Lớp tàu hộ vệ Gepard

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gepard 3.9.JPG
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Lớp Gepard (dự án 1166.1)
Bên sử dụng:  Nga
 Việt Nam
Lớp trước: Tàu chiến lớp Koni
Thời gian đóng: 1991-nay
Thời gian sử dụng: 2003-nay
Chế tạo: 5
Dự tính: 1
Hoàn tất: 3
Còn hoạt động: 3
Bỏ không: 1
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu chiến
Trọng tải choán nước: 1.500 tấn (tiêu chuẩn)
1.930 tấn (đầy tải)
Độ dài: 102,14 m (93,5 m mớn nước)
Sườn ngang: 13,09 m
Mớn nước: 3,8 m
Động cơ đẩy: 2 trục CODOG, hai turbine khí (29.300 shp mỗi chiếc), 1 Type 61D Diesel (8.000 bhp), các bộ máy phát điện diesel 3.600 kW
Tốc độ: 28 knot
Tầm xa: 5.000 nmi (9.000 km) ở tốc độ 10 knot
Tầm hoạt động: 15 ngày
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
103
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
  • Radar: radar hoa tiêu (không biết kiểu), radar Cross Dome tìm kiếm bề mặt và trên không, radar điều khiển bắn Pop Group SA-N-4, thiết bị chỉ thị mục tiêu tên lửa hành trình Bass Stand, kiểm soát bắn Bass Tilt AK-630
  • Sonar: sonar tần số trung lắp trong vỏ tàu, tần số trung kéo theo ở các độ sâu khác nhau
Thiết bị chiến đấu điện tử
và nghi trang:
Chiến tranh điện tử: 2 thiết bị chắn thụ động Bell Shroud, 2 máy làm nhiễu Bell Squat, 4 bệ phóng tên lửa phản công 16 ống Pk-16
Vũ trang:

Số dự án Nga:1166.1
Lớp tàu hộ vệ Gepard (tiếng Nga: Гепард) được thiết kế nhằm thay thế cho các tàu hộ tống nhỏ (corvette) lớp Koni, Grisha, và Parchim trước đây. Chiếc Yastreb (Hawk), chiếc đầu tiên trong lớp, được chế tạo tại xưởng đóng tàu Zelenodol'slk Zavod ở Tartarstan năm 1991. Nó được hạ thuỷ tháng 7 năm 1993, và sau đó bắt đầu được trang bị. Nó đã hầu như hoàn thành vào cuối năm 1995, khi việc trang bị phải ngừng lại vì thiếu vốn. Được đổi tên lại thành Tartarstan, cuối cùng chiếc tàu cũng được hoàn thành tháng 7 năm 2002, và hiện đang phục vụ như một kỳ hạm của Hạm đội Caspian. Hai chiếc tàu cùng lớp với nó, Albtross (được đổi tên lại thành Dagestan) và Burevestnik (Chim báo bão), vẫn đang được chế tạo. Hai tàu thuộc lớp 11661E mang số tàu 954 và 955 cũng đã hoàn thành và được giao cho Việt Nam.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Những chiếc tàu lớp 11661 này có lườn và cấu trúc thượng tầng chủ yếu được chế tạo từ thép, với một số hợp kim nhôm-magiê được dùng ở phần trên của cấu trúc thượng tầng. Kiểu kết cấu và lườn giúp chúng hạn chế được khả năng bị phát hiện bởi các radar phản xạ thông thường. Hệ thống khoang tàu với 10 khoang kín nước, bên ngoài được trang bị vây ổn định và các bánh lái kép giúp tàu có độ ổn định cao. Hệ thống truyền động theo cấu hình CODOG 2 trục được cung cấp lực đẩy sự kết hợp giữa 2 động cơ diesel loại 61D (công suất 8.000 mã lực) sử dụng đi đường trường và 2 động cơ turbine khí (29.300 JP) cung cấp tốc độ cao trong chiến đấu lên đến 28 hải lý/giờ. Hệ thống điện được cung cấp bởi 3 máy phát điện diesel công suất 600 kW/giờ.

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Khinh hạm lớp Gepard-Dagestan của Nga

Lớp tàu 11661 được cấu hình có khả năng sử dụng các vũ khí trong mức biển động lên tới cấp 5. Hệ thống vũ khí được thiết kế mở, cho phép cấu hình hệ thống vũ khí linh hoạt trong cả phòng không, chống ngầm và hỏa lực tấn công.

Hệ thống Radar bao gồm radar phát hiện mục tiêu trên không MR-352 "Poritiv" có tầm phát hiện lên đến 130 km, radar điều khiển cụm hỏa lực "Monolit", radar điều khiển tên lửa phòng không MPZ-301 "Baza", radar điều khiển pháo phòng không MR-123 Vympel.

Hệ thống tác chiến điện tử có thể được trang bị cho tàu gồm các thiến bị gây nhiễu chủ động và thụ động, cũng như 2 bệ phóng 8 ống tên lửa phản công PK-16.

