Led Zeppelin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Led Zeppelin
Led Zeppelin 2007.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Flag of the United Kingdom.svg London, Anh
Thể loại Hard rock, heavy metal, blues-rock, folk rock
Năm 1968–1980
(tái hợp: 1985, 1988, 1995, 2007)
Hãng đĩa Atlantic, Swan Song
Hợp tác The New Yardbirds
The Firm
Band of Joy
Coverdale-Page
Page and Plant
The Honeydrippers
Website www.ledzeppelin.com
Thành viên cũ
Jimmy Page
John Paul Jones
Robert Plant
John Bonham

Led Zeppelin là một ban nhạc Anh được thành lập vào tháng 9 năm 1968, bao gồm Jimmy Page (ghita), Robert Plant (hát chính, harmonica), John Paul Jones (bass, keyboard) và John Bonham (trống, bộ gõ). Cho đến lúc này đã Led Zeppelin đã bán được hơn 300 triệu album trên toàn thế giới riêng tại Mĩ là hơn 111,5 triệu bản. Led Zeppelin nổi lên là 1 trong những ban nhạc Rock đình đám làm mưa làm gió suốt những năm 70 của thế kỉ XX. Họ cũng là 1 trong các Ban nhạc Rock có ảnh hưởng nhất mọi thời đại. Led Zeppelin cùng với 2 ban khác là Black SabbathDeep Purple được coi là những người đặt nền móng đầu tiên cho hard rockheavy metal.

Chính vì những thành công to lớn đó mà tạp chí Rolling Stone đã xếp Led Zeppelin ở vị trí số 1 trong VH1's 100 Greatest Artists of Hard Rock. Đồng thời họ cũng xếp ở vị trí số 8 trong số 100 nghệ sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại. Ca khúc nổi tiếng nhất của nhóm "Stairway to Heaven" luôn là 1 trong số những ca khúc được mến mộ nhất. Nó cũng xếp số 1 trong 100 greatest rock guitar solo, xếp hạng 31 trong danh sách 500 bài hát vĩ đại nhất do Rolling Stone bình chọn

Sự Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Mọi chuyện bắt đầu từ cuối năm 1968 khi ca sĩ Keith Relf và tay trống Jim McCarthy của nhóm blues nổi tiếng nhất Anh Quốc lúc bấy giờ là The Yardbirds tuyên bố rời nhóm để theo đuổi sự nghiệp solo. Hai thành viên còn lại của Yardbirds là tay guitar Jimmy Page và tay bass mới được tuyển vào John Paul Jones quyết định tuyển quân để thành lập một nhóm mới thay vì bỏ cuộc. Mặc dù còn đều còn rất trẻ vào lúc đó nhưng cả hai đều là những nhạc công sừng sỏ ở Anh. Jimmy Page từng đánh thuê cho The Who, The Kinks trước khi gia nhập The Yardbirds còn John cũng đã thu âm với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như nhóm Rolling Stones và ca sĩ Lulu. Cuộc tuyển chọn nhân tài diễn ra khá gắt gao vì Jimmy muốn "make it big".

Cả Jimmy và John đều nhắm ca sĩ Paul Rodger của nhóm Free (sau này là ca sĩ chính của Bad Company) nhưng anh này đã có ban nhạc riêng. Và cuộc tuyển chọn kết thúc khi chàng ca sĩ chính của một ban nhạc vô danh Band of Joy tên là Robert Plant dến thử thời vận. Jimmy Page thấy rằng đây là người mình cần tìm nên đã nhận Plant vào nhóm. Nhưng vấn đề còn tồn đọng ở đây là thiếu một tay trống giỏi. Có đến 500 tay trống đến để được thử tài nhưng chẳng ai lọt vào mắt xanh của chàng Jimmy khó tính. Như một sự tình cờ thú vị, tay trống cũ của Band of Joy là John Boham một hôm ghé thăm ban nhạc mới của anh bạn cũ Plant, Khi biết nhóm đang thiếu tay trống, Boham xin diễn thử và sau khi xem Boham biểu diễn, Jimmy nói: "Chúng ta bắt đầu đi tour thôi!".

