Lục quân Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Huy hiệu Lục quân Việt Nam Cộng hòa.png
Huy hiệu.
Hoạt động 1955–1975
Quốc gia  Việt Nam Cộng hòa
Phân loại Lực lượng vũ trang
Khẩu hiệu Quyết chiến - Quyết thắng
Colours Vàng, đỏ
Tham chiến Trận Mậu Thân
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Lê Văn Tỵ

Nguyễn Văn Thiệu
Nguyễn Hữu Có
Linh Quang Viên
Lâm Ngươn Tánh
Trần Thiện Khiêm
Đỗ Cao Trí
Ngô Quang Trưởng
Dương Văn Minh
Đỗ Mậu
Lê Minh Đảo
Lê Văn Hưng
Phạm Văn Phú
Lê Nguyên Vỹ
Trần Văn Hai

Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa, hay Lục quân Việt Nam Cộng hòa (tiếng Anh: Army of the Republic of Vietnam, ARVN) là lực lượng bộ binh chính quy của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tồn tại từ 1955 đến 1975.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Đệ nhị Thế chiến chấm dứt, quân đội viễn chinh Pháp trở sang Đông Dương đem theo một lực lượng hùng hậu chiếm đóng ba xứ Việt, Miên, Lào, nhằm đặt lại nền đô hộ trên các thuộc địa cũ theo chánh sách thực dân của Pháp. Tướng Charles de Gaulle bổ nhiệm đô đốc Thierry d'Argenlieu làm Cao ủy Đông Dương và tướng Philippe Leclerc de Hauteclocque làm tư lệnh quân đội viễn chinh. Vào cuối tháng 9 năm 1945, quân đội Pháp đã núp bóng quân đội Anh do tướng Douglas Gracey chỉ huy để giải giới quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở xuống.

Cuộc xâm lăng mới của Pháp này đã gặp sức kháng cự mạnh mẽ của Việt Nam, nhất là các đoàn thể võ trang như Việt Minh, Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên trong miền Nam.

Mặc dù tinh thần kháng chiến chống thực dân của người Việt rất cao, nhưng vì vũ khí thô sơ và tổ chức còn rời rạc, nên các lực lượng võ trang này bị quân Pháp đánh bật khỏi các đô thị ven biển và đồng bằng. Đa số phải rút về thôn quê hay vào bưng biền để tổ chức trường kỳ kháng chiến. Pháp nhanh chóng tổ chức các lực lượng bản xứ để trợ giúp cho việc chiếm đóng và bình định lãnh thổ.

Trong số những người phải ra cộng tác với Pháp, một số đã gia nhập quân đội viễn chinh và được gọi là Thân Binh Đông Dương (Partisans Indochinois). Về sau, vì nhu cầu chiến tranh bành trướng mau lẹ, người Pháp đã tuyển mộ lính địa phương tại chỗ và lập thành các lực lượng phụ thuộc (forces suppletives) do sĩ quan Pháp chỉ huy. Nhiều người hợp tác với Pháp là phần tử Quốc gia muốn nhờ cậy vào thế lực của Pháp để chống lại Việt Minh, phong trào mà họ cho là có xu hướng thân cộng sản.

Sang năm 1948, giải pháp Bảo Đại ra đời với chủ trương đoàn kết các lực lượng quốc gia để chống Việt Minh. Theo Hiệp ước Élysée ký ngày 8 tháng 3 năm 1949 giữa Quốc trưởng Việt Nam Bảo Đại và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol, Quốc gia Việt Nam được thành lập, có quân độichính sách ngoại giao riêng. Do đó, quân đội được chính thức thành lập và lấy tên là Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Do nghị định quốc phòng ngày 13 tháng 4 năm 1949, quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập, lúc đầu lấy tên là Vệ binh Quốc gia (Garde Nationale). Quân đội Quốc gia Việt Nam lúc này có qui chế riêng và lương bổng được hưởng tương đối cao hơn phụ lực quân lúc trước. Ba đơn vị chiến đấu đầu tiên được thành lập ngày 1 tháng 10 năm 1949 là các tiểu đoàn Bộ binh số 18, 2 và 3, gọi tắt là BVN (batallion Vietnamien).