Ngoài ra, tùy vào cấu hình mà tàu có thể được trang bị:

  • Hệ thống pháo-tên lửa phòng không hạm tàu tự động hoá phòng thủ tầm gần Palma-SU.
  • 8 hoặc 16 tên lửa chống tàu SS-N-25 Switchblade (2 hoặc 4 bệ phóng, mỗi bệ gồm 4 ống phóng)
  • 1 Hệ thống tên lửa đất đối không Osa-M (một bệ phóng kép, 20 tên lửa SA-N-4 Gecko)
  • 2 Igla-M
  • 1 súng tự động lưỡng dụng 76,2 mm/L 59 AK-176 (500 viên đạn)
  • 2 súng 6 nòng 30 mm AK-630 (2,000 viên đạn mỗi khẩu)
  • 4 ống phóng ngư lôi 533 mm (hai bệ phóng kép)
  • 1 bệ phóng tên lửa RBU-6000 12 ống chống tàu ngầm
  • 12 đến 20 ngư lôi
  • Hệ thống hangar và sàn đáp cho trực thăng Ka-28
  • Thiết bị định vị thủy âm ở độ sâu khác nhau VDS

Các model xuất khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Hai quốc gia sử dụng tàu hộ vệ Gepard là NgaViệt Nam

Lớp Gepard đã được thiết thiết kế như một loại tàu chiến trọng lượng nhẹ, giá thành không quá đắt cho xuất khẩu. Người Nga đã đề xuất 5 biến thể cho xuất khẩu.

  • Gepard 1: Có bãi đáp trực thăng nhưng không có chỗ chứa máy bay và thiết bị định vị thủy âm ở độ sâu khác nhau (Variable Depth Sonar - VDS).
  • Gepard 2: Có bãi đáp trực thăng và chỗ chứa máy bay, tuy nhiên không trang bị VDS và tên lửa phòng không SA-N-4.
  • Gepard 3: Tăng sườn ngang lên 13,8 m, lượng rẽ nước tăng lên 2.100 tấn khi đầy tải, một hệ thống phòng thủ tầm cực gần (Close-in weapon system - CIWS) Kortik đặt phía trước thay cho hệ thống CIWS AK-630, nhà chứa máy bay bên trên chỗ để VDS.
  • Gepard 4: Phiên bản không vũ trang cho tìm kiếm và cứu hộ, dù các điểm đặt vũ khí vẫn được chế tạo.
  • Gepard 5: Có bãi đáp trực thăng nhưng không nhà chứa máy bay, tầm hoạt động được tăng lên 6.000 nmi (11.000 km) ở tốc độ 10kn, tốc độ tối đa giảm còn 23kn, các turbine khí được thay thế bằng 2 động cơ diesel 8000 bhp.

Hải quân Nhân dân Việt Nam đã đặt hàng hai tàu chiến lớp Gepard 3.9 và chúng đã được bàn giao vào năm 2011. Việt Nam hiện đang xem xét việc mua thêm hai chiếc nữa với khả năng chúng sẽ được đóng ở Việt Nam theo giấy phép.[1]

Tàu[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia sử dụng Số hiệu tàu Tên Đề án Nơi chế tạo Hạ thủy Hoàn thành Biên chế Hạm đội Tình trạng
 Nga 951 Tatarstan (tên cũ Yastreb) 11661 Xưởng đóng tàu Zelenodolsk 01/07/1993 02/07/2001 31/08/2003 Hạm đội Biển Caspian Soái hạm
 Nga 952 Dagestan (tên cũ Albatros) 11661K Xưởng đóng tàu Zelenodolsk 01/04/1994 2012 Hạm đội Biển Caspian Đã hoàn thành
 Nga 953 Burevestnik 11661K Xưởng đóng tàu Zelenodolsk Đang đóng [2]
 Việt Nam 954 Đinh Tiên Hoàng (HQ-011) 11661E (Gepard 3.9) Xưởng đóng tàu Zelenodolsk 10/07/2007 12/12/2010 [3] 05/03/2011 Hải quân Nhân dân Việt Nam Đang hoạt động
 Việt Nam 955 Lý Thái Tổ (HQ-012)[4] 11661E (Gepard 3.9) Xưởng đóng tàu Zelenodolsk 27/11/2007 16/03/2011 [5] 22/08/2011 [6][7] Hải quân Nhân dân Việt Nam Đang hoạt động
 Việt Nam  ?  ? 11661E (Gepard 3.9) Xưởng đóng tàu Zelenodolsk 24/09/2013  ?  ?  ? Đang đóng
 Việt Nam  ?  ? 11661E (Gepard 3.9) Xưởng đóng tàu Zelenodolsk 24/09/2013  ?  ?  ? Đang đóng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Tàu chiến Liên xô thời Chiến tranh Lạnh