng Lập pháp New South Wales năm 1843, một lần nữa quyền bỏ phiếu (chỉ chô nam giới) gắn liền với quyền sở hữu tài sản hoặc năng lực tài chính. Quyền bỏ phiếu được mở rộng hơn tại New South Wales vào năm 1850 và bầu cử hội đồng lập pháp được tổ chức tại các thuộc địa Victoria, Nam Úc và Tasmania.[149]

Đến giữa thế kỷ 19, có một nguyện vọng mãnh liệt về chính phủ đại diện và chịu trách nhiệm tại các thuộc địa tại Úc, được nuôi dưỡng từ tinh thần dân chủ của các mỏ vàng hiển nhiên trong Nổi loạn Eureka và ý tưởng của các phong trào cải cách lớn đang quét qua châu Âu, Hoa Kỳ và Đế quốc Anh. Sự kết thúc vận chuyển tù nhân làm tăng tốc cải cách trong các thập niên 1840 và 1850. Đạo luật chính phủ các thuộc địa Úc [1850] là một dấu mốc phát triển, nó cấp hiến pháp đại diện cho New South Wales, Victoria, Nam Úc và Tasmania và các thuộc địa nhiệt tình chế định về hiến pháp thành văn, từ đó sản sinh ra các nghị viện tiến bộ dân chủ, song hiến pháp về đại thể duy trì vai trò của thượng nghị viện thuộc địa là đại diện cho "lợi ích" xã hội và kinh tế và thiết lập các chế độ quân chủ lập hiến với quân chủ Anh là nguyên thủ quốc gia mang tính biểu tượng.[150]

Năm 1855, chế độ tự quản hạn chế được Luân Đôn cấp cho New South Wales, Victoria, Nam Úc và Tasmania. Một hình thức bỏ phiếu kín cách tân được mở đầu tại Victoria, Tasmania và Nam Úc vào năm 1856, trong đó chính phủ cung cấp phiếu bầu cử chứa tên của các ứng cử viên và cử tri có thể lựa chọn một cách riêng tư. Hệ thống này được chấp thuận khắp thế giới, được gọi là "Bỏ phiếu kiểu Úc". Trong năm 1855, quyền bầu cử được cấp cho toàn bộ thần dân Anh là nam giới 21 tuổi hoặc lớn hơn tại Nam Úc. Quyền này được mở rộng đến Victoria vào năm 1857 và New South Wales trong năm sau. Các thuộc địa khác tiếp bước và đến năm 1896, Tasmania trở thành thuộc địa cuối cùng cấp phổ thông đầu phiếu cho nam giới.[149]

Phụ nữ có tài sản tại thuộc địa Nam Úc được cấp quyền bầu cử trong bầu cử địa phương (song không được bầu nghị viện) vào năm 1861. Phụ nữ có tư cách bỏ phiếu Nghị viện Nam Úc vào năm 1895. Đây là pháp chế đầu tiên trên thế giới cho phép nữ giới cũng tranh cử vào chức vụ chính trị, và đến năm 1897, Catherine Helen Spence trở thành ứng cử viên chính trị nữ đầu tiên ứng cử chức vụ chính trị, bà thất bại khi ứng cử vị trí đại biểu Hội nghị liên bang về liên bang hóa Úc. Tây Úc cấp quyền bầu cử cho nữ giới vào năm 1899.[151][152]

Trên phương diện pháp lý, nam giới người Úc bản địa thường được cấp quyền bỏ phiếu trong giai đoạn này, khi Victoria, New South Wales, Tasmania và Nam Úc cấp quyền bỏ phiếu cho toàn bộ thần dân Anh là nam giới từ 21 tuổi trở lên, chỉ Queensland và Tây Úc ngăn cản người Nguyên trú bỏ phiếu. Do đó, nam giới và nữ giới Nguyên trú được bỏ phiếu trong một số khu vực trong kỳ bầu cử Quốc hội Thịnh vương chung đầu tiên vào năm 1901. Tuy nhiên, cải cách nghị viện liên bang và giải thích pháp lý ban đầu tìm cách hạn chế quyền bỏ phiếu của dân Nguyên trú trên thực tế, tình trạng này kéo dài cho đến khi các nhà hoạt động quyền lợi bắt đầu vận động trong thập niên 1940.[153]

Phát triển chủ nghĩa dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Golden Summer, Eaglemont (1889) của Arthur Streeton theo trường phái mỹ thuật Heidelberg, một phong trào hội họa đặc trưng của Úc vào cuối thế kỷ 19.

Đén cuối thập niên 1880, đa số dân chúng cư trú tại các thuộc địa Úc sinh tại bản địa, song trên 90% có huyết thống Anh và Ireland.[154] Sử gia Don Gibb cho rằng thảo khấu Ned Kelly đại diện cho một chiều hướng thái độ đang nổi lên trong dân chúng sinh tại bản địa. Ned Kelly đồng cảm mãnh liệt với gia đình và đồng đảng, phản đối điều mà ông cho là sự đàn áp của cảnh sát và những người chiếm đất hùng mạnh. Hầu như phản ánh khuôn mẫu của Úc mà sử gia Rusel Ward định nghĩa sau này, Kelly trở thành "một thảo khấu lành nghề, thành thạo súng, ngựa và nắm đấm và giành được sự thán phục từ những người đồng đăng với ông trong khu vực."[155] Ký giả Vance Palmer cho rằng mặc dù Kelly trở thành điển hình của "cá nhân nổi loạn trong nước đối với các thế hệ sau này, (ông thực sự) thuộc...giai đoạn khác."[156]

Banjo Paterson đóng góp một số bài thơ cổ điển cho văn học Úc.

Nguồn gốc của hội họa Úc đặc trưng thường được gắn liền với giai đoạn này, và trường phái Heidelberg trong các thập niên 1880–1890.[157] Các họa sĩ như Arthur Streeton, Frederick McCubbinTom Roberts chuyên tâm để tái hiện trong tác phẩm của họ một cảm giác chân thực hơn của ánh sáng và màu sắc như thấy được trong cảnh quan Úc. Giống như những người theo trường phái ấn tượng châu Âu, họ vẽ trong không gian mở. Các họa sĩ này tìm thấy cảm hứng trong ánh sáng và màu sắc độc đáo vốn biểu thị đặc điểm của rừng cây bụi Úc. Các tác phẩm được công nhận nhất của họ gồm các quanh cảnh đồng cỏ chăn thả và lục địa Úc hoang dã, mô tả đặc điểm nổi bật của sắc thái sung mãn, thậm chí là khắc nghiệt của mùa hạ Úc.[158]

Các nhà văn cổ điển Úc Henry Lawson, Banjo Paterson, Miles Franklin, Norman Lindsay, Steele Rudd, Mary Gilmore, C J Dennis và Dorothea Mackellar đều được tôi luyện trong giai đoạn phát triển bản sắc dân tộc này. Quan điểm về Úc đương thời có mâu thuẫn—Lawson và Paterson đóng góp một loạt đoạn thơ cho tạp chí The Bulletin, trong đó họ tiến hành một tranh luận văn chương về tính chất của nhân sinh tại Úc: Lawson mô tả Paterson như một nhà thơ lãng mạn, trong khi Paterson nghĩ Lawson đầy bi quan thất vọng. Paterson viết phần lời của bài hát dân ca được yêu thích Waltzing Matilda vào năm 1895.[159] Bài hát thường được đề xuất là một bản quốc ca của Úc và bản thân quốc ca Úc từ thập niên 1970 là Advance Australia Fair được viết vào năm 1887. Dennis viết bằng thổ ngữ Úc, trong khi McKellar từ chối một tình yêu với các đồng cỏ êm đềm của Anh để hướng sang thứ mà bà gọi là một "xứ sở rám nắng" trong bài thơ My Country (1903) mang tính biểu tượng của bà.[160]

Phong trào liên bang hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù có nghi ngờ từ một số bộ phận của cộng đồng thuộc địa (đặc biệt là tại các thuộc địa nhỏ hơn) về giá trị của địa vị quốc gia, song các cải thiện về vận chuyển và thông tin liên thuộc địa, bao gồm liên kết từ Perth đến các thành phố miền đông nam bằng điện thoại vào năm 1877,[161] giúp phá vỡ các kình địch liên thuộc địa.

Trong khi Luân Đôn kêu gọi thiết lập một quân đội Úc liên thuộc địa, và các thuộc địa độc lập xây dựng các tuyến đường sắt, Thủ tướng New South Wales Henry Parkes nói với một nhóm thính giả nông thôn vào năm 1889 rằng đã đến lúc tiến đến hình thành một chính phủ hành pháp quốc gia:[162]

Úc hiện có dân số ba triệu rưỡi, và người Mỹ có số lượng chỉ từ ba đến bốn triệu khi họ thành lập Hoa Kỳ. Số lượng là tương đồng, và chắc chắn rằng điều mà người Mỹ đã thực hiện bằng chiến tranh, thì người Úc có thể thu được trong hòa bình, mà không phá vỡ các quan hệ giúp giữ vững chúng ta với mẫu quốc.

Dù Henry Parkes mất trước khi tiến hành liên bang hóa, song ông được nhớ đến với danh hiệu "cha của liên bang hóa". Tăng cường chủ nghĩa dân tộc, một sự gia tăng cảm nhận về bản sắc dân tộc, cải thiện trong giao thông và thông tin, cũng như lo ngại về nhập cư và phòng thủ, tất cả khuyến khích phong trào, được thúc đẩy bởi các tổ chức như Hiệp hội người Úc bản địa. Bất chấp gia tăng các kêu gọi về hợp nhất, lòng trung thành với Đế quốc Anh vẫn mãnh liệt, và trong một bữa tiệc tại hội nghị liên bang hóa năm 1890, Henry Parkes nói rằng huyết thống liên kết các thuộc địa với Anh.[163]

Henry Parkes phát biểu nghị quyết đầu tiên tại hội nghị liên bang hóa tại Melbourne, 1 tháng 3 năm 1890

Năm 1890, các đại biểu của sáu thuộc địa và New Zealand họp tại Melbourne và kêu gọi đoàn kết của các thuộc địa và các cơ quan lập pháp thuộc địa cử đại biểu đến tham dự một hội nghị hiến pháp. Năm sau, Hội nghị Australasia Quốc gia được tổ chức tại Sydney, với sự hiện diện của toàn bộ các bang tương lai và New Zealand. Một dự thảo đạo luật hiến pháp được Ủy ban Hiến pháp viết ra, chủ yếu được soạn thảo bởi Samuel Griffith, với Inglis Clark và Charles Kingston, cũng như trợ giúp của Edmund Barton. Các đại biểu trở về nghị viện của mình cùng dự luật, song tiến triển chậm chạp do Úc phải đối diện với suy thoái kinh tế thập niên 1890. Tuy thế, đến năm 1895 có năm thuộc địa bầu các đại biểu cho một hội nghị thứ nhì, lần này được tiến hành tại Adelaide, Sydney và Melbourne trong khoảng một năm, cho phép có thời gian để tham vấn. Ủy ban Hiến pháp đương thời bổ nhiệm Barton, Richard O'Connor và John Downer soạn thảo một đạo luật và sau nhiều tranh luận, New South Wales, Nam Úc và Tasmania chấp thuận đạo luât để đưa ra các cử tri. Queensland và Tây Úc sau đó cũng chuyển sang hành động tương tự, song New Zealand không tham dự Hội nghị.[164]

Tháng 7 năm 1898, Đạo luật được đưa ra trưng cầu dân ý tại bốn thuộc địa, song cử tri New South Wales bác bỏ đề nghị này. Năm 1899, một cuộc trưng cầu dân ý thứ hai được tiến hành với một Đạo luật được sửa đổi để đưa ra cử tri của bốn thuộc địa và Queensland, kết quả Đạo luật được tán thành.[164]

Trong tháng 3 năm 1900, các đại biểu được phái đến Luân Đôn do Đạo luật cần phải được Quốc hội Đế quốc phê chuẩn. Đạo luật được đưa ra Thứ dân viện và được thông qua vào ngày 5 tháng 7 năm 1900, và ngay sau đó được Nữ vương Victoria ký thành luật. Bá tước Hopetoun được phái từ Luân Đôn với trách nhiệm bổ nhiệm một nội các lân thời để giám sát việc thành lập Thịnh vượng chung và tiến hành các cuộc bầu cử đầu tiên.[164]

Liên bang hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Khai mạc Quốc hội Úc khóa I năm 1901

Thịnh vượng chung Úc xuất hiện khi Toàn quyền Úc là Bá tước Hopetoun công bố Hiến pháp Liên bang vào ngày 1 tháng 1 năm 1901. Bầu cử liên bang lần đầu tiên được tổ chức vào tháng 3 năm 1901, và kết quả là một đa số không quá bán của Đảng Bảo hộ trước Đảng Mậu dịch Tự do, còn Công đảng Úc (ALP) xếp thứ ba. Công đảng tuyên bố họ sẽ đề xuất trợ giúp đảng nào sẵn sàng nhượng bộ và Đảng Bảo hộ của Edmund Barton thành lập một chính phủ, với Alfred Deakin giữ chức tổng chưởng lý.[165]

Thủ tướng Úc đầu tiên Edmund Barton (trái), cùng Thủ tướng thứ nhì Alfred Deakin.
Diễu hành ủng hộ một ngày làm việc tám giờ, 4 tháng 10 năm 1909

Barton đảm bảo "thiết lập một tòa án thượng thẩm, ...và một dịch vụ công liên bang hiệu quả... Ông đề nghị mở rộng hòa giải và trọng tài, thiết lập một khổ đường sắt đồng dạng giữa các thủ phủ miền đông, mở quyền bầu cử liên bang cho nữ giới, thiết lập một...hệ thống lương hưu cho người cao tuổi."[166] Ông cũng đảm bảo bắt đầu ban hành pháp luật nhằm bảo vệ "Úc da trắng" trước bất kỳ dòng lao động châu Á hoặc đảo Thái Bình Dương nào.

Công đảng Úc được thành lập trong thập niên 1890, sau thất bại của các cuộc đình công Hàng hải và Thợ xén lông cừu. Sức mạnh của đảng nằm trong phong trào công đoàn Úc với số thành viên phát triển từ dưới 100.000 vào năm 1901 đến trên nửa triệu vào năm 1914.[167] Nền tảng của Công đảng Úc là chủ nghĩa xã hội dân chủ. Trong nhiệm kỳ thủ tướng của Storey và Dooley tại New South Wales, nhiều cải cách được tiến hành như thiết lập Ngân hàng Nông thôn (Rural Bank) và miễn học phí trung học.[168]

Ủng hộ ngày càng lớn cho Công đảng trong các cuộc bầu cử, cùng với việc đảng này thành lập chính phủ liên bang vào năm 1904 dưới quyền Chris Watson, và tái thắng cử vào năm 1908, kích thích thống nhất các lực lượng bảo thủ cạnh tranh, thị trường tự do, và chống xã hội tự do vào trong Đảng Tự do Thịnh vượng chung vào năm 1909. Mặc dù đảng này giải thể vào năm 1916, một hậu thân "tự do" của nó tại Úc có thể được tìm thấy trong Đảng Tự do hiện nay.[169] Nhằm đại diện cho lợi ích của nông thôn, Đảng Thôn quê (nay là Đảng Quốc gia) được thành lập vào năm 1913 tại Tây Úc, và toàn quốc vào năm 1920, từ một số đảng nông dân cấp bang.[170]

Đạo luật Hạn chế Nhập cư 1901 là một trong những luật đầu tiên mà Quốc hội Úc thông qua. Đạo luật nhằm mục đích hạn chế nhập cư từ châu Á (đặc biệt là Trung Quốc), điều này nhận được ủng hộ mạnh mẽ trong quốc hội, các lập luận khác nhau từ bảo hộ kinh tế cho đến công khai kỳ thị chủng tộc.[171] Luật cho phép kiểm tra khả năng đọc viết bằng bất kỳ ngôn ngữ châu Âu nào, mục đích thực tế là loại bỏ những người nhập cư không phải thuộc chủng da trắng. Trong khi luật cho phép sử dụng bất kỳ ngôn ngữ châu Âu nào, phiên bản tiếng Anh được tiêu chuẩn hóa và được gọi là kiểm tra "Stewart" theo tên của Thủ tướng Liên bang Stewart Parnaby, ông là tác giả ban đầu của cuộc kiểm tra.[172] Công đảng muốn bảo hộ các công việc "da trắng" và thúc đẩy hạn chế rõ ràng hơn. Thủ tướng Bruce Smith nói rằng ông "không mong muốn trông thấy những người Ấn, Hoa hay Nhật hạ đẳng...tràn ngập quốc gia này... Tuy nhiên có bổn phận...không xúc phạm một cách không cần thiết tầng lớp có giáo dục tại các quốc gia này".[173]