Lần lượt, các lực lượng quân sự phụ thuộc khác như Cộng hòa Vệ binh trong Nam, Bảo vệ Quânmiền Trung (sau đổi tên là Việt Binh Đoàn) và Bảo Chính Đoàn ở Bắc, v.v. được thuyên chuyển qua hoặc sát nhập vào quân đội quốc gia. Còn các lực lượng võ trang của các giáo phái như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên tại miền Nam Việt Nam hoặc trở về hợp tác với chánh phủ quốc gia, hoặc rút vào bưng, nhưng sau đó cũng bị tiêu diệt lần hồi.

Quân số Quân đội Quốc gia Việt Nam vào cuối năm 1949 là 45.000 người, không kể các lực lượng còn trong hệ thống quân đội Pháp.

Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố thành lập Quân đội Quốc gia với lập trường chống Cộng, gia tăng quân số lên 60.000 người, do ngân sách quốc gia đài thọ 40%, phần còn lại do Pháp gánh chịu. Viện trợ Mỹ cũng bắt đầu giao thẳng cho các đơn vị Việt Nam, chứ không qua trung gian quân đội Pháp theo Chương trình Viện trợ Hỗ tương Quốc phòng (Mutual Defense Assistance Program - MDAP).

Ngày 5 tháng 5 năm 1951, Bộ Quốc phòng Việt Nam mới thật sự thành hình, với những cơ cấu tổ chức đầu não như Bộ Tổng tham mưu, Nha Quân pháp, Nha Thanh tra, Tổng nha Hành chánh và Quân lương, Nha Quân cụ, Nha Quân y, v.v.

Cuối năm 1951, quân số lên tới 110.000 người. Các đơn vị nòng cốt được thành lập trong thời kỳ này là:

  • Tiểu đoàn Nhảy dù
  • Đại đội 1 và 3 Truyền tin
  • Đệ nhất Chi đoàn Thám thính xa
  • Tiểu đoàn Pháo binh
  • Đại đội 2 và 3 Công binh

Cuối năm 1952, Quân đội Quốc gia có 148.000 người, gồm 95.000 quân chính qui và 53.000 Bảo an Địa phương. Các đơn vị gồm có:

  • 59 tiểu đoàn Bộ binh
  • 2 tiểu đoàn Nhảy dù
  • 2 tiểu đoàn Ngự lâm quân
  • 8 tiểu đoàn Sơn cước

Về cơ giới có:

  • 6 chi đoàn thám thính xa
  • 1 tiểu đoàn pháo binh và 8 pháo đội biệt lập
  • 6 đại đội vận tải
  • 6 đại đội truyền tin
  • 2 liên đoàn tuần giang

Thời kỳ sau 1954[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cuộc ngưng bắn do Hiệp định Genève ấn định, các đơn vị của Quân đội Quốc gia Việt Nam đồn trú tại phía bắc vĩ tuyến 17 được lần lượt di chuyển vào Nam kể từ tháng 8 năm 1954. Phần lớn các đơn vị đóng chung quanh Hà NộiHải Phòng được đưa vào vùng Đà Nẵng, Nha Trang và các tỉnh miền Trung. Các tiểu đoàn Nùng (sơn cước) được đưa vào Cam Ranh để sau này thành lập sư đoàn Nùng tại sông Mao do Đại tá Wòng A Sáng chỉ huy. Bộ Tư lệnh Đệ tam Quân khu dời vào Nha Trang. Riêng các trung tâm huấn luyện Hà Nội và Quảng Yên được sáp nhập vào Trung tâm Quán Tre thuộc tỉnh Gia Định.

Cũng trong thời gian này, các lực lượng võ trang giáo phái như Cao Đài, Hòa Hảo được sát nhập vào Quân đội Quốc gia để thành lập một quân lực có sự chỉ huy thống nhất trên toàn quốc. Riêng có một nhóm Hòa Hảo ly khai chừng vài ngàn người, dưới quyền chỉ huy của trung tướng Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt, rút vào Cao Miên để chống lại chính phủ.

