Lớp tàu hộ tống Petya

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lớp tàu hộ tống Petya
Lớp tàu hộ tống Petya
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Lớp Petya (project 159)
Bên sử dụng: Hải quân Liên xô, Hải quân Ethiopia, Hải quân Ấn Độ, Hải quân Syria, Hải quân Việt Nam
Lớp trước: Lớp tàu hộ tống Riga
Lớp sau: Lớp tàu hộ tống Mirka
Hoàn tất: 54
Còn hoạt động: 8
Nghỉ hưu: 46
Đặc điểm khái quát
Kiểu: tàu hộ tống
Trọng tải choán nước: 950 tấn (tiêu chuẩn)
1,150 tấn (đầy tải)
Độ dài: 81.8 m
Sườn ngang: 9.2 m
Mớn nước: 2.9 m
Động cơ đẩy: 2 trục CODAG,
2 turbine khí - 30,000 hp
1 diesel - 6,000 hp
Tốc độ: 30 knots
Tầm xa: 4870 hải lý ở tốc độ 10 knots
450 hải lý ở tốc độ 30 knots
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
90
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
Radar Don-2, Slim Net, Hawk Screech, Sonar - Herkules lắp trên thân & sonar ngầm
Vũ trang: 4 súng 76mm (2x2)
4 bệ phóng rocket chống tàu ngầm RBU 6000 (2 trên một số tàu)
5 ống thuỷ lôi chống tàu ngầm 406mm (10 ống trên một số tàu), phiên bản xuất khẩu có 1x3 533mm ống thuỷ lôi

Lớp Petyatên hiệu của NATO cho một lớp tàu hộ tống hạng nhẹ được chế tạo cho Hải quân Liên xô trong thập niên 1960. Tên định danh Liên xô là Storozhevoi Korabl (tàu hộ tống) Project 159.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những chiếc tàu đầu tiên chạy bằng động cơ turbine khí của Hải quân Liên xô. Vai trò của những tàu này là chống tàu ngầm tại các vùng nước nông và chúng tương tự như các tàu thuộc Lớp tàu hộ tống Mirka. Chi tiết kỹ thuật (TTZ trong tiếng Nga) được công bố năm 1955 và thiết kế được thông qua năm 1956. Một kiểu bố trí ba trục được lựa chọn với chân vịt giữa dùng động cơ diesel để tăng tính kinh tế khi tuần tra thông thường và hai trục chân vịt bên sử dụng động cơ turbine khí để có tốc độ cao. Trang bị súng là hai tháp súng đôi 76mm ở vị trí A và Y, được điểu kiểm bởi một giám sát radar duy nhất. Vũ khí chống tàu ngầm gồm các bệ phóng rocket RBU-6000 chống tàu ngầm và một bệ phóng thủy lôi chống tàu ngầm 400 mm. Một số tàu được thiết kế cho xuất khẩu thay thế các ống phóng thuỷ lôi 400mm bằng ống phóng thuỷ lôi chống tàu 533mm. Một bộ thiết bị sonar đầy đủ gồm cả VDS cũng được trang bị.

Tàu[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng cộng 54 tàu đã được chế tạo tại hai xưởng đóng tàu: Xưởng đóng tàu Kaliningrad Yantar chế tạo 22 chiếc gồm cả những chiếc xuất khẩu và Xưởng đóng tàu Khabarovsk chế tạo 32 chiếc kể cả những chiếc xuất khẩu. Tất cả tàu của Liên xô đều được giải nhiệm trong năm 1989-1992 nhưng một số chiếc vẫn đang hoạt động tại các quốc gia khách hàng xuất khẩu.

Xuất khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:ColdwarSovietShips