L'Arc-en-Ciel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
L'Arc-en-Ciel
L'arc En Ciel @ MSG - 3-25-12 - 040.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Osaka, Nhật Bản
Thể loại Rock, Pop rock, Heavy Metal
Năm 1991–present
Hãng đĩa Danger Crue, Ki/oon/SMEJ, Tofu, Gan-Shin
Website www.larc-en-ciel.com
Thành viên hiện tại
Hyde
Tetsuya
Ken
Yukihiro
Thành viên cũ
Yasunori Sakurazawa
Hiro
Pero

L'Arc-en-Ciel (ラルク アン シエル Raruku an Shieru?, có nghĩa "Cầu vồng" trong tiếng Pháp) là một trong những ban nhạc rock nổi tiếng nhất ở Nhật, được thành lập vào năm 1991 bởi nhóm trưởng Tetsu. Theo số liệu của Music Station, L'Arc-en-Ciel là ban nhạc đứng thứ 14 ở Nhật Bản về số lượng tiêu thụ với hơn 13 triệu album và 16 triệu đĩa đơn chưa bao gồm các sản phẩm DVD khác. Năm 2003 L'Arc-en-Ciel được HMV xếp thứ 58 trong số 100 nghệ sĩ Nhật có ảnh hưởng nhất.[1]

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

  Vị trí
Hyde Hát chính
Ken Ghita
Tetsuya Bass
Yukihiro Trống

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

1991–1996: Những năm đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1991, bassist Tetsuya Ogawa tuyển mộ Hyde vào nhóm làm hát chính cùng với tay ghita Hiro và tay trống Pero. Cái tên L'Arc-en_Ciel được ra đời ngẫu nhiên dựa theo tên một bộ phim của Pháp mà Tetsu thích.

Ngày 12 tháng 7 năm 1992, khi Hiro rời ban, Tetsu đã thuyết phục được một người bạn của mình là Ken Kitamura rời đại học để trở thành tay ghita của ban. Lúc đó Ken đang là sinh viên của một trường đại học kiến trúc. Tiếp theo là Pero cũng rời khỏi vào ngày 30 tháng 12 cùng năm. Tới năm 1993 tay trống mới là Sakura đã gia nhập nhóm.[1]

Ngày 1 tháng 4 năm 1993, album đầu tiên của nhóm mang tên Dune được phát hành bởi một hãng thu âm nhỏ và thành công khi đứng đầu bảng xếp hạng Oricon indies charts. Thu hút được sự chú ý của những hãng thu âm lớn hơn, năm 1994, L'Arc-en-Ciel ký được hợp đồng với hãng thu âm Ki/oon thuộc Sony Music ở Nhật Bản đồng thời phát hành album thứ 2 mang tên Tierra trong năm. Album tiếp theo của nhóm là Heavenly được phát hành vào 1995. Năm tiếp theo album True trở thành album đầu tiên của nhóm có số lượng tiêu thụ trên 1 triệu bản[2]

1997: Sakura bị bắt[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1997, tay trống này bị cảnh sát bắt giữ do tàng trữ ma túy (heroin).[3] và chính thức rời ban vào ngày 4 tháng 10 năm đó. Khi thông tin về việc tay trống của ban được chính thức xác nhận, các đĩa nhạc của L'Arc-en-Ciel lập tức bị thu hồi bởi nhà sản xuất và không còn xuất hiện ở Nhật.[4] Ca khúc "The Fourth Avenue Cafe" của đang làm nhạc nền cho bộ phim hoạt hình anime Rurouni Kenshin (một trong những anime nổi tiếng nhất) cũng được thay thế bởi ca khúc "Heart of the Sword" của TM Revolutions - ca sĩ hát nhạc anime hàng đầu của Nhật.[5]. Đĩa đơn này đã được phát hành lại vào năm 2006.