Ngày 26 tháng 10 năm 1955, khi cử hành lễ đăng quan của tổng thống Ngô Đình Diệm và cũng là ngày khai sinh nền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam. Quân đội Quốc gia được đổi tên là Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Lúc đó, quân số hiện diện dưới cờ là 167.000 người.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa là lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh và bình định lãnh thổ miền Nam từ vĩ tuyến 17 cho đến mũi Cà Mau. Về bộ binh, bảng cấp số được tăng lên đến 11 sư đoàn, một lực lượng tổng trừ bị gồm Sư đoàn Nhảy dù và Sư đoàn Thủy quân lục chiến. Ngoài ra, còn có nhiều Liên đoàn Biệt động quân được đặt dưới quyền sử dụng của các quân khu. Riêng các quân chủng Không quânHải quân cũng được bành trướng tối đa trong thời kỳ này. Đây là giai đoạn chuyển mình của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, biến đổi từ một lực lượng phụ thuộc vào lực lượng viễn chinh Pháp để trở thành một quân đội hiện đại và được trang bị tối tân nhất vùng Đông Nam Á.

Chương trình "Việt Nam hóa", hay hiện đại hóa, Quân lực Việt Nam Cộng hòa được chia ra làm 3 giai đoạn chính:

  • Giai đoạn 1: Huấn luyện và trang bị Quân lực Việt Nam Cộng hòa để chuyển giao dần trách nhiệm bộ chiến
  • Giai đoạn 2: Phát triển khả năng yểm trợ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa
  • Giai đoạn 3: Các quân nhân Hoa Kỳ, nếu còn lại ở Việt Nam, sẽ chỉ giữ vai trò cố vấn

Tính đến năm 1972, Hoa Kỳ đã chuyển giao cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa trên 800.000 vũ khí, khoảng 2.000 chiến xa và đại bác, khoảng 44.000 máy truyền tin.

So với năm 1968, Quân lực Việt Nam Cộng hòa có khoảng 700.000. Vào cuối năm 1971 tăng lên trên 1 triệu người.

Lục quân được gia tăng lên đến 450.000 người, chia ra 13 sư đoàn, gồm 171 tiểu đoàn lưu động[cần dẫn nguồn] được phối trí như sau:

  • Sư đoàn 1, 2 và 3 trấn đóng tại Vùng 1 Chiến thuật
  • Sư đoàn 22 và 23 trấn đóng tại Vùng 2 Chiến thuật
  • Sư đoàn 5, 18 và 25 trấn đóng tại Vùng 3 Chiến thuật
  • Sư đoàn 7, 9 và 21 trấn đóng tại Vùng 4 Chiến thuật

Hai sư đoàn tổng trừ bị là Sư đoàn Nhảy dùSư đoàn Thủy quân lục chiến; 17 liên đoàn Biệt động quân, gồm 12 liên đoàn đặt trực thuộc các vùng chiến thuật và 5 liên đoàn tổng trừ bị. 44 tiểu đoàn pháo binh 105, 15 tiểu đoàn 155, và 5 tiểu đoàn 175 ly (có tầm bắc xa tương đương với đại bác 130 ly của đối phương) [1]. Các đại bác loại 105 ly có tầm bắn 11.000 - 11.500 m, loại 155 ly có tầm bắn 14.600 m ngắn hơn nhiều so với đại pháo của địch. Thiết giáp gồm 18 thiết đoàn kỵ binh và 3 thiết đoàn chiến xa.

Lực lượng Địa phương quânNghĩa quân tại các tiểu khu và chi khu cũng gia tăng đáng kể, lên đến 550.000 người vào năm 1972. Quan trọng hơn nữa, lực lượng này được trang bị vũ khí tối tân M-16 và M-60 để thay thế các vũ khí lỗi thời như M-1 và trung liên BAR.

Lục quân có Lục quân Công xưởng tại Gò Vấp để sửa chữa và bảo trì những chiến cụ nặng như chiến xa và đại bác, v.v.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]