Lúc đầu nhóm vẫn chưa tìm được cái tên thích hợp để đặt cho nhóm mới của mình nên vẫn tạm gọi nó là New Yardbirds cho tiện. Những con chim mới trong sân chơi nhạc rock này nhận ông bầu cũ của Band of Joy là Peter Grant, một tay du côn thứ thiệt nặng trên 200 kg vào làm ông bầu cho mình. Đối với những fan diên cuồng hoặc những tay nhà báo thì Grant là một mối đe doạ thật sự vì ngoài nhiêm vụ ông bầu, Grant còn kiêm luôn vai vệ sĩ của ban nhạc sẵn sàng lao vào đập các fan hâm mộ dai như đỉa bám một trận ra trò. Còn đối với Led thì Grant được coi là một nhân tố của nhóm vì khả năng quản lý giỏi và lòng trung thành vô hạn. Nhóm dự định đi tour ở Bắc Âu để bắt đầu cho sự nghiệp của mình nhưng không gây được ấn tượng gì lắm sau một số buổi diễn ngắn hạn. Nhóm quay trở về Anh nhưng cũng chẳng khá gì hơn. Một hôm Jimmy hỏi tay trống bạt mạng của The WhoKeith Moon về khả năng "go on" của nhóm. Keith cười châm biếm phán rằng: "It will definitely go on like a fucking lead balloon!". Jimmy về đổi tên nhóm thành Led Zeppelin để chứng tỏ rằng dù cho có gọi bằng tên gì đi nữa thì bốn chàng trai tài năng của nhóm vẫn có thể chứng tỏ tài năng như thường.

Tháng 2/1969, album mang tên nhóm Led Zeppelin lần đầu tiên được phát hành, mở đầu bằng ca khúc “Good Times Bad Times” lập tức đứng thứ 6 ở Anh. Sự trưởng thành của nhóm cũng được thể hiện qua khúc tình ca tuyệt mỹ “Babe, I’m gonna leave you”.

Tháng 6/1969, Led Zeppelin tham gia Bath Festival of Blues. Họ đã chứng tỏ rằng Led Zeppelin là một phần không thể thiếu của thế giới. Tháng 11/1969, phát hành Led Zeppelin II, chiếm vị trí số 1 ở cả Anh và Mỹ, tồn tại trong bảng xếp hạng suốt 138 tuần trên 10 và 98 tuần sau nữa. Tín đồ phát điên với bản “Whole Lotta Love” và nó cũng trở thành bản “thánh ca” của nhóm. Led Zeppelin II cũng trở thành 1 trong số nhóm Rock tiêu biểu của mọi thời đại. Một tháng sau khi album được phát hành, tạp chí Financial Times thông báo Led Zeppelin kiếm được 5 triệu USD chỉ trong phạm vi nước Mỹ. Con số kỉ lục trong 1 thời gian ngắn mà chưa nhóm nhạc nào trước đó đạt được.

Thành công vang dội và nổi danh toàn thế giới(1970-1977)[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1/1970, Led Zeppelin bị từ chối một buổi biểu diễn tại Singapore bởi các nhà chức trách vì bộ tóc dài trong sự luyến tiếc của vô số người hâm mộ. Tháng 2/1970, nhóm tham dự Montreux Jazz Festival. Tháng 8/1970, Led Zeppelin bắt đầu thực hiện tour US bằng việc phát hành đĩa đơn "Living Lovin Maid (She’s Just A Woman)" và "Whole Lotta Love". Thù lao mỗi buổi biểu diễn lên tới hơn 100.000 $. Led Zeppelin được bầu là ban nhạc số 1 tại Anh sau khi The Beatles tan rã và The Rolling Stones đang phải di cư trốn thuế.

Tháng 10/1970, vị trí số 1 lại thuộc về Led Zeppelin với LP Led Zeppelin III, lần này cả ở Anh và Mỹ. Ở album này người ta thấy có một chút thay đổi trong nhạc của Led: nhiều guitar thùng hơn và hát rất thiểu não.

Không để cho tín đồ được nghỉ ngơi, tháng 11/1970, ông bầu Peter Grant lại tung ra LP Led Zeppelin IV, đánh dấu một mốc lịch sử cho dòng heavy metal. Ca khúc “Stairway to Heaven” được coi là tác phẩm kinh điển trong lịch sử nhạc Rock của mọi thời đại. Bản thân Led Zeppelin IV cũng được xếp vào danh sách album vĩ đại nhất mà nhạc rock có thể sản sinh ra được. "Black Dog", bài mở đầu của album cũng được xếp thứ 15 tại Mỹ suốt 3 tuần.

House of The Holy (4/1973), LP thứ 5 cũng không chịu thua kém các bậc tiền bối: Xếp thứ 1 ở cả Anh và Mỹ. “No Quarter” như một lời tâm sự đầy ai oán và nỗi thông cảm với những con người có số phận không may mắn.