Sau những tháng hoạt động nghèo nàn chỉ gồm 3 thành viên dưới tên "The Zombies", nhóm đã đánh dấu sự trở lại của mình cùng với tay trống mới Yukihiro Awaji bằng buổi biểu diễn đầu tiên tại Tokyo Dome (sân vận động có sức chứa lớn nhất tại Nhật với hơn 50 nghìn chỗ) mang tên Reincarnation. Khoảng 56 nghìn vé bán ra chỉ trong 4 phút, một kỷ lục lúc bấy giờ[6]

Cùng năm, đĩa đơn mang tên "Niji" - cầu vồng, tiếng Nhật của "L'Arc-en-Ciel" đã phát hành với Yukihiro làm thành viên hỗ trợ. Không lâu sau đó Yuki trở thành tay trống chính thức của ban.

1998–2000: Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn "Winter Fall" của nhóm trở thành sản phẩm lần đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng trên Oricon[7][8] Album Heart sau đó được phát hành vào tháng 2 năm 1998. Tiếp theo là 2 album ArkRay được phát hành cùng lúc vào ngày 1 tháng 7 năm 1999, phát hành đồng thời trên nhiều quốc gia Châu Á. Cả 2 album đứng đầu bảng xếp hạng Oricon với Ark ở vị trí thứ nhất. Mỗi album được tiêu thụ trên 2 triệu bản.[9]

Năm 2000 album Real được phát hành bao gồm track "Stay Away" được giới thiệu trong Drummania 4th Mix.

2001–2003: Sự nghiệp solo[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cuộc bình chọn qua mạng của cộng đồng fan ở Châu Á, album Clicked Singles Best 13 được phát hành năm 2001 với 12 bài[10] và một sáng tác thêm của Hyde là "Anemone"[11]

Ngày 5 tháng 10 năm 2001, đĩa đơn cuối của nhóm trước khi gián đoạn là "Spirit Dreams Inside -Another Dream-" được phát hành, bài hát trở thành nhạc cho bộ phim điện ảnh 3D Final Fantasy: The Spirits Within

Sau đĩa đơn này, các thành viên của nhóm bắt đầu kế họach solo của riêng mình. Hyde bắt đầu với 2 album solo là Roentgen666 đồng thời làm diễn viên chính cho bộ phim Moon Child cùng với Gackt (diễn viên, người mẫu kiêm ca sĩ nổi tiếng). Hyde cũng tham gia một phần vào vai diễn Adamtrong bộ phim điện ảnh Kagen no Tsuki (Last Quarter).

Trong khi đó Ken thành lập ban nhạc Sons of All Pussys cùng tay trống trước đây Sakura. Tetsu bắt đầu sự nghiệp solo với nghệ danh Tetsu69 còn Yukihiro vào ban nhạc Acid Android và trở thánh giọng hát chính.

2004: Sự trở lại và xuất hiện tại New York[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2003, L'Arc-en-Ciel có buổi lưu diễn 7 ngày tại Tokyo với tên gọi Shibuya Seven Days, kết hợp cùng với việc quảng bá cho các sản phẩm năm sau.

Tháng 2 năm 2004, đĩa đơn "Ready Steady Go" của nhóm được phát hành sau ba năm ngưng hoạt động. Ca khúc trở thành nhạc nền cho bộ anime Fullmetal Alchemist (một trong những anime nổi tiếng nhất của Nhật)[12] đồng thời đứng đầu bảng xếp hạng Oricon trong tuần.[13].

Đĩa đơn tiếp theo "Hitomi no Juunin" được phát hành vào đầu tháng 3. Album Smile cũng được ra mắt vào ngày 31 cùng tháng.

Ngày 2 tháng 6, đĩa đơn Jiyuu e no Shoutai giới thiệu sự xuất hiện của P'unk-en-Ciel - cách gọi của ban khi thay đổi vị trí của các thành viên với Tetsu làm hát chính, Yukihiro làm bassist, Hyde chơi ghita còn Ken chơi trống. P'unk-en-Ciel đã biểu diễn ca khúc "Milky Way" trong đĩa đơn này.

Ngày 31 tháng 7 năm 2004, ban nhạc lần đầu có buổi diễn tại Mỹ trong dịp sự kiện văn hóa anime Otakon được tổ chức hàng năm ở Maryland với sự tham dự của 12 nghìn khán giả.[14] Ngày 31 tháng 5 năm 2005 ban nhạc ký hợp đồng với hãng thu âm Tofu Records, một đại diện của Sony Music Japan tại Mỹ để phát hành DVD buổi biểu diễn tại Otakon.

