Lớp tàu tuần dương hạng nặng Kirov

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tàu Kirov đang di chuyển vào năm 1983.
Tàu Đô đốc Ushakov ở cảng Severomorsk năm 1992

Lớp tàu tuần dương hạng nặng Kirov gồm những tàu tuần dương hạng nặng, vũ trang mạnh, chạy bằng năng lượng nguyên tử của hải quân Liên Xô trước đây và hải quân Nga hiện nay. Lớp này gồm những tàu tuần dương lớn nhất thế giới còn đang hoạt động. Kirov là đặt theo tên chiếc đầu tiên và cũng là tên của Sergei Mironovich Kirov, nhà cách mạng cộng sản Liên Xô.

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Mục đích của quân đội Liên Xô trước đây khi phát triển lớp tàu Kirov là để đối phó với các tàu sân bay của Hoa Kỳ, vì thế vì kích thước chúng lớn hơn các tàu tuần dương khác, chỉ kém tàu sân bay, được vũ trang rất mạnh, đặc biệt là bằng các tên lửa chống hạm. Do kích thước lớn, có chiều dài 252 m, rộng 28,5 m, cao 9,1 m với lượng dãn nước 28.000 tấn lúc mang đầy đủ vũ khí[1], chúng thường được các phương tiện truyền thông phương Tây gọi là tuần dương thiết giáp, liên tưởng tới các thiết giáp hạm có kích thước lớn hồi nửa đầu thế kỷ 20.

Lớp tàu tuần dương Kirov được phát triển từ năm 1974. Năm 1980, chiếc thứ nhất được đưa vào hoạt động. Dự án phát triển lớp tàu tuần dương Kirov bị kết thúc vào năm 1998, chủ yếu do vấn đề ngân sách.

Các tàu thuộc lớp Kirov[sửa | sửa mã nguồn]

Tên ban đầu Tên hiện tại Đặt lườn Hạ thủy Đưa vào phục vụ Hiện trạng
Kirov Đô đốc Ushakov 26/3/1974 27/12/1977 30/12/1980 Có kế hoạch tái trang bị và đưa trở lại phục vụ vào năm 2020.[2]
Frunze Đô đốc Lazarev 26/7/1978 26/5/1981 31/10/1984 Có kế hoạch tái trang bị và đưa trở lại phục vụ vào năm 2020.[2]
Kalinin Đô đốc Nakhimov 21/7/1983 04/3/1986 30/12/1988 Đang đại tu[3][4] (Đại tu từ năm 1999, có kế hoạch đưa vào phục vụ trở lại từ năm 2012)
Yury Andropov Pyotr Velikiy 11/3/1986 29/4/1989 09/4/1998 Đang hoạt động[5]

Chiếc Pyotr Velikiy là kỳ hạm của hạm đội Phương Bắc, còn chiếc Đô đốc Nakhimov trong biên chế của hạm đội Thái Bình Dương.

Vũ trang[sửa | sửa mã nguồn]

  • 20 tên lửa chống hạm P-700 Granit tầm bắn 625 km
  • 12 S-300 phòng không tầm bắn 150 km, hoặc S-400 với 96 quả tên lửa tầm bắn 400 km
  • 192 tên lửa 9K311 Tor phòng không tầm bắn 12 km hoặc 2 tổ hợp tên lửa OSA-MA với 40 tên lửa tầm bắn 15 km
  • 6 hệ thống phòng thủ tầm ngắn đối không CADS-N-1 Kashtan
  • Hệ thống rocket chống ngầm Udav-1 trang bị 102 rocket tầm bắn 3 km
  • 2 ống phóng ngư lôi 533 mm có khả năng phóng tên lửa chống ngầm Vodopad-NK với tầm bắn tới 120 km.
  • 3 trực thăng săn ngầm Ka-27 PL
  • 1 pháo AK-130

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]