Tháng 5/1973, một buổi biểu diễn của nhóm tại sân vận động Tampa đã đạt được mức kỷ lục về doanh thu: 309000$, đánh bại thành tích của The Beatles vào năm 1965 tại sân Shea. Financial Times đưa tin rằng cứ theo cái đà này thì Led Zeppelin sẽ thu về khoảng 30 triệu USD trong vòng nửa năm trong phạm vi nước Mỹ. Nhưng ngay sau đó nhóm bị mất trộm 180.000$ trong khi nghỉ tại khách sạn Drak, New York.

Tháng 3/1975, đĩa đôi Physical Graffiti phát hành với 51.000 vé được bán trong vòng 1 giờ cho 3 buổi biểu diễn tại Earls Court, London. Con gái của tổng thống Mỹ Gerald Ford, Dick Cavertt nói rằng Led Zeppelin là ban nhạc yêu thích nhất của bà. Tháng 8/1975, Robert Plant và vợ bị thương nặng sau một vụ tai nạn xe hơi trên đường đi nghỉ tại Rhodes, Hi Lạp. Sau một năm nghỉ ngơi và an dưỡng, tháng 8/1976, Led Zeppelin phát hành LP Presence, và tất nhiên lại là số 1 ở cả Anh và Mỹ. Tháng 10, LP The Song Remains The Same, soundtrack cuốn phim cùng tên của nhóm cũng lần nữa dành vị trí này. Năm 1977, Led Zeppelin thực hiện tour US lần thứ 3. John Bonham, ông bầu Peter Grant và 1 vệ sĩ bị tóm nhầm vì bị tưởng là dân du đãng.

Cái chết của John Bonham và sự tan rã (1979-1980)[sửa | sửa mã nguồn]

9/1979, LP In Through The Out Door bán được hơn 4 triệu bản tại Mỹ. 12/1979, Robert Plant, John Paul JonesJohn Bonham gia nhập “the all-star line-up” của UNICEF trong chương trình hoà nhạc “Rock for Kampuchia” tại nhà hát Hammersmith Odeon, London.

10/1980, John Bonham qua đời trong khi ngủ sau khi uống quá nhiều rượu. Led Zeppelin tuyên bố chấm dứt mọi hoạt động của nhóm vì “sự ra đi của 1 người bạn”. Khép lại trang sử vẻ vang một ban nhạc của mọi thời đại trong sự nuối tiếc của hàng triệu người trên hành tinh. Led Zeppelin đã để lại gần 10 album với hàng loạt những ca khúc bất hủ. Với lối hát đầy kỹ thuật của Robert Plant, ngón đàn điêu nghệ của Jimmy Page, phong cách độc đáo của John Bonham và sự đa năng của John Paul Jones, Led Zeppelin là sự kết hợp hoàn hảo trong lịch sử âm nhạc nói chung và nhạc Rock nói riêng, xứng đáng là một trong những cánh chim đầu đàn mở màn cho thời đại mới: thời đại heavy metal.

Tháng 5/1988, Led Zeppelin xuất hiện trong buổi kỷ niệm của John Bonham với Jason Bonham, con trai của John, trước hàng trăm triệu người hâm mộ tại New York. Họ đã chơi lại "Stairway to Heaven" và "Whole Lotta Love".

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dave Lewis (2003), Led Zeppelin: Celebration II: The 'Tight But Loose' Files, London: Omnibus Press. ISBN 1-84449-056-4.
  • Dave Lewis and Simon Pallett (1997) Led Zeppelin: The Concert File, London: Omnibus Press. ISBN 0-7119-5307-4.
  • Dave Lewis (1994) The Complete Guide to the Music of Led Zeppelin, London: Omnibus Press, ISBN 0-7119-3528-9.
  • Chris Welch (2006) Led Zeppelin: Dazed and Confused: The Stories Behind Every Song, Thunder's Mouth Press, ISBN 1-56025-818-7.
  • Chris Welch (2002), Peter Grant: The Man Who Led Zeppelin, London: Omnibus Press. ISBN 0-7119-9195-2.
  • Richard Cole and Richard Trubo (1992), Stairway to Heaven: Led Zeppelin Uncensored, New York: HarperCollins, ISBN 0-06-018323-3.
  • Stephen Davis (1985) Hammer of the Gods: The Led Zeppelin Saga, New York: William Morrow & Co., ISBN 0-688-04507-3.
  • Luis Rey (1997) Led Zeppelin Live: An Illustrated Exploration of Underground Tapes, Ontario: The Hot Wacks Press. ISBN 4ISBN 0-9698080-7-0.
  • Susan Fast (2001) In the Houses of the Holy: Led Zeppelin and the Power of Rock Music, Oxford University Press, ISBN 0-19-514723-5.
  • The Rolling Stone Encyclopedia of Rock and Roll (2001 edition).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]