Ngày 25 tháng 6 năm 2007, L'Arc-en-Ciel ký hợp đồng với nhà sản xuất mới là HMV Mỹ

2005–2006: Châu Á và sự nghiệp solo[sửa | sửa mã nguồn]

3 single của ban được phát hành trong năm 2005 bao gồm "Killing Me", "New World", và "Jojoushi". Các ca khúc này tiếp tục xuất hiện trong album tiếp theo mang tên Awake ra mắt vào 22 tháng 6 bao gồm track "Lost Heaven" vốn là nhạc nền của anime điện ảnh Fullmetal Alchemist movie. Single tiếp theo mang tên "Link" phát hành ngày 20 tháng 7 cũng được dùng làm nhạc nền cho bộ phim này và xuất hiện trong album tiếp theo Kiss.

Tháng 8 năm 2005, ban thực hiện live tour trong nước mang tên "Awake" với biểu hiện chống chiến tranh tương tự như nội dung các bài hát trong album cùng tên, Sau đó là chuyến lưu diễn Châu Á qua SeoulThượng Hải, kết thúc bằng 2 buổi diễn tại Tokyo Dome ở Nhật.

Sau khi hoàn tất chuyến lưu diễn, các thành viên trở lại với sự nghiệp solo.

2006–2008: Kỷ niệm 15 năm và live show tại Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

2 buổi diễn tại Tokyo Dome vào ngày 25 và 26 tháng 6 năm 2006 mang tên L'Anniversary nhằm kỷ niệm 15 năm sự nghiệp đã bán hết vé chỉ trong 2 phút.[15] Đồng thời khán giả được bình chọn các ca khúc yêu thích để được biểu diễn.[16]

Sau đó, ca khúc "Shine" của ban được sử dụng cho một bộ phim hoạt hình của NHK mang tên Guardian of the Spirit. Đĩa đơn tiếp theo của ban mang tên Seventh Heaven phát hành vào ngày 30 tháng 5 năm 2007 đã đứng nhất bảng xếp hãng Oricon.[17] cũng như đĩa đơn tiếp theo My Heart Draws a Dream ra mắt ngày 29 tháng 8 cùng năm.[18]

Đĩa đơn tiếp theo Daybreak's Bell trở thành ca khúc chính cho anime Mobile Suit Gundam 00.[19] sau khi phát hành vào ngày 10 tháng 10 năm 2007 cũng đứng đầu bảng xếp hạng Oricon[20]

Từ ngày 14 tháng 11 tới 25 tháng 12 năm 2007, single phiên bản giới hạn về số lượng được phát hành mang tên Hurry Xmas cùng 2 DVDs phát hành vào tháng 9 và tháng 12 là 15th L'Anniversary LiveChronicle 3

Album tiếp theo Kiss phát hành vào ngày 21 tháng 12 cùng năm và đứng đầu bảng xếp hạng Oricon.[21]

Live tour tiếp theo của L'Arc-en-Ciel mang tên "Theater of Kiss tour" bắt đầu từ ngày 22 tháng 12 và kết thức vào ngày 17 tháng 2 năm 2008.

Ngày 2 tháng 4 năm 2008 single Drink It Down phát hành và trở thành bài hát trong video game khá nỏi tiếng Devil May Cry 4, đứng đầu bảng xếp hạng Oricon trong tuần.[22] Live tour 2008 L'7 ~Trans Asia via Paris~ được thực hiện tại một số nước Châu Á và một thành phố Châu Âu là Paris, Pháp.[23]