Luật được thông qua tại lưỡng viện của Quốc hội và vẫn là tâm điểm trong pháp luật nhập cư của Úc cho đến khi bị bãi bỏ trong thập niên 1950. Trong thập niên 1930, chính phủ Joseph Lyons thực hiện nỗ lực bất thành nhằm không cho Egon Erwin Kisch, một tác gia cộng sản người Đức quốc tịch Tiệp Khắc nhập cảnh Úc, bằng cách 'kiểm tra khả năng đọc viết' bằng tiếng Gael Scotland. Tòa án thượng thẩm Úc phán quyết rằng tiếng Gael Scotland không phải là một ngôn ngữ châu Âu theo ý nghĩa của Đạo luật Nhập cư (1901–25). Các lo lắng xuất hiện về việc luật có thể được sử dụng vì các mục đích chính trị như vậy.[174][175]

Trước năm 1901, các đơn vị quân nhân từ sáu thuộc địa Úc từng hoạt động như bộ phận của lực lượng Anh trong Chiến tranh Boer. Khi chính phủ Anh yêu cầu thêm quân từ Úc vào đầu năm 1902, chính phủ Úc đóng góp một đạo quân quốc gia. Khoảng 16.500 nam giới tình nguyện phục vụ cho đến khi chiến tranh kết thúc vào tháng 6 năm 1902.[176]. Hiệp định Đồng minh Anh-Nhật 1902 "cho phép Hải quân Hoàng gia rút các tàu chiến chủ lực khỏi Thái Bình Dương vào năm 1907. Người Úc cảm thấy bản thân sẽ là một tiền đồn cô độc, dân cư thưa thớt trong thời kỳ chiến tranh."[177] Chuyến thăm ấn tượng của Hạm đội Great White của Hoa Kỳ vào năm 1908 nhấn mạnh với chính phủ giá trị của một lực lượng hải quân Úc. Đạo luật Phòng thủ 1909 củng cố tầm quan trọng của phòng thủ Úc, và đến tháng 2 năm 1910, Bá tước Kitchener cung cấp thêm khuyến nghị về một kế hoạch phòng thủ dựa trên nghĩa vụ quân sự. Đến năm 1913, tàu tuần dương Australia lãnh đạo Hải quân Hoàng gia Úc mới thành lập. Sử gia Bill Gammage ước tính rằng trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, Úc có 200.000 nam giới "được vũ trang trong một mức độ nhất định".[178]

Sử gia Humphrey McQueen nói rằng các điều kiện làm việc và sinh hoạt đối với tầng lớp lao động Úc vào đầu thế kỷ 20 là "an nhàn thanh đạm."[179] Trong khi việc thành lập một tòa án trọng tài về tranh chấp lao động gây chia rẽ, có một thừa nhận về sự cần thiết phải chế định phần thưởng công nghiệp, trong đó tất cả những người có lương trong một ngành công nghiệp được hưởng các điều kiện tương tự về việc làm và lương. Phán quyết Người thu hoạch năm 1907 công nhận khái niệm một mức lương cơ bản và năm 1908 chính phủ Liên bang cũng bắt đầu một kế hoạch lương hưu cao tuổi. Do đó, Thịnh vượng chung mới được công nhận là một nơi để thí nghiệm xã hội và chủ nghĩa tự do tích cực.[165]

Hạn hán thảm khốc gây họa cho một số khu vực vào cuối thập niên 1890 và đầu thế kỷ 20, và cùng với một dịch thỏ xâm lấn đang gia tăng, gây nên khó khăn lớn tại khu vực nông thôn của Úc. Bất chấp điều này, một số nhà văn "tưởng tượng một thời điểm khi mà Úc sẽ vượt qua Anh về thịnh vượng và tầm quan trọng, khi các không gian rộng mở của nó sẽ hỗ trợ các nông trại và nhà máy sánh ngang với của Hoa Kỳ."[180] Trong số những người này có E. J. Brady, sách Australia Unlimited năm 1918 của ông miêu tả nội lục của Úc chín muồi để phát triển và định cư.[181]

Với sự khuyến khích của Queensland, vào năm 1884, một chế độ bảo hộ của Anh được công bố tại bờ biển phía nam của New Guinea và các đảo lân cận. New Guinea thuộc Anh được sáp nhập hoàn toàn vào Đế quốc Anh vào năm 1888. Tài sản này được đặt dưới thẩm quyền của Thịnh vượng chung Úc vào năm 1902 và với việc thông qua Đạo luật Papua 1905, New Guinea thuộc Anh trở thành Lãnh thổ Papua thuộc Úc, sự cai trị của Úc chính thức bắt đầu vào năm 1906.[182]

Chiến tranh thế giới thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Các binh sĩ Úc tại Ai Cập cùng một con kangaroo là linh vật của trung đoàn, 1914.

Chiến tranh bùng nổ tại châu Âu trong tháng 8 năm 1914 tự động can dự đến "tất cả thuộc địa và quốc gia tự trị của Anh".[183] Thủ tướng Úc Andrew Fisher có lẽ đã biểu thị quan điểm của hầu hết người Úc khi phát biểu trong chiến dịch bầu cử vào cuối tháng 7 rằng:

Chuyển chú ý của các bạn sang tình hình châu Âu, và trao tình cảm ân cần nhất hướng về mẫu quốc.... Tôi thực lòng hy vọng rằng phân xử quốc tế sẽ giúp ích trước khi châu Âu bị náo động trong chiến tranh lớn nhất mọi thời đại.... Tuy nhiên nếu điều tệ nhất xảy ra... nhân dân Úc sẽ đứng bên để giúp đỡ và bảo vệ mẫu quốc đến người cuối cùng và shilling cuối cùng.[183]

Trên 416.000 nam giới Úc tình nguyện chiến dấu trong Chiến tranh thế giới thứ nhất từ năm 1914 đến 1918, với 60.000 người thiệt mạng và 156.000 người bị thương, nhiễm độc hoặc bị bắt[184] trong khi tổng dân số toàn quốc là 4,9 triệu.[185] Sử gia Lloyd Robson ước tính điều này có nghĩa là từ một phần ba đến một nửa số nam giới đủ điều kiện.[186] 8.141 nam giới[187] bị giết trong tám tháng giao chiến tại Gallipoli, trên bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi Lực lượng Đế quốc Úc (AIF) rút lui vào cuối năm 1915, và mở rộng thành năm sư đoàn, hầu hết được chuyển đến Pháp để phục vụ dưới sự chỉ huy của Anh.

Một số lực lượng Úc vẫn duy trì tại Trung Đông, bao gồm các thành viên của Trung đoàn Kị binh nhẹ. Các kị binh nhẹ của các trung đoàn số 4 và số 12 chiếm Beersheba từ quân Ottoman bằng cách phi nước đại vào ngày 31 tháng 10 năm 1917. Đây là một trong những vụ tấn công bằng kị binh lớn cuối cùng trong lịch sử, cuộc tấn công mở một tuyến dường cho Đồng Minh đánh vào sườn tuyến Gaza-Beersheba và đẩy quân Ottoman vào Palestine.[188]

Kinh nghiệm chiến đấu đầu tiên của Lực lượng Đế quốc Úc trên Mặt trận phía Tây cũng là đối kháng riêng lẻ đắt giá nhất trong lịch sử quân sự Úc. Trong tháng 7 năm 1916, tại Fromelles, trong một cuộc tấn công nghi binh trong khuôn khổ trận the Somme, Lực lượng Đế quốc Úc chịu tổn thất 5.533 thương vong trong 24 giờ.[189] Sáu tháng sau, năm sư đoàn Úc trở thành Quân đoàn Úc, ban đầu nằm dưới quyền chỉ huy của Tướng Birdwood, và sau đó dưới quyền Tướng John Monash. Hai cuộc trưng cầu dân ý về nghĩa vụ quân sự được tổ chức tại Úc và năm 1916 và 1917, song đều thất bại và quân đội Úc duy trì là một lực lượng tình nguyện.

Mặc dù chiến dịch Gallipoli là một thất bại quân sự hoàn toàn và hơn 8.100 người Úc thiệt mạng, song tưởng niệm về nó là vô cùng quan trọng với người Úc. Chiến dịch Gallipoli biến đổi tinh thần của người Úc và trở thành một yếu tố mang tính biểu tượng của bản sắc Úc và là thời điểm hình thành tính chất quốc gia.[190] Úc tổ chức lễ hàng năm nhằm kỷ niệm những người tử chiến vào ngày ANZAC, 25 tháng 4, là ngày đầu tiên đổ bộ tại Gallipoli vào năm 1915.[191]

Năm 1919, Thủ tướng Úc Billy Hughes và cựu Thủ tướng Úc Joseph Cook giữ ghế của Úc trong Hội nghị hòa bình Versailles.[192] Hughes tham gia ký kết Hòa ước Versailles, đây là lần đầu tiên Úc ký kết một hiệp định quốc tế. Hughes yêu cầu bồi thường cao từ Đức và thường xuyên mâu thuẫn với Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson. Một lần, Hughes tuyên bố: "Tôi nói thay cho 60.000 người chết".[193]

Hughes yêu cầu rằng Úc có đại diện độc lập trong Hội Quốc Liên mới thành lập, và là đối thủ nổi bật nhất đối với đề xuất của Nhật Bản về việc thêm nội dung bình đẳng chủng tộc, nhờ vận động của Hughes và những người khác nên nội dụng này không được đưa vào Hiệp định cuối cùng, gây xúc phạm sâu sắc đối với Nhật Bản. Trong vài tháng sau khi tuyên bố chiến tranh tại châu Âu vào năm 1914; Nhật Bản, Úc và New Zealand chiếm toàn bộ các thuộc địa của Đức tại tây nam của Thái Bình Dương. Mặc dù việc Nhật Bản chiếm thuộc địa của Đức được người Anh chúc phúc, song Hughes lo sợ trước chính sách này.[194] Năm 1919, tại Hội nghị hòa bình, các nhà lãnh đạo Úc và New Zealand thuyết phục để được giữ lại các thuộc địa của Đức mà họ chiếm đóng, và các lãnh thổ này được xếp hạng "ủy thác loại C" cho từng quốc gia tự trị. Nhật Bản được quyền kiểm soát Ủy thác Nam Dương ở phía bắc của xích đạo.[194] Tân Guinea thuộc Đức, quần đảo BismarckNauru được phân cho Úc trong tình trạng ủy thác của Hội Quốc Liên: trong hạng mục các lãnh thổ nguyên chịu quản lý [của Liên minh Trung tâm] và cư dân chưa thể tự quản lý theo các điều kiện của thế giới hiện đại.[195]

Những năm giữa hai thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1920[sửa | sửa mã nguồn]

Các binh sĩ Úc vác Thủ tướng Billy Hughes xuống phố George, Sydney sau khi ông trở về từ Hội nghị hòa bình Paris, 1919.

Sau chiến tranh, Thủ tướng Billy Hughes lãnh đạo một lực lượng bảo thủ mới là Đảng Dân tộc, hình thành từ Đảng Tự do cũ và các phần tử ly khai khỏi Công đảng sau chia rẽ sâu rộng và quyết liệt quanh vấn đề nghĩa vụ quân sự. Ước tính có 12.000 người Úc tử vong do đại dục cúm Tây Ban Nha năm 1919, hầu như chắc chắn là do các binh sĩ hồi hương đem theo.[196]

Trong nhìn nhận của nhiều người Úc, sự kiện Cách mạng Bolshevik thành công tại Nga đặt ra một mối đe dọa, song đối với một nhóm gồm nhỏ gồm những người xã hội chủ nghĩa thì đây là niềm cảm hứng. Đảng Cộng sản Úc được thành lập vào năm 1920, và mặc dù không quan trọng trong các cuộc bầu cử, song Đảng này có một số ảnh hưởng trong phong trào công đoàn và bị cấm chỉ trong Chiến tranh thế giới thứ hai do họ ủng hộ Hiệp ước Hitler-Stalin. Chính phủ Robert Menzies nỗ lực bất thành nhằm một lần nữa cấm chỉ đảng nảy trong Chiến tranh Triều Tiên. Bất chấp các chia rẽ, Đảng Cộng sản Úc vẫn hoạt động cho đến khi giải thể lúc Chiến tranh Lạnh kết thúc.[197][198]

Đảng Thôn quê (nay là Đảng Quốc gia) được thành lập vào năm 1920 nhằm truyền bá cách diễn giải của mình về tư tưởng nông gia (agrarianism) mà họ gọi là "Countrymindedness". Mục tiêu là nâng cao vị thế của những người chăn thả cừu quy mô lớn và tiểu nông, và đảm bảo trợ cấp cho họ.[199] Đây là đảng lớn tồn tại lâu thứ hai tại Úc sau Công đảng, và thường hoạt động trong Liên minh với Đảng Tự do (từ thập niên 1940), trở thành một đảng lớn trong các chính phủ tại Úc—đặc biệt là tại Queensland.

Các hậu quả quan trọng khác của chiến tranh là náo động công nghiệp tiếp diễn, bao gồm đình công của cảnh sát bang Victoria năm 1923.[200] Các tranh chấp công nghiệp là điểm đặc trưng của thập niên 1920 tại Úc. Các vụ đình công lớn khác diên ra tại bến tàu, trong mỏ than và ngành gỗ vào cuối thập niên 1920. Phong trào công đoàn thành lập Hội đồng các công đoàn Úc (ACTU) vào năm 1927 nhằm phản ứng trước các nỗ lực của chính phủ Dân tộc nhằm thay đổi điều kiện làm việc và giảm sức mạnh của các công đoàn.

Những điểm đặc trưng của thập niên 1920 tại Hoa Kỳ là chủ nghĩa tiêu thụ, văn hóa giải trí, và các kỹ thuật mới cũng xuất hiện tại Úc. Cấm rượu không được thi hành tại Úc, song các lực lượng chống đồ uống có cồn thành công trong việc buộc các khách sạn đóng cửa sau 6 giờ tối, và phải đóng cửa hoàn toàn tại một vài khu ngoại ô.[201] Ngành công nghiệp điện ảnh non trẻ của Úc suy thoái trong thập niên này, mặc dù trên 2 triệu lượt người Úc đến các rạp chiếu phim mỗi tuần. Ngành này bị thu hẹp cho đến khi hồi sinh trong thập niên 1970.[202][203]

Stanley Bruce trở thành thủ tướng vào năm 1923, khi các thành viên trong chính phủ Đảng Dân tộc bỏ phiếu phế truất W.M. Hughes. Phát biểu vào đầu năm 1925, Bruce tóm tắt các ưu tiên và chủ nghia lạc quan của nhiều người Úc, nói rằng con người, tiền bạc và thị trường là các nhu cầu thiết yếu của Úc, và ông tìm kiếm chúng từ Anh.[204] Chiến dịch di cư trong thập niên 1920 do Ủy ban Phát triển và Di cư điều hành, giúp đưa gần 300.000 người Anh đến Úc,[205] song các kế hoạch để định cư di dân và binh si hồi hương "liền với đất" về đại thể là không thành công. "Các khu vực mới được tưới nước tại Tây Úc và thung lũng Dawson của Queensland tỏ ra tai hại"[206]

Tại Úc, chi phí đầu tư lớn theo truyền thống được các chính phủ cấp bang và liên bang đáp ứng, và các chính phủ tiến hành vay mượn nhiều từ hải ngoại trong thập niên 1920. Một hội đồng vay nợ được thành lập vào năm 1928 nhằm điều phối vay nợ, ba phần tư trong đó đến từ hải ngoại.[207] Mặc dù được hưởng ưu đãi do là bộ phận của Đế quốc Anh, song Úc không thành công trong việc đạt được một cân bằng mậu dịch với Anh. "Trong 5 năm từ 1924..đến..1928, Úc mua 43,4% hàng nhập khẩu của mình từ Anh và bán 38,7% hàng xuất khẩu của mình. Lúa mì và len chiếm trên hai phần ba tổng hàng xuất khẩu của Úc," một sự lệ thuộc nguy hiểm vào chỉ hai loại hàng hóa xuất khẩu.[208]

Úc đi theo các kỹ thuật mới về giao thông và thông tin. Các thuyền buồm duyên hải cuối cùng bị bỏ đi do bị tàu hơi nước thay thế, và các cải tiến trong giao thông đường sắt và ô tô báo trước các đột biến trong công việc và thư giãn. Năm 1918, có 50.000 ô tô tại Úc. Đến năm 1929, con số này là 500.000.[209] Năm 1920, Dịch vụ Hàng không Queensland và Lãnh thổ phương Bắc (tiền thân của Qantas) được thành lập.[210] John Flynn lập ra Dịch vụ Bác sĩ phi hành Hoàng gia, là dịch vụ cấp cứu hàng không đầu tiên trên thế giới, vào năm 1928.[211] Phi công Charles Kingsford Smith hoàn thành một vòng quanh Úc vào năm 1927 và đến năm 1928 thì vượt Thái Bình Dương, từ Hoa Kỳ lục địa qua Hawaii và Fiji đến Úc bằng phi cơ Southern Cross. Ông nổi tiếng toàn cầu và lập một loạt kỷ lục hàng không trước khi mất tích vào năm 1935.[212]

Tình trạng quốc gia tự trị[sửa | sửa mã nguồn]

George V cùng các thủ tướng của mình. Hàng đứng (trái sang phải): Monroe (Newfoundland), Coates (New Zealand), Bruce (Úc), Hertzog (Nam Phi), Cosgrave (Ireland). Ngồi: Baldwin (Anh), Quốc vương George V, King (Canada).

Úc đạt được địa vị quốc gia có chủ quyền độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, theo Đạo luật Westminster 1931. Điều này chính thức hóa Tuyên ngôn Balfour năm 1926, một báo cáo kết quả từ Hội nghị Đế quốc năm 1926 của các nhà lãnh đạo Đế quốc Anh tại Luân Đôn, theo đó định nghĩa các quốc gia tự trị (Dominion) của Đế quốc Anh:

Họ là các cộng đồng tự trị trong Đế quốc Anh, bình đẳng về địa vị, không ai phải lệ thuộc vào bên khác trong bất kỳ phương diện sự vụ nội bộ hoặc đối ngoại này, tuy nhiên thống nhất do có chung lòng trung thành với Quân chủ, và tự do liên kết với vị thế các thành viên của Thịnh vượng chung Anh của các quốc gia.[213]

Tuy nhiên, đến năm 1942 thì Úc mới phê chuẩn Đạo luật Westminster. Theo sử gia Frank Crowley, điều này là do Úc có ít quan tâm đến việc tái xác định quan hệ của họ với Anh cho đến khủng hoảng trong Chiến tranh thế giới thứ hai.[214]

Từ ngày 1 tháng 2 năm 1927 đến ngày 12 tháng 6 năm 1931, Lãnh thổ phương Bắc được phân chia thành Bắc Úc và Trung Úc tại vĩ tuyến 20°Nam. New South Wales lại giao lại một lãnh thổ nữa cho liên bang, mang tên Lãnh thổ vịnh Jervis gồm 6.677 ha vào năm 1915. Các lãnh thổ ngoại vi được đưa vào lãnh thổ Úc: Đảo Norfolk (1914); đảo Ashmore, quần đảo Cartier (1931); Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Úc được chuyển giao từ Anh (1933); đảo Heard, quần đảo McDonald, và đảo Macquarie được chuyển giao cho Úc từ Anh (1947).

Lãnh thổ Thủ đô Liên bang (FCT) được thành lập từ New South Wales vào năm 1911 để cung cấp một địa điểm cho thủ đô liên bang mới được đề xuất là Canberra (Melbourne là nơi đặt trụ sở chính phủ từ 1901 đến 1927). Lãnh thổ Thủ đô Liên bang được đổi tên thành Lãnh thổ Thủ đô Úc (ACT) vào năm 1938. Quyền kiểm soát Lãnh thổ phương Bắc được chuyển giao từ chính phủ Nam Úc sang Thịnh vượng chung vào năm 1911.

Đại khủng hoảng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1931, trên 1.000 nam giới thất nghiệp tuần hành từ Esplanade đến Treasury Building tại Perth để gặp Thủ tướng Tây Úc James Mitchell.

Úc chịu tác động sâu rộng của Đại khủng hoảng trong thập niên 1930, đặc biệt là do quốc gia này phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là các sản phẩm chủ yếu như len và lúa mì,[215] Bộc lộ thông qua liên tục vay mượn để trang trải cho các hoạt động cốt yếu trong thập niên 1920, các chính phủ liên bang và cấp bang "đã xa khỏi mức an toàn vào năm 1927, khi hầu hết các chỉ thị kinh tế có chiều hướng xấu đi. Sự phụ thuộc của Úc vào xuất khẩu khiến quốc gia này cực kỳ dễ chịu tổn thương do biến động thị trường thế giới," theo lời sử gia kinh tế Geoff Spenceley.[216] Nợ của New South Wales chiếm gần một nửa nợ tích lũy của Úc cho đến tháng 12 năm 1927. Tình hình này gây lo ngại trong một vài chính trị gia và nhà kinh tế học, đáng chú ý là Edward Shann từ Đại học Western Australia, song hầu hết các lãnh đạo chính trị, công đoàn, và doanh nghiệp miễn cưỡng khi thừa nhận các vấn đề nghiêm trọng.[217] Do đó, ngay từ trước khi phá sản Phố Wall năm 1929, kinh tế Úc đã đối diện với các khó khăn đáng kể. Khi kinh tế chậm lại vào năm 1927, ngành chế tạo và quốc gia trượt vào đình đốn khi lợi nhuận sụt giảm và thất nghiệp gia tăng.[218]

Trong đợt bầu cử tổ chức vào tháng 10 năm 1929, Công đảng đại thắng và lên nắm quyền, cựu Thủ tướng Stanley Bruce bị mất chức. Tân Thủ tướng James Scullin và chính phủ phần lớn là thiếu kinh nghiệm của ông hầu như lập tức phải đối diện với một loạt khủng hoảng.

Các "kế hoạch" khác nhau nhằm giải quyết khủng hoảng được đề xuất; một người đại diện của các ngân hàng Anh từng đến thăm Úc vào giữa thập niên 1930 là Otto Niemeyer đề xuất một kế hoạch gây lạm phát nhẹ, trong khi Thủ tướng New South Wales Jack Lang thuộc Công đảng thì đề xuất một kế hoạch cấp tiến mà theo đó không trả nợ nước ngoài.[219] "Premier's Plan" cuối cùng được các chính phủ liên bang và cấp bang chấp thuận vào tháng 6 năm 1931, theo mô hình giảm phát được Niemeyer tán thành và bao gồm giảm 20% chi tiêu chính phủ, giảm lãi suất ngân hàng và tăng thuế.[220] Trong tháng 3 năm 1931, Jack Lang thông báo rằng lãi tại Luân Đôn sẽ không được trả và chính phủ Liên bang can thiệp để nhận nợ. Do các khoản nợ nhiều triệu bảng tăng lên, các cuộc tuần hành công cộng và đối đầu giữa Jack Lang và James Scullin, chính phủ liên bang đương thời dưới quyền Joseph Lyons, Thống đốc New South Wales Philip Game đã thẩm tra chỉ thị của Jack Lang là không nộp tiền bào Ngân khố Liên bang. Hành động này bị kết luận là phi pháp, Lang từ chối rút lại lệnh và đến ngày 13 tháng 5 thì ông bị Thống đốc bãi chức. Trong cuộc bầu cử tháng 6, Lang cũng mất chức trong Công đảng.[221]

Tháng 5 năm 1931, một lực lượng chính phủ bảo thủ mới được thành lập, đó là Đảng Úc Thống nhất, bắt nguồn từ các thành viên ly khai từ Công đảng kết hợp với Đảng Dân tộc. Trong bầu cử liên bang vào tháng 12 năm 1931, Đảng Úc thống nhất do cựu đảng viên Công đảng là Joseph Lyons lãnh đạo dễ dàng thắng cử. Họ duy trì quyền lực cho đến tháng 9 năm 1940. Chính phủ Joseph Lyons thường được công nhận là dẫn dắt quốc gia phục hồi từ khủng hoảng, mặc dù vẫn có tranh luận về việc các chính sách của họ đóp góp bao nhiêu vào thành quả này.[222] Stuart Macintyre cũng chỉ ra rằng mặc dù GDP của Úc tăng trưởng từ £386,9 triệu đến £485,9 triệu giữa 1931–32 và 1938–39, song sản phẩm nội địa thực trên đầu người vẫn "chỉ nhiều hơn vài shilling vào năm 1938–39 (£70,12), so với mức năm 1920–21 (£70,04).[223]

Úc phục hồi tương đối nhanh chóng từ suy sụp tài chính 1929–1930, điều này bắt đầu vào khoảng 1932. Thủ tướng Joseph Lyons tán thành các biện pháp kinh tế của Premiers' Plan, theo đuổi một chính sách tài chính chính thống, và từ chối chấp thuận các đề xuất của Thủ tướng New South Wales Jack Lang về việc không trả nợ nước ngoài. Theo tác giả Anne Henderson của Sydney Institute, Lyons giữ một sự tin tưởng kiên định vào "sự cần thiết phải cân bằng ngân sách, chi phí thấp hơn đối với kinh doanh và khôi phục tín nhiệm" và thời kỳ Lyons trao cho Úc "sự ổn định và cuối cùng là tăng trưởng" giữa bối cảnh Khủng hoảng và bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ hai. Một hành động hạ mức lương được tiến hành, và các bảo hộ thuế quan được duy trì, cùng với nguyên liệu thô rẻ hơn trong thập niên 1930 giúp chuyển đổi ngành sử dụng lao động chính trong kinh tế Úc từ nông nghiệp sang chế tạo—một sự chuyển đổi được củng cố nhờ gia tăng đầu tư của chính phủ liên bang vào quốc phòng và chế tạo vũ khí. Lyons nhận thấy khôi phục xuất khẩu của Úc như là chìa khóa đển khôi phục kinh tế.[224]

Các thành công đặc biệt trong thể thao ít nhiều giúp làm khuây khỏa tinh thần của người Úc trong suy thoái kinh tế. Trong một trận đấu cricket Sheffield Shield tại Sân vận động Cricket Sydney vào năm 1930, một vận động viên mới 21 tuổi của New South Wales là Don Bradman đã ghi tên minh vào sách kỷ lục do phá vỡ số điểm đánh cao nhất trước đó trong một trận cricket hạng nhất.[225] Từ năm 1929 đến 1931, ngựa đua Phar Lap thống trị ngành đua ngựa tại Úc.[226] Các chiến thắng nổi tiếng bao gồm Cúp Melbourne 1930, sau một nỗ lực ám sát.[227] Đại hội Thể thao Đế quốc Anh 1938 được tổ chức tại Sydney từ 5–12 tháng 2, trùng với dịp 150 năm thành lập khu định cư đầu tiên của Anh tại Úc.

Chiến tranh thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ tướng Úc Robert Menzies và Thủ tướng Anh Winston Churchill vào năm 1941.

Cho đến cuối thập niên 1930, phòng thủ không phải là một vấn đề quan trọng đối với người Úc. Trong tổng tuyển cử năm 1937, cả hai chính đảng đều chủ trương tăng chi tiêu quốc phòng trong bối cảnh Nhật Bản tăng cường xâm chiếm Trung Quốc và Đức gây hấn tại châu Âu. Tuy nhiên, tồn tại khác biệt về cách thức phân phối chi tiêu quốc phòng. Chính phủ của Đảng Úc Liên hiệp nhấn mạnh hợp tác với Anh trong "một chính sách phòng thủ của đế quốc" dựa trên căn cứ hải quân Anh tại Singapore và chiến hạm của Hải quân Hoàng gia Anh.[228] Chi tiêu quốc phòng trong những năm giữa hai thế chiến phản ánh ưu tiên này. Trong giai đoạn 1921–1936, tổng cộng £40 triệu được chi cho Hải quân Hoàng gia Úc, £20 triệu chi cho Lục quân Úc và £6 triệu chi cho Không quân Hoàng gia Úc (hình thành năm 1921). Năm 1939, Hải quân Úc, vốn có hai tuần dương hạm hạng nặng và bốn tuần dương hạm hạng nhẹ, là quân chủng được trang bị tốt cho chiến tranh.[229]

Lo ngại về ý định của Nhật Bản tại Thái Bình Dương, Menzies lập các đại sứ quán độc lập tại TokyoWashington, D.C. để nhận được tư vấn độc lập về các tiến triển.[230] Gavin Long lập luận rằng Công đảng đối lập chủ trương tự lực quốc gia lớn hơn thông qua tích tụ sản xuất và tập trung hơn vào Lục quân và Không quân, như Tổng tham mưu trưởng John Lavarack cũng tán thành.[231] Theo John Robertson, "một số nhà lãnh đạo Anh cũng nhận thấy rằng nước họ không thể đồng thời chống lại Nhật và Đức." Tuy nhiên "điều này chưa từng được thảo luận thẳng thắn tại...các cuộc họp của những nhà hoạch định phòng thủ Úc và Anh", như trong Hội nghị Đế quốc 1937.[232]

Ngày 3 tháng 9 năm 1939, Thủ tướng Robert Menzies phát biểu trên sóng phát thanh quốc gia:

Thưa đồng bào Úc, tôi có bổn phận đáng buồn phải thông báo với quý vị, một cách chính thức, rằng do kết quả của tính cố chấp của người Đức trong việc họ xâm chiếm Ba Lan, Anh Quốc đã tuyên chiến với họ, do vậy, Úc cũng ở trong chiến tranh.[233]
Binh sĩ Úc tại vịnh Milne, Papua. Lục quân Úc giành thắng lợi đầu tiên trước Lục quân Đế quốc Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai tại trận vịnh Milne vào tháng 8-9 năm 1942.

Người Úc tham gia chiến đấu tại nhiều địa điểm, từ kháng cự bước tiến của xe tăng Đức trong Cuộc vây hãm Tobruk tại Bắc Phi; đến đẩy lui bước tiến của Lục quân Đế quốc Nhật Bản trong Chiến dịch New Guinea. Từ các nhiệm vụ oanh tạc châu Âu và đụng độ hải quân Địa Trung Hải, đến đối diện với các cuộc tập kích bằng tàu ngầm nhỏ của người Nhật vào cảng Sydney và tấn công hủy diệt bằng đường không vào thành phố Darwin.[234]

Trong tháng 1 năm 1941, Menzies đi máy bay đến Anh để thảo luận về sự yếu kém trong việc phòng thủ Singapore. Trở về Úc với mối đe dọa tiềm tàng từ Nhật Bản và lục quân Úc chịu nguy ngập trong các chiến dịch Hy LạpCrete, Menzies tái tiếp cận Công đảng để thành lập một nội các chiến tranh. Không thể đảm bảo sự ủng hộ của Công đảng, và với một đa số quốc hội bất khả thi, Menzies từ chức Thủ tướng. Liên minh cầm quyền trong một tháng nữa, trước khi những người độc lập chuyển đổi lòng trung thành và John Curtin tuyên thệ nhậm chức thủ tướng.[230]

Chiến tranh càng tới gần Úc khi HMAS Sydney của Hải quân Úc bị đắm khi giao tranh với Kormoran của Đức vào tháng 11 năm 1941 ở ngoài khơi Tây Úc. Trong khi hầu hết lực lượng tinh nhuệ của Úc được chuyển đến chiến đấu với Đức tại Trung Đông, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng tại Hawaii vào ngày 8 tháng 12 năm 1941 (theo giờ miền đông Úc). Các chiến hạm HMS Prince of WalesHMS Repulse của Anh được phái đi phòng thủ Singapore bị đánh đắm ngay sau đó tại biển Đông. Úc chuẩn bị kém trước một cuộc tấn công, thiếu vũ khí, chiến đấu cơ hiện đại, oanh tạc cơ hạng nặng, và hàng không mẫu hạm. Trong khi Churchill yêu cầu tiếp viện, vào ngày 27 tháng 12 năm 1941, John Curtin công bố một thông cáo lịch sử rằng:[235] Tại chiến trường Thái Bình Dương, Hoa Kỳ và Úc cần phải có một tiếng nói đầy đủ nhất trong chỉ huy kế hoạch chiến đấu của các nền dân chủ. Nếu không, Úc sẽ mong đợi từ Hoa Kỳ, giải thoát các liên kết truyền thống hoặc quan hệ họ hàng với Anh Quốc.[236]

Tù binh chiến tranh người Hà Lan và Úc tạ Tarsau, Thái Lan năm 1943. 22.000 người Úc bị Nhật bắt giữ; 8.000 tử vong trong tình trạng tù binh chiến tranh.

Malaya thuộc Anh nhanh chóng sụp đổ, gây sửng sốt cho Úc, sau đó các binh sĩ Anh, Ấn Độ và Úc tại Singapore đầu hàng vào ngày 15 tháng 2 năm 1942. Khoảng 15.000 binh sĩ Úc trở thành tù binh chiến tranh, John Curtin dự đoán rằng tiếp đến sẽ là "trận chiến nước Úc". Ngày 19 tháng 1, Darwin bị oanh tạc hủy diệt, đây là lần đầu tiên đại lục Úc bị lực lượng đối thủ tấn công. Trong 19 tháng sau đó, Úc bị oanh tạc gần 100 lần.

Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt ra lệnh cho sĩ quan chỉ huy lực lượng Hoa Kỳ tại Philippines là Tướng Douglas MacArthur xây dựng kế hoạch phòng thủ Thái Bình Dương cùng với Úc vào tháng 3 năm 1942. John Curtin chấp thuận đặt Úc dưới quyền chỉ huy của Tướng MacArthur, nhân vật này trở thành "Chỉ huy Tối cao của Tây Nam Thái Bình Dương", một chuyển biến căn bản trong chính sách đối ngoại của Úc. MacArthur chuyển trụ sở của mình đến Melbourne vào tháng 3 năm 1942 và các binh sĩ Hoa Kỳ bắt đầu tập trung tại Úc. Vào cuối tháng 5 năm 1942, tàu ngầm cỡ nhỏ của Nhật Bản đánh đắm một tàu sửa chữa trong một cuộc tập kích táo bạo vào cảng Sydney. Ngày 8 tháng 6 năm 1942, hai tàu ngầm của Nhật Bản Cuộc tấn công cảng Sydney|pháo kích]] một thời gian ngắn các khu ngoại ô phía đông của Sydney và thành phố Newcastle.[237]

Trong khi đó, tại Bắc Phi, Lực lượng Phe Trục đẩy lui quân Đồng Minh đến Ai Cập, Một bước ngoặt xảy ra từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1942, khi Sư đoàn 9 của Úc đóng một vai trò quyết định trong một số giao tranh ác liệt nhất của Trận El Alamein thứ nhấtthứ hai, khiến tình thế Chiến dịch Bắc Phi chuyển sang hướng có lợi cho Đồng Minh.[238]

Các cuộc tấn công tại Papua và New Guinea năm 1943–44 là chuỗi các hoạt động đơn lẻ lớn nhất gắn với lực lượng vũ trang Úc.[239] Ngày 14 tháng 5 năm 1943, tàu bệnh viện Centaur của Úc bị quân Nhật đánh đắm ngoài khơi bờ biển Queensland, kích động hơn nữa tư tưởng chống Nhật trong dân chủng Úc.[240][241]

Các tù binh chiến tranh Úc bị ngược đãi nghiêm trọng tại Mặt trận Thái Bình Dương. Năm 1943, có 2.815 tù binh chiến tranh người Úc tử vong khi xây dựng đường sắt Miến Điện-Thái Lan cho người Nhật[242] Năm 1944, người Nhật gây ra Hành quân Chết chóc Sandakan trên đảo Borneo, chỉ có 6 trong số 2.000 tù binh chiến tranh người Úc và Anh còn sống sót, đây là tội ác chiến tranh đơn lẻ tệ nhất chống lại người Úc trong chiến tranh.[243]

Dân số thời chiến của Úc là bảy triệu người, gần một triệu nam nữ phục vụ trong lực lượng vũ trang trong sáu năm chiến sự. Đến khi kết thúc chiến tranh, tổng số người tòng quân là 727.200 nam nữ trong Lục quân Úc (557.800 phục vụ tại hải ngoại), 216.900 trong Không quân Hoàng gia Úc và 48.900 trong Hải quân Hoàng gia Úc. Trên 39.700 người bị giết hay tử vong trong tình trạng tù nhân chiến tranh, khoảng 8.000 trong đó chết khi là tù binh chiến tranh của người Nhật.[244]

Kinh tế Úc chịu tác động rõ rệt do Chiến tranh thế giới thứ hai.[245] Chi tiêu cho chiến tranh đạt 37% GDP vào năm 1943–44, so với 4% chi tiêu trong giai đoạn 1939–1940.[246] Tổng chi tiêu chiến tranh của Úc từ 1939 đến 1945 là £2.949 triệu.[247] Một lực lượng nữ đáng kể tham gia trực tiếp vào sản xuất thời chiến. Từ năm 1939 đến 1944, số phụ nữ làm việc trong nhà máy tăng từ 171.000 lên 286.000.[248]

Bùng nổ hậu chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Robert Menzies là người sáng lập Đảng Tự do Úc và là Thủ tướng Úc 1939–41 và 1949–66

Menzies và Đảng Tự do thống trị: 1949–72[sửa | sửa mã nguồn]

Trên phương diện chính trị, Robert MenziesĐảng Tự do Úc thống trị phần lớn thời kỳ ngay sau chiến tranh, chiến thắng trước chính phủ Công đảng của Ben Chifley vào năm 1949, một phần là do Công đảng đề xuất quốc hữu hóa các ngân hàng[249] và tiếp sau một vụ đình công làm tê liệt ngành than do Đảng Cộng sản Úc lãnh đạo. Menzies trở thành thủ tướng tại vị lâu nhất của Úc, và Đảng Tự do, trong liên minh với Đảng Thôn quê, giành thắng lợi trong mọi cuộc bầu cử liên bang cho đến năm 1972.

Giống như tại Hoa Kỳ vào đầu thệp niên 1950, các cáo buộc về ảnh hưởng cộng sản trong xã hội khiến tình hình chính trị căng thẳng. Những người tị nạn từ khu vực Đông Âu dang do Liên Xô chi phối nhập cư đến Úc, trong khi Đảng Cộng sản Trung Quốc giành thắng lợi trong Nội chiến Trung Quốc vào năm 1949, và đến tháng 6 năm 1950 thì Bắc Triều Tiên cộng sản xâm chiếm miền nam bán đảo. Chính phủ Menzies hưởng ứng một đề nghị của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc do Hoa Kỳ lãnh đạo về viện trợ quân sự cho Hàn Quốc và điều quân từ Nhật Bản đến tham dự Chiến tranh Triều Tiên. Lực lượng Úc tham gia trong nhiều trận chiến như KapyongMaryang San. 17.000 người Úc phục vụ và thương vong là trên 1.500, trong đó có 339 người thiệt mạng.[250]

Trong thời gian diễn ra Chiến tranh Triều Tiên, Chính phủ Tự do nỗ lực để cấm chỉ Đảng Cộng sản Úc, lần đầu theo pháp luật vào năm 1950 và lần thứ hai theo trưng cầu dân ý vào năm 1951.[251] Mặc dù cả hai nỗ lực đều bất thành, song các sự kiện quốc tế tiếp theo như sự đào ngũ của viên chức Đại sứ quán Liên Xô Vladimir Petrov, làm tăng thêm cảm giác đe dọa mà về chính trị thì có lợi cho chính phủ Tự do-Thôn quê của Menzies, khi Công đảng bị phân chia về vấn đề ảnh hưởng của Đảng Cộng sản đối với phong trào công đoàn. Căng thẳng dẫn đến sự xuất hiện của Đảng Lao động Dân chủ (DLP) ly khai, Đảng này vẫn là một lực lượng chính trị có ảnh hưởng, thường nắm giữ cân bằng quyền lực trong Thượng nghị viện, cho đến năm 1974. Ưu tiên của Đảng Lao động Dân chủ là ủng hộ Đảng Tự do và Thôn quê.[252] Công đảng do H.V. Evatt lãnh đạo sau khi Chifley qua đời vào năm 1951, Evatt giữ chức Chủ tịch Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc trong giai đoạn 1948–49 và giúp soạn thảo Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948). Evatt nghỉ hưu vào năm 1960, Arthur Calwell kế nhiệm lãnh đạo Công đảng với cấp phó Gough Whitlam.[253]

Elizabeth II khảo sát cừu tại Wagga Wagga trong chuyến công du hoàng gia năm 1954.

Menzies tại vị trong một giai đoạn bùng nổ kinh tế liên tục và bắt đầu biến hóa xã hội sâu rộng-với sự xuất hiện của nhạc rock and roll và truyền hình trong thập niên 1950. Năm 1958, ca sĩ nhạc đồng quê Slim Dusty giúp Úc lần đầu hiện diện ở vị trí hàng đầu trong bảng xếp hạng âm nhạc quốc tế với nhạc phẩm "Pub With No Beer".[254]

Menzies là người ủng hộ trung thành các liên kết với quân chủ và Thịnh vượng chung các Quốc gia, và chính thức hóa một liên minh với Hoa Kỳ, song cũng khởi động mậu dịch hậu chiến với Nhật Bản, bắt đầu một quá trình tăng trưởng của xuất khẩu than đá, quặng sắt và các tài nguyên khoán sản, cho đến khi Nhật Bản trở thành đối tác mậu dịch lớn nhất của Úc.[255] Khi Menzies nghỉ hưu vào năm 1965, thay thế ông là Harold Holt, Holt chết đuối khi tắm biển trong tháng 12 năm 1967 và người thay thế là John Gorton (1968–1971) và sau đó là William McMahon (1971–1972).

Nhập cư hậu chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Nhập cư hậu chiến đến Úc vào năm 1954

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chính phủ Công đảng của Ben Chifley xúc tiến một chương trình đồ sộ về người nhập cư châu Âu. Năm 1945, Bộ trưởng Nhập cư Arthur Calwell viết rằng "Nếu kinh nghiệm về Chiến tranh Thái Bình Dương đã dạy chúng ta một điều, thì nó chắc chắn là bảy triệu người Úc không thể giữ ba triệu dặm vuông bề mặt địa cầu này vô hạn định."[256] Tất cả các chính đảng đều chia sẻ quan điểm rằng quốc gia cần phải "đưa dân đến hay diệt vong." Calwell phát biểu một ưu Tiên về mỗi mười người Anh Quốc nhập cư ứng với mỗi một người đến từ quốc gia khác; tuy nhiên số người Anh Quốc nhập cư thiếu hụt so với dự kiến bất chấp chính phủ hỗ trợ.[257]

Di cư lần đầu tiên đưa một số lượng lớn người Nam và Trung Âu đến Úc. Một truyền đơn năm 1958 của chính phủ đảm bảo với người đọc rằng người di cư phi Anh Quốc không có kỹ năng là cần thiết cho "lao động trong các dự án gian khổ...công việc mà các công nhân người Úc hay Anh thông thường không chấp thuận."[258] Kinh tế Úc ở trong tình trạng tương phản rõ rệt với châu Âu bị chiến tranh tàn phá, và những người nhập cư mới đến tìm được công việc trong một ngành công nghiệp chế tạo đang bùng nổ và các chương trình trợ giúp của chính phủ như Kế hoạch Snowy Mountains. Tổ hợp thủy điện và thủy lợi tại đông nam Úc gồm có 16 đập lớn và bảy nhà máy điện, được xây dựng từ năm 1949 đến 1974. Nó vẫn là công trình kỹ thuật lớn nhất được tiến hành tại Úc. Dự án cần sử dụng nhân công gồm 100.000 người đến từ trên 30 quốc gia, đối với nhiều người nó biểu thị sự ra đời của Úc đa văn hóa.[259]

Khoảng 4,2 triệu người nhập cư đến từ năm 1945 đến năm 1985, khoảng 40% trong số họ đến từ Anh Quốc và Ireland.[260] Dân số Úc đạt 10 triệu vào năm 1959.

Tăng trưởng kinh tế và sinh hoạt ngoại ô[sửa | sửa mã nguồn]

Úc trải qua tăng trưởng đáng kể về sự thịnh vượng trong thập niên 1950 và 1960, với sự gia tăng về cả tiêu chuẩn sinh hoạt và thời gian thư giãn.[261][262] Ngành công nghiệp chế tạo trước đây đóng một vao trò nhỏ trong kinh tế và do sản xuất sơ cấp chi phối, thì nay được khuếch trương mạnh. Chiếc ô tô Holden xuất xưởng vào tháng 11 năm 1948. Sở hữu ô tô gia tăng nhanh chóng, từ 130/1000 người vào năm 1949 lên đến 271/1000 người vào năm 1961.[263] Đến thập niên 1960, bốn đối thủ của Úc lập nhà máy tại Úc, tuyển dụng từ 80.000 đến 100.000 công nhân, "ít nhất bốn phần năm trong số họ là người di cư."[264]

Giá len và lúa mì vẫn ở mức cao, và len vẫn là hàng hóa xuất khẩu trụ cột của Úc. Số lượng cừu tăng từ 113 triệu vào năm 1950 lên đến 171 triệu vào năm 1965. Sản xuất len tăng từ 518.000 lên 819.000 tấn trong cùng thời kỳ.[265] Lúa mì, len, và khoáng sản đảm bảo một sự cân bằng mậu dịch lành mạnh từ năm 1950 đến 1966.[266]

Trong bùng nổ nhà ở lớn thời kỳ hậu chiến, các khu ngoại ô của các thành phố lớn tại Úc phát triển nhanh chóng. Theo điều tra nhân khẩu năm 1966, chỉ có 14% dân số Úc cư trú tại khu vực nông thôn, giảm từ 31% vào năm 1933 và chỉ có 8% cư trú tại các nông trại.[267] Việc làm đầy đủ có nghĩa là tiêu chuẩn cao về sinh hoạt và gia tăng mạnh sở hữu nhà ở, và đến thập niên 1960, Úc có khoảng cách thu nhập công bằng nhất trên thế giới.

Năm 1954, chính phủ Robert Menzies chính thức công bố sự xuất hiện của hệ thống truyền hình hai tầng mới: một dịch vụ do chính phủ tài trợ do ABC vận hành, và hai dịch dịch vụ thương mại tại Sydney và Melbourne, với Thế vận hội Mùa hè 1956 tại Melbourne trở thành động lực chính sau sự xuất hiện của truyền hình tại Úc.[268]

Liên minh 1950–1972[sửa | sửa mã nguồn]

Harold Holt và Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy trong Phòng Bầu dục năm 1963. Đến thập niên 1960, chính sách phòng thủ của Úc chuyển đồng minh chủ chốt từ Anh sang Hoa Kỳ.

Đầu thập niên 1950, chính phủ Menzies nhận thức rằng Úc là bộ phận của một "liên minh tam quốc" phối hợp với cả Hoa Kỳ và đồng minh truyền thống là Anh.[269] Lúc đầu, "tầng lớp lãnh đạo Úc lựa chọn một phương châm thân Anh kiên định trong ngoại giao", trong khi đồng thời tìm kiếm cơ hội can dự cùng Hoa Kỳ tại Đông Nam Á.[270] Do đó, chính phủ phái quân đội đến tham dự Chiến tranh Triều TiênTình trạng khẩn cấp Malaya và cho Anh thử nghiệm vũ khí hạt nhân sau năm 1952.[271] Úc cũng là quốc gia Thịnh vượng chung duy nhất đề nghị trợ giúp cho Anh trong Khủng hoàng Kênh đào Suez.[272]

Menzies quan sát một sự hoanh nghênh nhiệt liệt Nữ vương Elizabeth II trong chuyến công du đầu tiên đến Úc của một quân chủ đương nhiệm, vào năm 1954. Khi quá cảnh trên đường tham dự lễ đăng cơ của bà vào năm 1953, ông phát biểu trước các khán giả người Mỹ tại New York rằng "người Úc dĩ nhiên là người Anh"[273]

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của Anh suy giảm tại Đông Nam Á, liên minh với Hoa Kỳ có ý nghĩa lớn hơn đối với các lãnh đạo Úc và kinh tế Úc. Đầu tư của Anh tại Úc vẫn quan trọng cho đến cuối thập niên 1970, song mậu dịch với Anh suy giảm trong thập niên 1950 và 1960. Đến cuối thập niên 1950, Lục quân Úc bắt đầu tái trang bị bằng thiết bị quân sự của Hoa Kỳ. Năm 1962, Hoa Kỳ thiết lập một trạm thông tin hải quân tại North West Cape, tiếp sau là một số trạm khác.[274][275] Đáng kể nhất là vào năm 1962, các cố vấn quân đội Úc được phái đi trợ giúp đào tạo lực lượng vũ trang Việt Nam Cộng hòa, trong một xung đột đang phát triển mà Anh không tham dự.

Theo nhà ngoại giao Alan Renouf, chủ đề chi phối trong chính sách đối ngoại của Úc dưới thời các chính phủ Tự do-Thôn quê trong thập niên 1950 và 1960 là chống cộng sản.[276] Một nhà ngoại giao khác là Gregory Clark thì cho rằng sự lo ngại trước Trung Quốc dẫn dắt các quyết định về chính sách đối ngoại của Úc trong hai mươi năm.[277] Hiệp định an ninh ANZUS được ký kết vào năm 1951, có nguồn gốc là sự lo ngại của Úc và New Zeland trước một Nhật Bản tái vũ trang. Nghĩa vụ theo hiệp định đối với Hoa Kỳ, Úc và New Zealand là mơ hồ, song có những lúc quan trọng trong tư duy về chính sách ngoại giao của Úc.[278] Hiệp định SEATO được ký kết chỉ ba năm sau đó, biểu thị hiển nhiên Úc có vị thế là một đồng minh của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Lạnh.

Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân viên và phi cơ của Không quân Hoàng gia Úc đến miền Nam Việt Nam vào tháng 8 năm 1964.