Đĩa đơn double A-side (2 ca khúc chính) mang tên "Nexus 4/ Shine" và DVD Tour 2007-2008 Theater of Kiss được phát hành vào ngày 27 tháng 8 năm 2008.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Các giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 24/12/1997 -
    • SPACE SHOWER Music Video Awards'97 "BEST GROUP CLIP" - PV Niji
  • 21/11/1998 -
    • 31st all the Japanese wire broadcast grand prix "gold request prizes"
    • 31st all the Japanese wire broadcast "grand prix"
  • 4/12/1998 -
    • 40th Japanese record grand prix "excellent work prize" - single Honey
  • 1/3/1999 -
    • 36th golden arrow prize "music prize"
    • 36th golden arrow prize "grand prix"
  • 3/3/1999 -
    • 13th Japanese gold disk grand prix "SONG OF THE YEAR" - singles: flower, HONEY, snow drop
    • 13th Japanese gold disk grand prix "ALBUM OF THE YEAR" - album: HEART
  • 7/12/1999 -
    • 1999 best dresser prize
  • 24/12/1999 -
    • SPACE SHOWER Music Video Awards '99 "BEST VIDEO OF THE YEAR" - PV pieces
  • 15/3/2000 -
    • 14th Japanese gold disk grand prix "SONG OF THE YEAR" - single HEAVEN'S DRIVE
    • 14th Japanese gold disk grand prix "ROCK ALBUM OF THE YEAR" - single NEO UNIVERSE, albums ark & ray
  • 23/12/2000 -
    • SPACE SHOWER Music Video Awards '00 "BEST GROUP VIDEO" - PV『STAY AWAY』
    • SPACE SHOWER Music Video Awards '00 "BEST VIDEO OF THE YEAR" - PV『STAY AWAY』
  • 13/3/2001 -
    • 14th Japanese gold disk grand prix "SONG OF THE YEAR" - single HEAVEN'S DRIVE
    • 14th Japanese gold disk grand prix "ROCK ALBUM OF THE YEAR" - single NEO UNIVERSE, albums ark & ray
  • 17/3/2006 -
    • SPACE SHOWER Music Video Awards '06 "ART DIRECTION VIDEO WINNERS" - PV Jojoushi

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă (tiếng Nhật) “Top 100 Japanese pops Artists - No.58”. HMV Japan. 4 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  2. ^ (tiếng Nhật) “L’Arc~en~Cielのプロフ”. oricon. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  3. ^ (tiếng Nhật) “アーティストプロフィール L'Arc~en~Ciel”. uta-net. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  4. ^ “Big in Japan / page 2”. Phoenix New Times. 16 tháng 12 năm 1999. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2008. 
  5. ^ (tiếng Nhật) “【カオス通信】「アニソンとJ-POPの微妙な関係」”. livedoor. 28 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  6. ^ (tiếng Nhật) “L'Arc~en~Ciel: バイオグラフィー”. BARKS. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2008. 
  7. ^ (tiếng Nhật) “Winter song special '07”. Biglobe music. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2008. 
  8. ^ (tiếng Nhật) “winter fall”. Oricon. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2008. 
  9. ^ (tiếng Nhật) “Ark”. HMV Japan. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  10. ^ (tiếng Nhật) “なかなかの威力発揮するJ-POP 若手アーティストが善戦”. The Chosun Ilbo. 19 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2008. 
  11. ^ (tiếng Nhật) “ラルクのシングルコレクション盤収録曲発表!!”. Famitsu. 14 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2008. 
  12. ^ “Fullmetal Alchemist OP by L'Arc-en-Ciel”. Anime News Network. 13 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  13. ^ (tiếng Nhật) “READY STEADY GO”. oricon. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  14. ^ “L'Arc~en~Ciel Concert”. Anime News Network. 12 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  15. ^ (tiếng Nhật) “L'Arc-en-Ciel profile”. Yahoo! Japan. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2008. 
  16. ^ (tiếng Nhật) “L'Arc~en~Ciel 15th L'Anniversary Live”. WOWOW. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2008. 
  17. ^ (tiếng Nhật) “L'Arc~en~Ciel、怒涛の5ヶ月連続リリース決定!”. oricon. 12 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  18. ^ (tiếng Nhật) “MY HEART DRAWS A DREAM”. oricon. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  19. ^ “Gundam 00 Opening Theme Tops Japanese Singles Chart”. Anime News Network. 18 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  20. ^ (tiếng Nhật) “DAYBREAK’S BELL”. oricon. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  21. ^ (tiếng Nhật) “ラルク、ニューアルバムで1位。通算7作目”. Oricon. 27 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2008. 
  22. ^ (tiếng Nhật) “DRINK IT DOWN”. oricon. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008. 
  23. ^ (tiếng Trung) “LArc~en~Ciel虹环魅力长存”. Ta Kung Pao. 11 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2008. 

Các liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]