Năm 1965, Úc tăng cường quy mô của Đội Huấn luyện Lục quân Úc tại Việt Nam (AATTV), và đến tháng 4 thì Chính phủ có một thông báo bất ngờ rằng "sau tham vấn chặt chẽ với Hoa Kỳ," một tiểu đoàn quân được phái đến miền Nam Việt Nam.[279] Tại Quốc hội, Menzies nhấn mạnh lập luận rằng "liên minh của chúng ta yêu cầu chúng ta." Liên minh được nhắc đến có lẽ là SEATO, và Úc cung cấp trợ giúp quân sự do Nam Việt Nam là một bên ký kết SEATO, đã thỉnh cầu.[280] Các văn kiện được công bố vào năm 1971 biểu thị rằng quyết định gửi quân là do Úc và Hoa Kỳ tiến hành, không phải thỉnh cầu từ Nam Việt Nam.[281] Năm 1968, có ba tiểu đoàn Lục quân Úc cùng với các cố vấn của AATTV trên khắp Nam Việt Nam, và số nhân viên đạt đỉnh là gần 8.000. Từ năm 1962 đến năm 1972, khoảng 60.000 nhân viên phục vụ tại Việt Nam, bao gồm các lực lượng bộ binh, hàng hải và hàng không.[282] Công đảng đối lập phản đối gửi quân đến Việt Nam.

Bất chấp tình cảm của tân thủ tướng Harold Holt và thắng lợi của chính phủ của ông trong bầu cử năm 1966, chiến tranh Việt Nam trở nên không được quân chúng Úc ủng hộ, giống như tại Hoa Kỳ. Các phong trào nhằm kết thúc sự tham dự của Úc tập hợp sức mạnh sau Sự kiện Tết Mậu Thân vào đầu năm 1968 và phục vụ quốc gia bắt buộc (lựa chọn theo rút thăm) ngày càng trở nên không được ủng hộ. Trong bầu cử năm 1969, chính phủ kiên trì bất chấp chịu suy giảm đáng kể về tính ủng hộ. Các cuộc tuần hành đình chiến được tổ chức trên toàn quốc vào giữa năm 1970 thu hút các đám đông lớn, tuần hành tại với 100.000 người do nghị sĩ Công đảng Jim Cairns lãnh đạo. Do chính phủ Nixon tiến hành Việt Nam hóa chiến tranh và bắt đầu triệt thoái binh sĩ, Úc cũng tiến hành theo. Trong tháng 11 năm 1970, Biệt đội số 1 Úc được hạ thành hai tiểu đoàn và đến tháng 11 năm 1971, lực lượng này triệt thoái khỏi Việt Nam. Các cố vấn quân sự cuối cùng của AATTV được chính phủ Công đảng Gough Whitlam rút về vào giữa tháng 12 năm 1972.[282]

Sự hiện diện quân sự của Úc tại Việt Nam kéo dài 10 năm, với tổng thất 500 nhân mạng và 2.000 người bị thương. Phí tổn chiến tranh của Úc từ năm 1962 đến 1972 là $218 triệu.[282]

Úc hiện đại từ thập niên 1960[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà hát Opera Sydney được chính thức khánh thành vào năm 1973.

Đến giữa thập niên 1960, tại Úc xuất hiện một chủ nghĩa dân tộc mới. Hội đồng Tín thác quốc gia Úc (ACNT) bắt đầu trở nên tích cực trong bảo tồn di sản tự nhiên, văn hóa và lịch sử của Úc. Trên truyền hình, các chính kịch và hài kịch sản xuất bản địa xuất hiện. Thủ tướng John Gorton của Đảng Tự do cho thành lập Hội đồng Nghệ thuật Úc, Công ty Phát triển Điện Ảnh Úc và Học viện Đào tạo Điện ảnh và Truyền hình Quốc gia.[283]

Nhà hát Opera Sydney mang tính biểu tượng được khánh thành vào năm 1973. Trong cùng năm, Patrick White trở thành người Úc đầu tiên giành được một giải Nobel Văn học.[284] Thập niên 1970, lịch sử Úc bắt đầu xuất hiện trọng chương trình giảng dạy tại trường học.[285] Từ đầu thập niên 1970, điện ảnh Úc bắt đầu sản sinh Làn sóng Úc Mới gồm các phim dựa trên chủ đề duy nhất về Úc.

Biến hóa đáng kể cũng xuất hiện trong pháp luật kiểm duyệt của Úc sau khi tân Bộ trưởng Thuế quan và Thuế môn bài Don Chipp được bổ nhiệm vào năm 1969. Năm 1968, sách biếm họa của Barry Humphries và Nicholas Garland mô tả nhân vật lỗ mãng Barry McKenzie bị cấm. Chỉ vài năm sau, sách được dựng thành phim, được trợ giúp một phần từ tài trợ của chính phủ.[286] Sử gia Richard White lập luận rằng "trong khi nhiều vở kịch, tiểu thuyết, và phim sản xuất trong thập niên 1970 phê phán mãnh liệt các khía cạnh sinh hoạt của người Úc, họ bị thu hút bởi "chủ nghĩa dân tộc mới" và và hoanh nghênh tính chất Úc của mình."[287] Năm 1973, sử gia Geoffrey Serle, trong From Deserts the Prophets Come năm 1973 của ông lập luận rằng trong khi Úc cuối cùng đã đến "thành thục tính chất quốc gia".[288]

Thập niên 1960 là một thập niên then chốt đối với các quyền lợi của người bản địa. Năm 1962, Đạo luật Bầu cử Thịnh vượng chung của chính phủ Menzies cấp cho tất cả người bản địa quyền ghi danh và bỏ phiếu tại các cuộc bầu cử liên bang (trước đó người bản địa tại Queensland, Tây Úc và bộ phận Lãnh thổ phương Bắc không được bỏ phiếu trừ khi họ từng là quân nhân). Năm 1965, Queensland trở thành bang cuối cùng cấp quyền bỏ phiếu cho người Nguyên trú.[289][290] Một cuộc trưng cầu dân ý năm 1967 do chính phủ Holt yêu cầu có kết quả là 90% tán thành cải biến Hiến pháp Úc để tính đến toàn bộ người Nguyên trú trong điều tra nhân khẩu quốc gia và cho phép Quốc hội liên bang lập pháp nhân danh họ.[291] Một hội đồng về sự vụ dân Nguyên trú được thành lập.[292]

Năm 1992, Tòa án Thượng thẩm Úc phán quyết về vụ tố tụng Mabo, bác bỏ khái niệm pháp luật về đất vô chủ. Cùng năm đó, Thủ tướng Paul Keating phát biểu rằng những người châu Âu định cư có trách nhiệm cho các khó khăn mà các cộng đồng Nguyên trú tiếp tục đối diện. Năm 1999, Quốc hội thông qua một Bản kiến nghị hòa giải do Thủ tướng John Howard và Thượng nghị sĩ người Nguyên trú Aden Ridgeway soạn thảo, gọi những ngược đãi với người Úc ban địa là chương ô uế nhất trong lịch sử Úc.[293]

Úc quản lý Papua New Guinea và Nauru trong phần lớn thế kỷ 20. Papua và New Guinea nhận quyền tự quản vào năm 1972 và đến ngày 15 tháng 9 năm 1975, Lãnh thổ này trở thành quốc gia độc lập Papua New Guinea.[294][295] Úc chiếm Nauru từ Đế quốc Đức vào năm 1914. Sau thời gian bị Nhật Bản chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đảo trở thành một lãnh thổ được Liên Hiệp Quốc ủy thác cho Úc, cuối cùng giành độc lập vào năm 1968.[296]

Năm 1974, Tòa án Thịnh vượng chung về Hòa giải và Trọng tài trao cho phụ nữ quyền có lương đầy đủ như một người trưởng thành. Tuy nhiên, cản trở phụ nữ làm việc trong các ngành nhất định vẫn được duy trì cho đến thập niên 1970. Đến năm 1975 thì nữ giới mới được nhận làm tài xế trên các xe điện tại Melbourne, và Reginald Ansett từ chối cho phép nữ giới được đào tạo làm phi công cho đến năm 1979.[297]

Whitlam và Fraser[sửa | sửa mã nguồn]

Malcolm Fraser và Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter (1977).

Công đảng Úc dưới quyền lãnh đạo của Gough Whitlam thắng cử vào tháng 12 năm 1972 sau 23 trong tình trạng đối lập, họ khởi đầu một chương trình quan trọng về cải biến xã hội, đột ngột mở rộng ngân sách liên bang. Trong một vài tuần, các cố vấn quân sự cuối cùng tại Việt Nam bị triệu hồi, và phục vụ quốc gia kết thúc. Chính phủ công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Whitlam đến thăm Trung Quốc trong vai trò lãnh đạo đối lập vào năm 1971) và đại sứ quán tại Đài Loan bị đóng cửa.[298][299] Trong vài năm sau đó, học phí đại học bị bãi bỏ và một kế hoạch chăm sóc y tế quốc gia được thiết lập. Các cải biến trọng đại được tiến hành nhằm tài trợ cho trường học.[300] Chương trình nghị sự của chính phủ Whitlam làm hài lòng một số người Úc, tuy nhiên một số chính phủ cấp bang lại công khai chống đối, và khi đảng này không còn kiểm soát thượng nghị viện thì nhiều pháp luật của họ bị bác bỏ hoặc bị cải biến.

Năm 1974, Whitlam chọn John Kerr làm Toàn quyền mới. Chính phủ Whitlam tái đắc cử với một đa số suy giảm trong hạ nghị viện trong tổng tuyển cử năm 1974. Năm 1974-1975, chính phủ cân nhắc về vay 4 tỷ USD từ hải ngoại. Bộ trưởng Rex Connor tiến hành các cuộc thảo luận bí mật với một nhà môi giới vay nợ từ Pakistan, và Bộ trưởng Ngân khố Jim Cairns lừa dối Quốc hội về vấn đề.[301] Liên minh Tự do-Thôn quê đối lập lập luận chính phủ thiếu năng lực sau sự kiện vay nợ này, và đình chỉ thông qua các dự luật tiền tệ của chính phủ tại Thượng nghị viện cho đến khi chính phủ cam kết tổ chức cuộc bầu cử mới. Whitlam từ chối, còn lãnh đạo đối lập Malcolm Fraser thì cương quyết. Bế tắc kết thúc khi chính phủ Whitlam bị Toàn quyền John Kerr giải thể vào ngày 11 tháng 11 năm 1975 và Fraser được làm thủ tướng tạm quyền. "Quyền lực bảo lưu" mà Hiến pháp Úc ban cho Toàn quyền đã cho phép một đại diện cho Quân chủ giải thể một chính phủ dân cử mà không cần cảnh báo.[302]

Chính phủ Fraser đắc cử trong hai cuộc tổng tuyển cử sau đó. Fraser duy trì một số cải cách xã hội trong thời kỳ Whitlam, trong khi tìm cách gia tăng kiềm chế tài chính. Chính phủ của ông có nghị sĩ liên bang đầu tiên là dân Nguyên trú, Neville Bonner, và đến năm 1976, Quốc hội thông qua Đạo luật Quyền Thổ địa dân Nguyên trú 1976, mặc dù bị giới hạn cho Lãnh thổ phương Bắc song xác nhận tư cách thái ấp "bất khả xâm phạm" đối với một số vùng đất truyền thống. Fraser thiết lập đài phát thanh đa văn hóa SBS, hoan nghênh người tị nạn Việt Nam, phản đối sự thống trị của thiểu số da trắng tại Nam Phi (apartheid) và Rhodesia và phản đối chủ nghĩa bành trướng Liên Xô. Tuy nhiên, một chương trình cải cách kinh tế quan trọng không được tiếp tục, và đến năm 1983 thì kinh tế Úc trong tình trạng đình trệ, trong khi phải chịu tác động của một đợt hạn hán nghiêm trọng. Fraser xúc tiến "quyền của các bang" và chính phủ của ông từ chối sử dụng quyền lực Thịnh vượng chung để ngăn việc xây dựng Đập Franklin tại Tasmania vào năm 1982.[303]

Hawke và Keating: 1983–1996[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa nhà Quốc hội mới tại Canberra được khánh thành vào năm 1988.

Công đảng dưới quyền lãnh đạo của Bob Hawke giành thắng lợi trong tổng tuyển cử năm 1983. Chính phủ mới cho dừng dự án Đập Franklin thông qua Tòa án Thượng thẩm Úc. Bob Hawke cùng với Bộ trưởng Ngân khố Paul Keating tuyệt giao với Kinh tế học Keynes có truyền thống được Công đảng tán thành.[304] Thay vào đó, họ tìm kiếm một nền kinh tế hiệu quả hơn và tiến hành thiết kế các cải cách quan hệ kinh tế vi mô và công nghiệp nhằm tăng hiệu quả và tính cạnh tranh. Kelly kết luận rằng "Trong thập niên 1980, cả Công đảng và các đảng khác đều trải qua các cách mạng triết học nội bộ để ủng hộ một bộ ý tưởng mới—tin tưởng vào thị trường, bãi bỏ quy định, giảm vai trò của chính phủ, bảo hộ thấp và thiết lập một văn hóa hợp tác kinh doanh mới."[305]

Bob Hawke và Paul Keating nhấn mạnh vai trò tích cực mà Úc có thể nắm giữ khi là một "cường quốc trung đẳng" tích cực và độc lập. [306] Hawke là một người ủng hộ liên minh với Hoa Kỳ, phái lực lượng hải quân của Úc tham dự Chiến tranh vùng Vịnh. Sau bốn cuộc bầu cử thắng lợi, song trong bối cảnh kinh tế Úc suy thoái và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, kình địch mãnh liệt giữa Bob Hawke và Paul Keating khiến Công đảng bãi chức thủ lĩnh của Bob Hawke và Paul Keating trở thành thủ tướng vào năm 1991.[307]

Trong thời gian giữ chức thủ tướng, Paul Keating nhấn mạnh liên kết với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, hợp tác mật thiết với Tổng thống Indonesia Suharto, và vận động nhằm tăng cường vai trò của APEC như một diễn đàn lớn về hợp tác kinh tế. Paul Keating tích cực trong sự vụ người bản địa và phán quyết Mabo mang tính lịch sử của Tòa án Thượng thẩm Úc vào năm 1992 yêu cầu một phản ứng lập pháp để công nhận quyền sở hữu của người Bản địa với đất, cực độ là Đạo luật quyền sở hữu Bản địa 1993 và Đạo luật Quỹ đất 1994. Năm 1993, Paul Keating thành lập một Uỷ ban Tư vấn Cộng hòa, nhằm khảo sát lựa chọn để Úc trở thành một nước cộng hòa.[308]

Bob Hawke và Paul Keating từ bỏ ủng hộ theo truyền thống của Công đảng đối với thuế quan nhằm bảo hộ kinh tế và công việc. Họ chuyển sang bãi bỏ quy định hệ thống tài chính của Úc và thả nổi dollar Úc.[307] Sau thất bại ban đầu của mô hình Whitlam và bị bãi bỏ một phần dưới thời Fraser, Bob Hawke tái lập một hệ thống bảo hiểm y tế mới, toàn diện mang tên Medicare.[309]

Với nợ nước ngoài, lãi suất và thất nghiệp vẫn cao, và sau một loạt vụ từ chức cấp bộ trưởng, Paul Keating thất bại trong tổng tuyển cử năm 1996 trước Đảng Tự do dưới quyền lãnh đạo của John Howard.[308]

Chính phủ Howard: 1996–2007[sửa | sửa mã nguồn]

Các vũ công dân Nguyên trú trình diễn trong lễ khai mạc Thế vận hội Mùa hè 2000 tại Sydney.

John Howard cùng Liên minh Tự do-Quốc gia nắm quyền từ năm 1996 cho đến 2007, và Howard là thủ tướng tại vị lâu từ nhì trong lịch sử Úc, sau Menzies. Một trong những chương trình đầu tiên mà chính phủ Howard xúc tiến là kế hoạch kiểm soát súng toàn quốc, sau vụ xả súng tại Port Arthur. Chính phủ cũng khởi động các cải cách quan hệ công nghiệp. Sau tổng tuyển cử năm 1996, Howard và Bộ trưởng Ngân khố Peter Costello đề xuất một thuế Hàng hóa và Dịch vụ (GST), nhờ đó mà giành thắng lợi trong bầu cử năm 1998. Chế độ quân chủ Úc tồn tại sau một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc năm 1999. Úc đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2000 tại Sydney.

Năm 1999, Úc lãnh đạo lực lượng Liên Hiệp Quốc tại Đông Timor nhằm giúp thiết lập chế độ dân chủ và độc lập cho quốc gia này, sau các bạo lực chính trị.[310] Úc cũng phái quân tham dự một số hoạt động duy trì hòa bình và ổn định hòa khác: đáng chú ý là tại Bougainville, bao gồm Chiến dịch Bel Isi (1998–2003); cũng như Chiến dịch Helpem Fren và Sứ mệnh hỗ trợ khu vực đến Quần đảo Solomon (RAMSI) do Úc lãnh đạo vào đầu thập niên 2000; và khủng hoảng Đông Timor 2006.[311]

Chính phủ Howard mở rộng nhập cư về tổng thể song việc tiến hành thường ra luật nhập cư khó khăn gây tranh luận nhằm ngăn cản các thuyền nhân đến Úc một cách bất hợp pháp. Trong khi Howard là một người ủng hộ mạnh mẽ các liên kết truyền thống với Thịnh vượng chung và liên minh với Hoa Kỳ, thì mậu dịch với châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, tiếp tục tăng lên đáng kể, và Úc trải qua một thời kỳ thịnh vượng kéo dài. Trong nhiệm kỳ của Howard, xảy ra Sự kiện 11 tháng 9, hậu quả là chính phủ Úc phải quân đến tham dự Chiến tranh AfghanistanChiến tranh Iraq.[310]

Bước vào thế kỷ 21[sửa | sửa mã nguồn]

Công đảng dưới quyền lãnh đạo của Kevin Rudd giành thắng lợi trong tổng tuyển cử năm 2007, và Kevin Rudd giữ chức thủ tướng cho đến tháng 6 năm 2010, khi ông bị thay thế chức vụ thủ lĩnh của đảng. Kevin Rudd sử dụng nhiệm kỳ của mình để phê chuẩn tượng trưng Nghị định thư Kyoto và lãnh đạo một sự tạ lỗi lịch sử của quốc hội với Thế hệ bị đánh cắp (những người Úc bản địa bị chia tách khỏi cha mẹ từ đầu thế kỷ 20 đến thập niên 1960). Trong nhiệm kỳ thủ tướng của ông trùng với giai đoạn đầu của khủng hoảng tài chính toàn cầu, chính phủ của ông phản ứng trước khủng hoảng thông qua một gói kích thích kinh tế lớn—cách thức xử lý gây tranh luận về sau.[312] Úc tránh được suy thoái sau sự sụp đổ tài chính toàn cầu, tương phản với hầu hết các nền kinh tế phương Tây khác.[313]

Công đảng thay thế Kevin Rudd bằng Julia Gillard vào năm 2010, bà trở thành nữ thủ tướng đầu tiên trong lịch sử Úc. Sau tổng tuyển cử năm 2010, Công đảng đảm bảo quyền lực trong quốc hội treo đầu tiên kể từ tổng tuyển cử 1940.[314] Kình địch về quyền lãnh đạo tiếp tục và Kevin Rudd được phục chức thủ tướng vào tháng 6 năm 2013.[315] Trong tổng tuyển cử năm 2013, chính phủ Kevin Rudd thất bại, và Chính phủ Tự do-Quốc gia của Tony Abbott hình thành. Chính phủ Tony Abbott ký kết Hiệp định Mậu dịch Tự do Úc-Hàn và Hiệp định Đối tác Kinh tế Úc-Nhật vào năm 2014.[316][317]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lewis, Balderstone and Bowan (2006) p. 25
  2. ^ Peter Hiscock (2008). Archaeology of Ancient Australia. Routledge: London. ISBN 0-415-33811-5
  3. ^ John Mulvaney and Johan Kamminga (1999). Prehistory of Australia. Allen and Unwin, Sydney. ISBN 1-86448-950-2
  4. ^ L. Smith (1980), The Aboriginal Population of Australia, Australian National University Press, Canberra.
  5. ^ Geoffrey Blainey (1975) Triumph of the Nomads: A history of Ancient Australia. p. 92 Sun Books. ISBN 0-7251-0240-3. Blainey cites 1930s research by anthropologist A.R. Radcliffe-Brown. In a footnote he calculates that more than 300 million Aborigines would have lived and died in Australia since 28,000 BC and gives a population of 300,000 in 1788.
  6. ^ 1301.0 – Year Book Australia, 2002 Australian Bureau of Statistics ngày 25 tháng 1 năm 2002
  7. ^ also see other historians including Noel Butlin (1983) Our Original Aggression George Allen and Unwin, Sydney. ISBN 0-86861-223-5
  8. ^ Ron Laidlaw "Aboriginal Society before European settlement" in Tim Gurry (ed) (1984) The European Occupation. Heinemann Educational Australia, Richmond. p. 40. ISBN 0-85859-250-9
  9. ^ Bowler J.M., Johnston H., Olley J.M., Prescott J.R., Roberts R.G., Shawcross W., Spooner N.A. (2003). “New ages for human occupation and climatic change at Lake Mungo, Australia.”. Nature 421 (6925): 837–40. doi:10.1038/nature01383. PMID 1259451. 
  10. ^ Bowler, J.M. 1971. Pleistocene salinities and climatic change: Evidence from lakes and lunettes in southeastern Australia. In: Mulvaney, D.J. and Golson, J. (eds), Aboriginal Man and Environment in Australia. Canberra: Australian National University Press, pp. 47–65.
  11. ^ “The Indigenous Collection”. The Ian Potter Centre: NGV Australia. National Gallery of Victoria. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2010. 
  12. ^ “Environment.gov.au”. Environment.gov.au. Ngày 8 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  13. ^ “Environment.gov.au”. Environment.gov.au. Ngày 8 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  14. ^ “Indigenous art”. Australian Culture and Recreation Portal. Australia Government. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  15. ^ Australia (ngày 1 tháng 7 năm 2011). “Australianmuseum.net.au”. Australianmuseum.net.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  16. ^ Manning Clark; A Short History of Australia; Penguin Books; 2006; pp. 1–4
  17. ^ Jon Altman and Diane Smith (1991) "Aboriginal People of Northern Territory", p. 6 in Aboriginal Australia, produced by Aboriginal and Torres Strait Islander Commission (ATSIC) ISBN 0642158703
  18. ^ “ABC.net.au”. ABC.net.au. Ngày 10 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  19. ^ US. “Animals.nationalgeographic.com”. Animals.nationalgeographic.com. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  20. ^ Jeff Short, J. E. Kinnear, Alan Robley (ngày 12 tháng 12 năm 2001). “Surplus killing by introduced predators in Australia—evidence for ineffective anti-predator adaptations in native prey species?”. ScienceDirect. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2009. 
  21. ^ Julia Clark (c. 1992) "Aboriginal People of Tasmania", p. 3 in Aboriginal Australia, produced by Aboriginal and Torres Strait Islander Commission (ATSIC)ISBN 0-644-24277-9
  22. ^ Richard Broome (1984) Arriving. p. 6
  23. ^ Richard Broome (1984). Arriving. p. 8.
  24. ^ Manning Clark; A Short History of Australia; Penguin Books; 2006; p. 9
  25. ^ Flannery, T. (ed.), 1788 Watkin Tench, The Text Publishing Co., 1996, ISBN 1-875847-27-8
  26. ^ Edward Curr cited in Richard Broome (1984) Arriving. p. 16, Fairfax, Syme and Weldon, Sydney. ISBN 0-949288-01-2
  27. ^ Geoffrey Blainey (1975) Triumph of the Nomads, Preface. Blainey writes "If an Aboriginal in the seventeenth century had been captured as a curiosity and taken in a Dutch ship to Europe, and if he had travelled all the way from Scotland to the Caucasus and had seen how the average European struggled to make a living, he might have said to himself he had now seen the third world and all its poverty and hardship."
  28. ^ Richard Broome (1991) "Aboriginal People of Victoria", p. 7 in Aboriginal Australia, produced by Aboriginal and Torres Strait Islander Commission (ATSIC) ISBN 1-920750-00-2
  29. ^ a ă “Central Art Store: The Lost Nomads”. aboriginalartstore.com.au. 
  30. ^ Hughes, Robert, "The Fatal Shore"(1987), pp. 47–48. Alfred A. Knopf, New York. ISBN 0394506685.
  31. ^ MacKnight, C.C. (1976).The Voyage to Marege': Macassan Trepangers in Northern Australia. Melbourne University Press. ISBN 0-522-84088-4
  32. ^ Regina Ganter suggests a start to the industry of 1640. See Ganter,R.(2008) Journal of Australian Studies, Volume 32,4, 2008: "Muslim Australians: the deep histories of contact." [1] Retrieved on ngày 14 tháng 1 năm 2013.
  33. ^ Wendy Lewis, Simon Balderstone and John Bowan (2006). Events That Shaped Australia. New Holland. tr. 19. ISBN 978-1-74110-492-9. 
  34. ^ Lewis, Balderstone và Bowan (2006) p. 37
  35. ^ “SBS.com.au”. SBS.com.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  36. ^ Geoffrey Blainey; A Very Short History of the World; Penguin Books; 2004; ISBN 978-0-14-300559-9
  37. ^ Invisible Invaders: Smallpox and Other Diseases in Aboriginal Australia 1780 – 1880, by Judy Campbell, Melbourne University Press, 2002, Foreword & pp 55, 61, 73–74, 181
  38. ^ Macknight, C. C. "Macassans and the Aboriginal past" in Archaeologia Oceania | publication-date=1986 | volume=21 | pages=69–75
  39. ^ Mear C. “The origin of the smallpox in Sydney in 1789”. Journal of Royal Australian Historical Society 94 (1): 1–22. 
  40. ^ Bennett, MJ, "Smallpox and Cowpox under the Southern Cross: The Smallpox Epidemic of 1789...", Bulletin of the History of Medicine, 83(1), Spring 2009, pg 48.
  41. ^ “Warren”. Truy cập 15 tháng 2 năm 2015. 
  42. ^ Warren Christopher (2013). “Smallpox at Sydney Cove – Who, When, Why”. Journal of Australian Studies. doi:10.1080/14443058.2013.849750. 
  43. ^ Richard Broome (1984) Arriving. pp. 27–28
  44. ^ “Governor Daveys Proclamation to the Aborigines”. Manuscripts, Oral History & Pictures. State Library of New South Wales. 2008. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2009. 
  45. ^ Chris Coulthard-Clark (1998) The Encyclopaedia of Australia's Battles. pp. 3–4 Allen and Unwin, Sydney. ISBN 1-86508-634-7
  46. ^ Bruce Elder(1998)Blood on the Wattle; Massacres and Matreatment of Aboriginal Australians since 1788. pp. 31–32. New Holland Publishing, Sydney. ISBN 1-86436-410-6
  47. ^ “SBS.com”. SBS.com. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  48. ^ “UTAS.edu.au”. UTAS.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  49. ^ “UTAS.edu.au”. UTAS.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  50. ^ Bruce Elder (1998) pp. 83–94
  51. ^ Richard Broome and Alan Frost (1999) p. 43
  52. ^ cited in Richard Broome (1984) Arriving. p. 31
  53. ^ Henry Reynolds(1989) Dispossession. p. 141
  54. ^ “Apsa2000.anu.edu.au”. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  55. ^ Dewar, Mickey. “ADB.online.anu.edu.au”. ADB.online.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  56. ^ McIntyre, K.G. (1977) The Secret Discovery of Australia, Portuguese ventures 200 years before Cook, Souvenir Press, Menindie ISBN 0-285-62303-6
  57. ^ Robert J. King, "The Jagiellonian Globe, a Key to the Puzzle of Jave la Grande", The Globe: Journal of the Australian Map Circle, No. 62, 2009, pp. 1–50.
  58. ^ Robert J. King, "Regio Patalis: Australia on the map in 1531?", The Portolan, Issue 82, Winter 2011, pp. 8–17.
  59. ^ J.P. Sigmond and L.H. Zuiderbaan (1979) Dutch Discoveries of Australia.Rigby Ltd, Australia. pp. 19–30 ISBN 0-7270-0800-5
  60. ^ “"Australia Felix.".”. The Register (Adelaide, SA: 1901–1929) (Adelaide, SA: National Library of Australia). Ngày 26 tháng 1 năm 1925. tr. 8. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2012. 
  61. ^ “ADBonline.anu.edu.au”. ADBonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  62. ^ a ă Manning Clark; A Short History of Australia; Penguin Books; 2006; p. 6
  63. ^ a ă “INTERESTIXG HISTORICAL NOTES.”. The Mercury (Hobart, Tas. : 1860–1954) (Hobart, Tas.: National Library of Australia). Ngày 9 tháng 10 năm 1923. tr. 5. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012. 
  64. ^ “NUYTS TERCENTENARY.”. The Register (Adelaide, SA: 1901–1929) (Adelaide, SA: National Library of Australia). Ngày 24 tháng 5 năm 1927. tr. 11. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2012. 
  65. ^ *Bản mẫu:Dictionary of Australian Biography
    • Edward Duyker (ed.) The Discovery of Tasmania: Journal Extracts from the Expeditions of Abel Janszoon Tasman and Marc-Joseph Marion Dufresne 1642 & 1772, St David's Park Publishing/Tasmanian Government Printing Office, Hobart, 1992, p. 106, ISBN 0-7246-2241-1.
  66. ^ John Peter Purry, A Method for Determining the Best Climate of the Earth, London, 1744; and Lands of True and Certain Bounty: the Geographical Theories and Colonization Strategies of Jean Pierre Purry, edited and annotated with introductions to the texts by Arlin C. Migliazzo; translations from the French by Pierrette C. Christianne-Lovrien and 'BioDun J. Ogundayo, Susquehanna University Press, Selinsgrove PA, 2002.
  67. ^ Terra Australis Cognita, Edinburgh, 1766, Vol. I, pp. 10, 20–23.
  68. ^ Admiralty instructions cited in A.G.L. Shaw (1972) The Story of Australia. p. 32 Faber and Faber, London. ISBN 0-571-04775-0
  69. ^ Andrew Cook, Introduction to An account of the discoveries made in the South Pacifick Ocean / by Alexander Dalrymple ; first printed in 1767, reissued with a foreword by Kevin Fewster and an essay by Andrew Cook, Potts Point (NSW), Hordern House Rare Books for the Australian National Maritime Museum, 1996, pp. 38–39; O.H.K. Spate, Paradise Found and Lost, Sydney, Australian National University Press, 1988, pp. 100–01.
  70. ^ J.C. Beaglehole and R.A. Skelton (eds.), The Journals of Captain James Cook on His Voyages of Discovery, Vol. 1, The Voyage of the Endeavour, 1768–1771, Cambridge University Press for the Hakluyt Society, 1955, pp. 288–91; J.C. Beaglehole, The Life of Captain James Cook, London, The Hakluyt Society, 1955, pp. 273–74.
  71. ^ J.C. Beaglehole and R.A. Skelton (eds.), The Journals of Captain James Cook on His Voyages of Discovery, Vol. 1, The Voyage of the Endeavor, 1768–1771, Cambridge University Press for the Hakluyt Society, 1955, p. 387.
  72. ^ Bill Gammage, "Early Boundaries of New South Wales", Historical Studies, Vol.19, No.77, 1981, pp. 524–31.
  73. ^ Ducksey C. C. Cowan and John C. Camm, Objects & History of the Voyage of Mm. Yves de Kerguelen and Francois Alesne de Saint Allouarn in the Australian Seas, Paris, 1934. Walter R. Bloom, "The role of a French ecu in the colonization of Western Australia", Journal of the Numismatic Association of Australia, Vol. 9, July 1998, pp. 34–42.
  74. ^ Robert J. King, "Gustaf III's Australian Colony", The Great Circle, Vol. 27, No. 2, 2005, pp. 3–20. Also through APAFT at: search.informit.com.au/fullText;dn=200600250;res=APAFT
  75. ^ Campbell Macknight, "A Useless Discovery? Australia and its People in the Eyes of Others from Tasman to Cook", The Globe, No. 61, 2008, pp. 1–10.[2]
  76. ^ Journals of the House of Commons, 19 Geo. III, 1779, p. 311 [3]; John Gascoigne, Science in the Service of Empire: Joseph Banks, the British State and the Uses of Science in the Age of Revolution, Melbourne, Cambridge University Press, 1998, p. 187.
  77. ^ Harold B. Carter, "Banks, Cook and the Eighteenth Century Natural History Tradition", in Tony Delamotte and Carl Bridge (eds.), Interpreting Australia: British Perceptions of Australia since 1788, London, Sir Robert Menzies Centre for Australian Studies, 1988, pp. 4–23.
  78. ^ James Matra, ngày 23 tháng 8 năm 1783, National Archives, Kew, Colonial Office, Original Correspondence, CO 201/1: 57 61; reproduced in Jonathan King, "In the Beginning..." The Story of the Creation of Australia, From the Original Writings, Melbourne, Macmillan, 1985, p. 18.
  79. ^ Matra to Fox, ngày 2 tháng 4 năm 1784. British Library, Add. Ms 47568; an abridgement of this second version of Matra's proposal was published in issues of The General Advertiser of 12, 13, 17 and ngày 14 tháng 10 năm 1786, accessible at: www.nla.gov.au/app/eresources/item/3304
  80. ^ Alan Atkinson, "The first plans for governing New South Wales, 1786–87", Australian Historical Studies, Vol. 24, No. 94, April 1990, pp. 22–40, p. 31.
  81. ^ 'Memo. of matters to be brought before Cabinet', State Library of New South Wales, Dixon Library Add. MS Q522; Alan Atkinson, "The first plans for governing New South Wales, 1786–87", Australian Historical Studies, Vol. 24, No. 94, April 1990, pp. 22–40, p. 31., dated and photoduplicated in Alan Frost, "Historians, Handling Documents, Transgressions and Transportable Offences", Australian Historical Studies, Vol. 25, No. 98, October 1992, pp. 192–213, pp. 208–09.
  82. ^ Whitehall Evening Post, ngày 4 tháng 11 năm 1784. The news was reported in the overseas press, such as the Gazzetta Universale (Florence), 30 Novembre 1784, p. 765; The Pennsylvania Gazette, ngày 26 tháng 1 năm 1785; The Weekly Monitor (Litchfield, MA), ngày 1 tháng 2 năm 1785; The United States Chronicle (RI), ngày 24 tháng 2 năm 1785; and The Massachusetts Centinel, ngày 2 tháng 3 năm 1785.
  83. ^ Robert J. King, "Norfolk Island: Phantasy and Reality, 1770–1814", The Great Circle, Vol. 25, No. 2, 2003, pp. 20–41.
  84. ^ David Hill. (2008) 1788; The Brutal Truth of the First Fleet. p. 9. William Heinemann, Australia ISBN 978-1-74166-797-4
  85. ^ A.G.L. Shaw (1972) p. 35
  86. ^ David Hill (2008) p. 11
  87. ^ Alan Frost, Convicts & Empire: A Naval Question, 1776–1811, Melbourne, Oxford U.P., 1980, pp.115–116, 129; Robert J. King, "'Ports of Shelter and refreshment...' Botany Bay and Norfolk Island in British Naval Strategy, 1786–1808", [Australian] Historical Studies, Vol.72, No. 87, 1986, pp. 199–213.
  88. ^ These plans are discussed in Robert J. King, "Spanish America in 18th Century British Naval Strategy and the visit of Malaspina to New South Wales in 1793", in Actas del II Simposio de Historia Marítima y Naval Iberoamericano, noviembre 1993, Viña del Mar, Universidad Marítima de Chile, 1996, pp. 1–13; Robert J. King, "An Australian Perspective on the English Invasions of the Rio de la Plata in 1806 and 1807", International Journal of Naval History, Vol. 8, No. 1, April 2009 [4]; and in Alan Frost, "Shaking off the Spanish Yoke: British Schemes to Revolutionise Spanish America, 1739–1807", Margarette Lincoln, Science and Exploration in the Pacific: European Voyages to the Southern Oceans in the Eighteenth Century, Woodbridge, Boydell & Brewer, 2001, pp. 19–37.
  89. ^ Georg Forster, "Neuholland und die brittische Colonie in Botany-Bay", Allgemeines historisches Taschenbuch, (Berlin, December 1786), bản dịch tiếng Anh tại web.mala.bc.ca và tại australiaonthemap.org.au
  90. ^ William Bolts to the Swedish Ambassador in Paris, Erik von Staël in December 1789, Holden Furber, "In the Footsteps of a German 'Nabob': William Bolts in the Swedish Archives", The Indian Archives, Vol.12, Nos. 1–2, January–December 1958, pp. 14–15.
  91. ^ A Complete map of the Southern Continent survey'd by Capt. Abel Tasman & depicted by order of the East India Company in Holland in the Stadt House at Amsterdam; E. Bowen, Sculp. [5]
  92. ^ Robert J. King, "Terra Australis, New Holland and New South Wales: the Treaty of Tordesillas and Australia", The Globe, No. 47, 1998, pp. 35–55, 48–49.
  93. ^ Alexandro Malaspina, "Examen Politico de las Colonias Ynglesas en el Mar Pacifico", Museo Naval (Madrid), MS 329, ff. 57–88v; MS 318 ff. 11–37v; translated in Robert J. King, The Secret History of the Convict Colony: Alexandro Malaspina's report on the British settlement of New South Wales, Sydney, Allen & Unwin Australia, 1990, pp. 95–96.
  94. ^ François Péron, "Mémoire sur les Établissements Anglais à la Nouvelle Hollande, à la Terre de Diémen et sur les Archipels du Grand Océan Pacifique" [1803], published by Roger Martin in Revue de l'Institut Napoléon, No.176, 1998.
  95. ^ Historical Records of Australia, Series I, Vol. VIII, 1916, pp. 96–118, 623; and Series IV, Vol. I, 1922, pp. 103–04.
  96. ^ Statutes at Large, 57 Geo. III, c. 53, p. 27; Church Missionary Society to Bathurst [early 1817], Historical Records of New Zealand, Vol. I, pp. 417–29; London Missionary Society to Marsden, ngày 5 tháng 6 năm 1817, Mitchell Library, Marsden Papers, A1995, Vol. 4, p. 64, cited in A.T. Yarwood, Samuel Marsden: The Great Survivor, Melbourne, MUP, 1977, p. 192; Robert McNab, From Tasman to Marsden, Dunedin, 1914, p. 207.
  97. ^ Alan Frost, The First Fleet: The Real Story, Melbourne, Black Inc., 2011. Rosalind Miles (2001) Who Cooked the Last Supper: The Women's History of the World Three Rivers Press. ISBN 0-609-80695-5 google books
  98. ^ Peter Hill (2008) pp.141–50
  99. ^ “SL/nsw.gov.au”. SL/nsw.gov.au. Ngày 9 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  100. ^ a ă B.H. Fletcher. “ADBonline.anu.edu.au”. ADBonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  101. ^ “AUSTRALIAN ALMANAC.”. The Australian Women's Weekly (1933–1982) (1933–1982: National Library of Australia). Ngày 15 tháng 2 năm 1967. tr. 35. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2012. 
  102. ^ Watkin Tench, A Narrative of the Expedition to Botany Bay, London, Debrett, April 1789, p. 67.
  103. ^ King, Robert J. "Norfolk Island: Phantasy and Reality, 1770–1814." The Great Circle, Vol. 25, No. 2, 2003, pp. 20–41.
  104. ^ Historical Records of Australia, Series III, Vol. V, 1922, pp. 743–47, 770.
  105. ^ Letters Patent establishing the Province of South Australia, in Brian Dickey and Peter Howell, South Australia's Foundation: Select Documents, Adelaide, Wakefield Press Netley, 1986, p. 75
  106. ^ South Australian Association, South Australia: Outline of the Plan of a Proposed Colony to be Founded on the South Coast of Australia, London, Ridgway, 1834, p. 6; Henry Capper and William Light, South Australia: Extracts from the Official Dispatches of Colonel Light, ... letters of settlers... [and] the proceedings of the South Australian Company, London, H. Capper, 1837, p. 21; Peter Howell, "The Passing of South Australia's Foundation Bill, 1834", Flinders Journal of History and Politics, Vol. 11, 1985, pp. 25–41, p. 35; Peter Howell, "The South Australia Act, 1834", in Dean Jaensch (ed.), The Flinders history of South Australia: Political history, Netley, Wakefield Press, 1986, pp. 39–40.
  107. ^ Jan Bassett (1986) p. 258
  108. ^ See Lloyd Robson (1976) The Convict Settlers of Australia. Melbourne University Press, Melbourne ISBN 0-522-83994-0
  109. ^ “Catholicaustralia.com.au”. Catholicaustralia.com.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  110. ^ K.J. Cable. “ADBonline.anu.edu.au”. ADBonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  111. ^ A.T. Yarwood. “ADBonline.anu.edu.au”. ADBonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  112. ^ A.G.L. Shaw. “ADB.online.anu.edu.au”. ADB.online.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  113. ^ Lewis, Balderstone and Bowan (2006) p. 42
  114. ^ N.D. McLachlan. “ADB.online.anu.edu.au”. ADB.online.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  115. ^ Năm 1850, chi phí thấp nhất cho chuyến đi đến Hoa Kỳ hay Canada là khoảng £5, so với £40 cho hành trình đến Úc. Xem Trina Jeremiah in T. Gurry (1984) p. 126
  116. ^ B.H. Fletcher. “Biography – Arthur Phillip – Australian Dictionary of Biography”. Adbonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  117. ^ Barnard, Marjorie. “Biography – Elizabeth Henrietta Macquarie – Australian Dictionary of Biography”. Adbonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  118. ^ Conway, Jill. “Biography – Elizabeth Macarthur – Australian Dictionary of Biography”. Adbonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  119. ^ Thorpe, Osmund. “Biography – Mary Helen MacKillop – Australian Dictionary of Biography”. Adbonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  120. ^ W.P. Driscoll and E.S. Elphick (1982) Birth of A Nation p. 147. Rigby, Australia. ISBN 0-85179-697-4
  121. ^ W.P. Driscoll and E.S. Elphick (1982). p. 148
  122. ^ “Governor Bourke’s Proclamation of Terra Nullius c. 1835, NSW Migration Heritage Centre website”. migrationheritage.nsw.gov.au. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010. 
  123. ^ Grey, Jeffrey (2008). A Military History of Australia . Port Melbourne: Cambridge University Press. tr. 28–40. ISBN 978-0-521-69791-0. 
  124. ^ a ă “Biography – George Bass – Australian Dictionary of Biography”. Adbonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |las= (trợ giúp)
  125. ^ Conway, Jill. “Biography – Gregory Blaxland – Australian Dictionary of Biography”. Adbonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  126. ^ Hume, Stuart H. (ngày 17 tháng 8 năm 1960). “Biography – Hamilton Hume – Australian Dictionary of Biography”. Adbonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  127. ^ H.J. Gibbney. “Biography – Charles Sturt – Australian Dictionary of Biography”. Adbonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  128. ^ D.W.A. Baker. “Biography – Sir Thomas Livingstone Mitchell – Australian Dictionary of Biography”. Adbonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  129. ^ Heney, Helen. “Biography – Sir Paul Edmund de Strzelecki – Australian Dictionary of Biography”. Adbonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  130. ^ Tim Flannery; The Explorers; Text Publishing 1998
  131. ^ Lewis, Balderstone and Bowan (2006) p. 47
  132. ^ Frances Hale (1983) Wealth beneath the Soil. pp. 3–5. Thomas Nelson. Melbourne. ISBN 0-17-006049-7
  133. ^ Richard Broome (1984) Arriving. p. 69
  134. ^ C.M.H. Clark (1971) Select Documents in Australian History 1851–1900 (Vol. 2) pp. 664–65. Angus and Robertson, Sydney. ISBN 0-207-13426-X
  135. ^ Bob O'Brien (1992) Massacre at Eureka, the Untold Story. pp. 94–98. Australian Scholarly Publishing, Melbourne. ISBN 1-875606-04-1
  136. ^ Lewis, Balderstone and Bowan (2006) p. 52
  137. ^ Frances Hale (1983) Wealth beneath the soil. p. 77
  138. ^ Jan Bassett (1986),The Concise Oxford Dictionary of Australian History. p. 87. Oxford University Press, Melbourne. ISBN 0-19-554422-6
  139. ^ Geoffrey Serle (1963) The Golden Age: A history of the Colony of Victoria 1851–1861. pp. 320–35. Melbourne University Press, Melbourne. ISBN 0-522-84143-0
  140. ^ W.P. Driscoll and E.S. Elphick (1982) p. 189
  141. ^ W.P. Driscoll and E.S. Elphick (1982) pp.189–96. Gold production in unadjusted figures.
  142. ^ C.M.H. Clark (1971) p. 666
  143. ^ Leigh Astbury (1985) City Bushmen; the Heidelberg School and the Rural Mythology. p. 2 Oxford University Press, Melbourne. ISBN 0-19-554501-X
  144. ^ “AUSTRALIAN BUSH RANGERS”. Stand and Deliver, Highwaymen & Highway Robbery. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2007. 
  145. ^ a ă â b c d “BUSHRANGERS OF AUSTRALIA” (PDF). Bảo tàng Quốc gia Úc. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2007. 
  146. ^ “Old Windsor Road and Windsor Road Heritage Precincts”. Heritage and conservation register. New South Wales Roads and Traffic Authority. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2007. 
  147. ^ “Moadoph.gov.au”. Moadoph.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  148. ^ Suttor, T. L. “Plunkett, John Hubert (1802–1869)”. Australian Dictionary of Biography. Australian National University. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. 
  149. ^ a ă “AEC.gov.au”. AEC.gov.au. Ngày 11 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  150. ^ “AEC.gov.au”. AEC.gov.au. Ngày 26 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  151. ^ “AEC.gov.au”. AEC.gov.au. Ngày 25 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2010. 
  152. ^ “Foundingdocs.gov.au”. Foundingdocs.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  153. ^ “AEC.gov.au”. AEC.gov.au. Ngày 22 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  154. ^ D.M. Gibb (1982) National Identity and Consciousness. p. 33. Thomas Nelson, Melbourne. ISBN 0-17-006053-5
  155. ^ D.M. Gibb (1982) p. 3
  156. ^ Vance Palmer (1954) The Legend of the Nineties. p. 54. Reprinted by Currey O'Neil Ross, Melbourne. ISBN 0-85902-145-9
  157. ^ Bernard Smith (1971) Australian Painting 1788–1970. p. 82. Oxford University Press, Melbourne. ISBN 0-19-550372-4
  158. ^ Alan McCulloch, Golden Age of Australian Painting: Impressionism and the Heidelberg School
  159. ^ Jan Bassett (1986) p. 267
  160. ^ “Cultureandrecreation.gov.au”. Cultureandrecreation.gov.au. Ngày 1 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  161. ^ D.M.Gibb (1982) p. 79
  162. ^ Cluff, Caleb (ngày 5 tháng 2 năm 2007). “Great Rural Speeches – Sir Henry Parkes. ngày 5 tháng 2 năm 2007. Rural Online. (Australian Broadcasting Corporation)”. Abc.net.au. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2012. 
  163. ^ Henry Parkes cited in D.M. Gibb (1982) pp. 32–33
  164. ^ a ă â Michael Meek; LBC Nutshell: The Australian Legal System; 3rd Edition; 1999.
  165. ^ a ă R. Norris. “ADBonline.anu.edu.au”. ADBonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  166. ^ Frank Crowley (1973) Modern Australia in Documents; 1901–1939. Volume 1. p. 1. Wren Publishing, Melbourne. ISBN 0-85885-032-X
  167. ^ Stuart MacIntyre (1986) p. 86.
  168. ^ Ross McMullin, The Light on the Hill: The Australian Labor Party 1891–1991
  169. ^ Senator George Brandis (ngày 26 tháng 10 năm 2009). “Theaustralian.com.au”. Theaustralian.com.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  170. ^ Aitkin, (1972); Graham, (1959)
  171. ^ Frank Crowley (1973) p. 13
  172. ^ Stuart MacIntyre (1986) The Oxford History of Australia, Volume 4 1901–1942 Oxford University Press, Melbourne. ISBN 0-19-554612-1
  173. ^ Bruce Smith (Free Trade Party) Parliamentary Debates cited in D.M. Gibb (1973) The Making of White Australia. p. 113. Victorian Historical Association. ISBN
  174. ^ Stuart MacIntyre (1986) The Oxford History of Australia, Vol. 4 1901–1942 p. 310. Oxford University Press, Melbourne. ISBN 0-19-554612-1
  175. ^ Rasmussen, Carolyn (2000). “Kisch, Egon Erwin (1885–1948)”. ADB.online.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  176. ^ Frank Crowley (1973) p. 22
  177. ^ Bill Gammage "The Crucible: The establishment of the Anzac tradition 1899–1918" in M. McKernan and M. Browne (eds.) (1988) Australia: Two centuries of War and Peace. p. 157 Australian War Memorial and Allen and Unwin Australia. ISBN 0-642-99502-8
  178. ^ Bill Gammage (1988) p. 157
  179. ^ Humphrey McQueen (1986) Social Sketches of Australia 1888–1975 p. 42. Penguin Books, Melbourne. ISBN 0-14-004435-3
  180. ^ Stuart Macintyre (1986) p. 198
  181. ^ Stuart Macintyre (1986) p. 199
  182. ^ “Papua New Guinea”. State.gov. Ngày 8 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  183. ^ a ă Frank Crowley (1973) p. 214
  184. ^ Australian War Memorial, First World War 1914–18
  185. ^ “Australian Bureau of Statistics”. Abs.gov.au. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010. 
  186. ^ Lloyd Robson (1980) Australia in the Nineteen Twenties. p. 6. Thomas Nelson Australia. ISBN 0-17-005902-2
  187. ^ “Gallipoli”. Truy cập 18 tháng 2 năm 2015. 
  188. ^ “AWM.gov.au”. AWM.gov.au. Ngày 31 tháng 10 năm 1917. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  189. ^ Bill Gammage (1974) The Broken Years. pp. 158–162 Penguin Australia ISBN 0-14-003383-1
  190. ^ Francis G. Clarke, The history of Australia (2002) p. 106
  191. ^ Liz Reed, Bigger Than Gallipoli: War, History and Memory in Australia (2004)
  192. ^ L. F. Fitzhardinge. “ADBonline.anu.edu.au”. ADBonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  193. ^ David Lowe, "Australia in the World", in Joan Beaumont (ed.), Australia's War, 1914–18, Allen & Unwin, 1995, p. 132
  194. ^ a ă Lowe, "Australia in the World", p. 129.
  195. ^ Saturday, ngày 22 tháng 8 năm 2009 Michael Duffy (ngày 22 tháng 8 năm 2009). “Primary Documents – Treaty of Versailles: Articles 1–30 and Annex”. First World War.com. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  196. ^ Jan Bassett (1986) p. 236
  197. ^ Murray, Robert. “ADBonline.anu.edu.au”. ADBonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  198. ^ “Britannica.com”. Britannica.com. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  199. ^ Rae Wear, "Countrymindedness Revisited," (Australian Political Science Association, 1990) online edition
  200. ^ Lloyd Robson (1980) p. 18
  201. ^ Lloyd Robson (1980) p. 45
  202. ^ Lloyd Robson (1980) p. 48
  203. ^ Also see for example – Eric Reade (1979) History and Heartburn; The Saga of Australian Film 1896–1978. Harper and Row, Sydney. ISBN 0-06-312033-X
  204. ^ The Argus, ngày 9 tháng 4 năm 1925, cited in Lloyd Robson (1980) p. 76
  205. ^ Stuart MacIntyre (1986) pp. 200–201
  206. ^ Josie Castle "The 1920s" in R. Willis, et al (eds.) (1982), p. 285
  207. ^ Josie Castle "The 1920s" in R. Willis, et al (eds.) (1982), p. 253
  208. ^ Stuart MacIntyre (1986) p. 204
  209. ^ Josie Castle "The 1920s" in R. Willis, et al (eds.) (1982), p. 273
  210. ^ Jan Bassett (1986) p. 213
  211. ^ Bucknall, Graeme. “ADBonline.anu.edu.au”. ADBonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  212. ^ Howard, Frederick. “ADBonline.anu.edu.au”. ADBonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  213. ^ Cited in Jan Bassett (1986) p. 271. It has also been argued that the signing of the Treaty of Versailles by Australia shows defacto recognition of sovereign nation status. See Sir Geoffrey Butler KBE, MA and Fellow, Librarian and Lecturer in International Law and Diplomacy of Corpus Christi College, Cambridge author of "A Handbook to the League of Nations.
  214. ^ Frank Crowley (1973) p. 417
  215. ^ L.F. Giblin (ngày 28 tháng 4 năm 1930). “Australia, 1930: An inaugural lecture”. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2008. 
  216. ^ Geoff Spenceley (1981) The Depression Decade. p. 14, Thomas Nelson, Australia. ISBN 0-17-006048-9
  217. ^ Geoff Spenceley (1981) pp. 15–17
  218. ^ Henry Pook (1993) Windows on our Past; Constructing Australian History. p. 195 Oxford University Press, Melbourne. ISBN 0-19-553544-8
  219. ^ Jan Bassett(1986) pp. 118–19
  220. ^ John Close "The Depression Decade" in R. Willis, et al (eds.) (1982), p. 318
  221. ^ Nairn, Bede. “ADBonline.anu.edu.au”. ADBonline.anu.edu.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  222. ^ See for example John Close "The Depression Decade" in R. Willis, et al (eds.) (1982), p. 318
  223. ^ Stuart MacIntyre (1986) p. 287
  224. ^ Anne Henderson; Joseph Lyons: The People's Prime Minister; NewSouth; 2011.
  225. ^ “Cultureandrecreation.gov.au”. Cultureandrecreation.gov.au. Ngày 7 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  226. ^ Museum Victoria. “Museumvictoria.com.au”. Museumvictoria.com.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  227. ^ Museum Victoria. “Museumvictoria.com.au”. Museumvictoria.com.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  228. ^ John Robertson (1984) Australia goes to War, 1939–1945. p. 12. Doubleday, Sydney. ISBN 0-86824-155-5
  229. ^ Department of Defence (Navy) (1976) An Outline of Australian Naval History. p. 33 Australian Government Publishing Service, Canberra. ISBN 0-642-02255-0
  230. ^ a ă “Primeministers.naa.gov.au”. Primeministers.naa.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  231. ^ Gavin Long (1952) To Benghazi. Australia in the War of 1939–1945. Vol. 1. Series One; Army. pp. 22–23. Australian War Memorial, Canberra.
  232. ^ John Robertson "The Distant War: Australia and Imperial defence 1919–1914." In M. McKernan and M. Browne (1988) p. 225
  233. ^ Frank Crowley (1973) Modern Australia in Documents 1939–1970. p. 1. Wren Publishing, Melbourne. ISBN 978-0-17-005300-6
  234. ^ John Robertson (1984) pp. 9–11
  235. ^ “Primeministers.naa.gov.au”. Primeministers.naa.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  236. ^ Cited in Frank Crowley (1973) Vol 2, p. 51
  237. ^ “Midget Submarines history at”. Home.st.net.au. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010. 
  238. ^ “Encyclopedia | Australian War Memorial”. Awm.gov.au. Ngày 23 tháng 10 năm 1942. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  239. ^ “Wartime Issue 23 – New Guinea Offensive | Australian War Memorial”. Awm.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  240. ^ The sinking of the Centaur | Australian War Memorial
  241. ^ Centaur (Hospital ship) | Australian War Memorial
  242. ^ “Stolen Years: Australian prisoners of war | Australian War Memorial”. Awm.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  243. ^ “Stolen Years: Australian prisoners of war | Australian War Memorial”. Awm.gov.au. Ngày 20 tháng 5 năm 1945. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  244. ^ Jan Bassett (1986) pp. 228–29. Also see Gavin Long (1963) The Final Campaigns, Australia in the War of 1939–1945, Series 1, Volume 7, pp. 622–37. Australian War Memorial, Canberra.
  245. ^ Bolton cited in John Close "Australians in Wartime" in Ray Willis et al (eds.) (1982) p. 209
  246. ^ John Robertson (1984) p. 198.
  247. ^ Gavin Long (1973) The Six Years War p. 474. Australian War Memorial, Canberra. ISBN 0-642-99375-0
  248. ^ John Close "Australians in Wartime" in Ray Willis et al (eds.) (1982) p. 211
  249. ^ Jan Bassett (1986) p. 18
  250. ^ “AWM.gov.au”. AWM.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  251. ^ See Menzies in Frank Crowley (1973) Modern Australia in Documents, 1939–1970. pp. 222–26. Wren Publishing, Melbourne. ISBN 978-0-17-005300-6
  252. ^ Jan Bassett (1986) pp. 75–76
  253. ^ Biography – Herbert Vere (Bert) Evatt – Australian Dictionary of Biography
  254. ^ Laing, Dave (ngày 20 tháng 9 năm 2003). “Slim Dusty”. The Guardian (London). 
  255. ^ " + updated + " (ngày 30 tháng 4 năm 2010). “ABC.net.au”. ABC.net.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  256. ^ House of Representatives Hansard, ngày 2 tháng 8 năm 1945, pp. 4911–15. Arthur Calwell – White Paper on Immigration. john.curtin.edu.au
  257. ^ Michal Dugan and Josef Swarc (1984) There Goes the Neighbourhood! Australia's Migrant Experience. p. 138 Macmillan, South Melbourne. ISBN 0-333-35712-4
  258. ^ cited in Michael Dugan and Josef Swarc (1984) p. 139
  259. ^ “The Snowy Mountains Scheme”. Cultureandrecreation.gov.au. Ngày 20 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  260. ^ Jan Bassett (1986) pp. 138–39
  261. ^ Something Rich and Strange: Sea Changes, Beaches and the Littoral in the... – Susan Hosking, Rick Hosking, Rebecca Pannell and Nena Bierbaum – Google Books
  262. ^ Nation and People: An Introduction to Australia in a Changing World – Brian Hodge, Allen Whitehurst – Google Books
  263. ^ Lynn Kerr and Ken Webb (1989) Australia and the World in the Twentieth Century. pp. 123–24 McGraw Hill Australia. ISBN 0-07-452615-4
  264. ^ Geoffrey Bolton (1990) The Oxford History of Australia, Volume 5, 1942–1988 p. 99 Oxford University Press, Melbourne. ISBN 0-19-554613-X
  265. ^ Geoffrey Bolton (1990) p. 92
  266. ^ Geoffrey Bolton (1990) p. 97
  267. ^ Geoffrey Bolton (1990) p. 122
  268. ^ Australian Television: the first 24 years. Melbourne: Nelsen/Cinema Papers. tr. 3. 1980 
  269. ^ Glen Barclay and Joseph Siracusa (1976) Australian American Relations Since 1945, pp. 35–49. Holt, Rinehart and Winston, Sydney. ISBN 0-03-900122-9
  270. ^ Glen Barclay and Joseph Siracusa (1976) p. 35
  271. ^ See Adrian Tame and F.P.J. Robotham (1982) Maralinga; British A-Bomb, Australian legacy, p. 179, Fontana Books, Melbourne, ISBN 0-00-636391-1
  272. ^ E.M. Andrews (1979) A History of Australian Foreign Policy, p. 144, Longman Cheshire, Melbourne. ISBN 0-582-68253-3
  273. ^ cited in Glen Barclay and Joseph Siracusa (1976) pp. 36–38
  274. ^ Glen Barclay and Joseph Siracusa (1976) p. 63
  275. ^ Also see Desmond Ball (1980) A suitable piece of real estate; American Installations in Australia. Hale and Iremonger. Sydney. ISBN 0-908094-47-7
  276. ^ Alan Renouf (1979) The Frightened Country. pp. 2–3.
  277. ^ See Gregory Clark (1967) In fear of China. Lansdowne Press.
  278. ^ See discussion on the role of ANZUS in Australia's commitment to the Vietnam War in Paul Ham (2007)Vietnam; The Australian War. pp. 86–87 Harper Collins Publishers, Sydney. ISBN 978-0-7322-8237-0
  279. ^ E.M. Andrews (1979) p. 160
  280. ^ Glen Barclay and Joseph Siracusa (1976) p. 74
  281. ^ See discussion in E.M. Andrews (1979) pp. 172–73
  282. ^ a ă â Ashley Elkins, Australian War Memorial: Overview of Australian military involvement in the Vietnam War, 1962–1975. AWM.gov.au
  283. ^ “Primeministers.naa.gov.au”. Primeministers.naa.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  284. ^ Geoffrey Bolton (1990) pp. 229–30
  285. ^ Richard White (1981) Inventing Australia; Images and Identity,1688–1980. p. 169 George Allen and Unwin, Sydney. ISBN 0-86861-035-6
  286. ^ Anne Pender (March 2005) The Australian Journal of Politics and History. The Mythical Australian: Barry Humphries, Gough Whitlam and new nationalism" findarticles.com
  287. ^ Richard White (1981) p. 170
  288. ^ Richard White (1981) pp. 170–71
  289. ^ “AEC.gov.au”. AEC.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  290. ^ Geoffrey Bolton (1990) p.190
  291. ^ Geoffrey Bolton (1990) pp. 190–94. The vote represented a record in terms of support for constitutional change.
  292. ^ Geoffrey Bolton (1990) pp. 190–94.
  293. ^ “The History of Apologies Down Under [Thinking Faith – the online journal of the British Jesuits]”. Thinkingfaith.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2009. 
  294. ^ “Peacock made 'bird of paradise' chief”. News.ninemsn.com.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  295. ^ “In office – Gough Whitlam – Australia's PMs – Australia's Prime Ministers”. Primeministers.naa.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  296. ^ “Nauru”. State.gov. Ngày 26 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  297. ^ Geoffrey Bolton (1990) p. 229
  298. ^ Geoffrey Bolton (1990) pp. 215–16.
  299. ^ Jan Bassett (1986) pp. 273–74
  300. ^ Gough Whitlam (1985) p. 315
  301. ^ “Primeministers.naa.gov.au”. Primeministers.naa.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  302. ^ There are numerous books on the Whitlam dismissal. For example, see Paul Kelly's November 1975: The Inside Story of Australia's Greatest Political Crisis. St Leonards, NSW: Allen & Unwin. ISBN 1-86373-987-4.
  303. ^ “Primeministers.naa.gov.au”. Primeministers.naa.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  304. ^ Tim Battin, "A Break from the Past: The Labor Party and the Political Economy of Keynesian Social Democracy," Australian Journal of Political Science, July 1993, Vol. 28 Issue 2, pp. 221–41
  305. ^ Paul Kelly, The end of certainty: The story of the 1980s (1992) p. 660
  306. ^ Carl Ungerer, "The 'Middle Power' Concept in Australian Foreign Policy," Australian Journal of Politics & History, December 2007, Vol. 53 Issue 4, pp. 538–551
  307. ^ a ă “Primeministers.naa.gov.au”. Primeministers.naa.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  308. ^ a ă “Primeministers.naa.gov.au”. Primeministers.naa.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  309. ^ George Megalogenis, The Longest Decade (2nd ed. 2008)
  310. ^ a ă “Primeministers.naa.gov.au”. Primeministers.naa.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  311. ^ “Official History of Peacekeeping, Humanitarian and Post–Cold War Operations | Australian War Memorial”. Awm.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  312. ^ “Primeministers.naa.gov.au”. Primeministers.naa.gov.au. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  313. ^ “Theodora.com”. Theodora.com. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  314. ^ "Voters leave Australia hanging" ABC News, ngày 21 tháng 8 năm 2010
  315. ^ “Stephen Smith resigns and Kevin Rudd has no change to election date yet – News.com.au”. 
  316. ^ About the Korea-Australia FTA; DFAT.
  317. ^ About the Japan-Australia Economic Partnership Agreement; DFAT

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Barker, Anthony. What Happened When: A Chronology of Australia from 1788. Allen & Unwin. 2000. online edition
  • Bambrick, Susan ed. The Cambridge Encyclopedia of Australia (1994)
  • Basset, Jan The Oxford Illustrated Dictionary of Australian History (1998)
  • Davison, Graeme, John Hirst, and Stuart Macintyre, eds. The Oxford Companion to Australian History (2001) online at many academic libraries; also excerpt and text search
  • Galligan, Brian, and Winsome Roberts, eds. Oxford Companion to Australian Politics (2007); online at many academic libraries
  • Lewis, Wendy, Simon Balderstone and John Bowan (2006). Events That Shaped Australia. New Holland. ISBN 978-1-74110-492-9. 
  • O'Shane, Pat et al Australia: The Complete Encyclopedia (2001)
  • Serle. Percival, ed. Dictionary of Australian Biography (1949)online edition
  • Shaw, John, ed. Collins Australian Encyclopedia (1984)
  • Taylor, Peter. The Atlas of Australian History (1991)

Nghiên cứu sử học[sửa | sửa mã nguồn]

  • Atkinson, Alan. The Europeans in Australia: A History. Volume 2: Democracy. (2005). 440 pp.
  • Bolton, Geoffrey. The Oxford History of Australia: Volume 5: 1942–1995. The Middle Way (2005)
  • Clarke, Frank G. The History of Australia (2002). online edition
  • Day, David. Claiming a Continent: A New History of Australia (2001);
  • Edwards, John. Curtin's Gift: Reinterpreting Australia's Greatest Prime Minister, (2005) online edition
  • Hughes, Robert. The Fatal Shore: The Epic of Australia's Founding (1988). excerpt and text search
  • Kelly, Paul. The End of Certainty: Power, Politics & Business in Australia (2008); originally published as The End of Certainty: The Story of the 1980s (1994)
  • Kingston, Beverley. The Oxford History of Australia: Volume 3: 1860–1900 Glad, Confident Morning (1993)
  • Kociumbas, Jan The Oxford History of Australia: Volume 2: 1770–1860 Possessions (1995)
  • Macintyre, Stuart. The Oxford History of Australia: Volume 4: 1901–42, the Succeeding Age (1993)
  • Macintyre, Stuart. A Concise History of Australia (2nd. ed. 2009) excerpt and text search ISBN 0-521-60101-0
  • Martin, A. W. Robert Menzies: A Life (2 vol 1993–99), online at ACLS e-books
  • Megalogenis, George. The Longest Decade (2nd ed. 2008), politics 1990–2008
  • Schreuder, Deryck, and Stuart Ward, eds. Australia's Empire (Oxford History of the British Empire Companion Series) (2008) excerpt and text search
  • Welsh, Frank. Australia: A New History of the Great Southern Land (2008)

Nguồn chủ yếu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kemp, Rod, and Marion Stanton, eds. Speaking for Australia: Parliamentary Speeches That Shaped Our Nation Allen & Unwin, 2004 phiên bản trực tuyến
  • Crowley, Frank, ed. Modern Australia in Documents, 1939–1970 (1973) Wren Publishing, Melbourne. ISBN 978-0-17-005300-6


Lịch sử các châu lục
Lịch sử châu Phi | Lịch sử châu Mỹ | Lịch sử châu Nam Cực | Lịch sử châu Á | Lịch sử châu Úc | Lịch sử châu Âu